Một số ý kiến về văn hóa Đông Nam Á mang tính thống nhất trong đa dạng
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Văn Sơn
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
MANG TÍNH THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG
SOME OPINIONS ABOUT SOUTHEAST ASIAN CULTURE BEING UNIFIED IN DIVERSITY
QUẢNG VĂN SƠN
TÓM TẮT: Với những thành tựu nghiên cứu khoa học ngày càng được tiếp cận theo lối liên
ngành/đa ngành. Đông Nam Á: từ góc độ tiếp cận văn hóa cổ, khảo cổ học, văn hóa học, văn học
dân gian… để đưa đến tổng hợp phục dựng bức tranh văn hóa vật chất thời tiền sử - sơ sử. Trước
khi có sự tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ, cư dân Đông Nam Á đã tạo lập cho mình một
nền tảng văn hóa riêng. Đó chính là nền văn hóa bản địa phát triển, khi tiếp nhận những hạt giống
văn minh tốt từ bên ngoài đã tạo nên một vườn văn hóa đặc sắc, đa dạng như ngày hôm nay.
Từ khóa: Đông Nam Á; lịch sử, văn hóa Ấn Độ; văn hóa Trung Quốc; thống nhất; đa dạng.
ABSTRACT: The latest scholarly studies have increasingly relied upon interdisciplinary and
multidisciplinary research methods to consistently supplement. These studies have been completed
by experts inside and outside the region. The puzzle of Southeast Asia from the perspective of
ancient cultural studies, archeology, cultural studies and folk literature – can be reassembled to
give a more complete picture of the prehistoric and historic epochs of human history. Priored to
contact with the Chinese culture and Indian, Southeast Asian residents had already created a local
culture of their own. This was a culture of indigenous development. This indigenous culture then
blossomed into a diverse garden, after receiving seeds of influence from outside civilizations.
Key words: Southeast Asia; history; Indian culture; Chinese culture; unity; diversity.
nghiên cứu sẽ có những quan niệm khác nhau,
có người sẽ cảm nhận ở góc độ một Đông Nam
Á về mặt chính trị, lịch sử và ở thời điểm hiện
tại, bao gồm những thể chế, những nhà nước đi
theo đường lối phát triển đất nước như thế nào?
Hay Đông Nam Á về địa lý, nằm ở đâu trên bản
đồ thế giới, bản đồ địa lý tự nhiên của châu Á…
Hay Đông Nam Á về văn hóa, những nền tảng
văn hóa truyền thống và trong thời kỳ khu vực
hóa, quốc tế hóa hiện nay là như thế nào, bức
tranh văn hóa đó được tạo nên từ những gam
màu trong bức tranh tổng thể đa sắc gắn với
văn hóa tộc người sở tại ra sao? Hoặc nghiên
cứu Đông Nam Á thời kỳ tiền sử, Đông Nam Á
ở thời kỳ hiện đại… Cũng có người xem xét
Đông Nam Á ở tính đa dạng về địa hình như là
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đông Nam Á, một bộ phận, một khu vực ở
phần đông nam châu Á. Hiện nay, khu vực này
gồm 11 quốc gia và vùng lãnh thổ, đang hợp
tác chặt chẽ và ngày càng tạo được vị thế của
mình trên bình diện khu vực và quốc tế (thông
qua Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN,
thành lập ngày 08-8-1967). Tính chất gắn kết -
liên kết tiến dần tới sự đồng thuận giữa các
quốc gia này đã thực sự đạt được trong những
năm gần đây. Đó là nền tảng và là động lực cho
sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tạo đà phát triển
trên nhiều lĩnh vực, cho mỗi quốc gia trong khu
vực, một thực thể mà gần đây đã được ví như
“trái tim của châu Á năng động” [3]. Khi nhắc
đến khái niệm Đông Nam Á [3, tr.3], các nhà
95
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 28, Tháng 7 – 2021
sự tồn tại của một Đông Nam Á lục địa (hoặc
bán đảo) và một Đông Nam Á hải đảo.
xã hội [3, tr.33]. Với cả 2 phần lục địa và hải
đảo, Đông Nam Á nên được quan niệm là “thực
thể thống nhất” và riêng biệt trong khung cảnh
châu lục, đối sánh giữa 2 khối dân số và văn
minh khổng lồ của nhân loại về 2 phía Bắc
phương và Tây phương (Trung Quốc và Ấn
Độ). Đông Nam Á - với những nhận thức lớn
được rút ra trong quá khứ và hiện tại, từ góc độ
tiếp cận văn hóa cổ, đặc biệt là việc vận dụng
những thành tựu nghiên cứu trong khảo cổ học,
văn hóa học, văn học dân gian… đưa đến tổng
hợp phục dựng bức tranh văn hóa vật chất thời
tiền sử - sơ sử. Sự biến chuyển nhận định về một
Đông Nam Á trì trệ, lạc hậu, đến một Đông Nam
Á phát triển và phát tán, từ “một quá khứ bị lãng
quên” đến một Đông Nam Á năng động, có vai
trò lớn hơn của - thời kỳ hội nhập ngày càng nhận
được nhiều sự quan tâm của giới học thuật sử
học - khảo cổ học, văn hóa học… trên thế giới.
2. NỘI DUNG
Điều đáng lưu ý khi nghiên cứu về bức
khảm văn hóa khu vực Đông Nam Á, nhiều nhà
nghiên cứu người nước ngoài và các học giả
người Việt, đều nhận thấy những biểu hiện văn
hóa được du nhập vào từ bên ngoài trong quá
trình lịch sử. Đông Nam Á với tư cách như một
thực thể khu vực văn hóa có quá trình hình
thành và phát triển trong mối quan hệ với những
nền văn minh lớn trên một không gian địa lý
nhất định và xuyên suốt theo chiều dài lịch sử -
văn minh Trung Quốc và văn minh Ấn Độ [1],
[5]. Sự ảnh hưởng, sự tác động từ hai nền văn
minh lớn của nhân loại này là điều không thể
bàn cãi. Với những thành tựu nghiên cứu khoa
học ngày càng được tiếp cận theo lối liên
ngành/đa ngành, không ngừng được bổ sung và
làm phong phú bởi các chuyên gia trong và
ngoài khu vực, bản sắc văn hóa khu vực Đông
Nam Á đã được làm rõ. Có thể thấy rằng, trước
khi có sự tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc và
Ấn Độ, các cư dân Đông Nam Á đã tạo lập cho
mình một nền tảng văn hóa riêng, đó chính là
nền văn hóa phát triển tự thân, ngày nay được
gọi là văn hóa bản địa để rồi khi tiếp nhận
những hạt giống văn minh tốt từ bên ngoài đã
tạo nên một vườn văn hóa đặc sắc, đa dạng như
ngày hôm nay [1], [3]. Để có một cách nhìn
mang tính biện chứng trong việc đánh giá đúng
vai trò, vị thế cửa ngõ con đường giao lưu
Đông - Tây, cần quan niệm về Đông Nam Á
như một thực thể “thống nhất trong đa dạng”.
Để hiểu rõ về nhận định này cần có sự nghiên
cứu liên ngành/đa ngành về khu vực trên các
mặt địa - chính trị, địa - lịch sử, địa - văn hóa,
địa - kinh tế, địa - sinh thái, địa - nhân văn…
qua đó phác dựng nên bức tranh về một không
gian tổng thể, lọc bỏ các điểm dị biệt, tiểu tiết
để tiến tới xây dựng mô hình về các thiết chế
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, gia
đình… trên khuôn viên địa lý môi trường với
những mối tương liên giữa con người với tự nhiên,
2.1. Đông Nam Á - những vấn đề chung
2.1.1. Đôi nét về điều kiện tự nhiên khu vực
Đông Nam Á
Đông Nam Á ngày nay là một bộ phận
cùng với khu vực Nam Á (gồm đồng bằng sông
Ấn - sông Hằng, bán đảo Indostan, Sri Lanka)
hợp thành 1 trong 10 miền địa lý tự nhiên của
liên châu lục - lục địa Á - Âu, tồn tại như một
thực thể địa - sinh thái riêng biệt, đa dạng sinh
học giữa chí tuyến Bắc (230 vĩ bắc) và xích đạo.
Đông Nam Á có diện tích đất liền và biển - đảo
rộng khoảng gần 4.5 triệu km2 [7, tr.37], trải rộng
trên hệ tọa độ quy chiếu theo chiều Bắc - Nam (theo
vĩ độ) khoảng từ 280 Vĩ Bắc đến 150 Vĩ Nam và
theo chiều Đông - Tây (theo kinh độ) từ 920 đến
1400 Kinh Đông. Năm 2020, dân số khu vực
khoảng 671.624.000 triệu người, trong đó hơn
Nam Á là tập hợp gồm quần thể bán đảo, quần
đảo, đảo riêng lẻ nằm trong vùng biển chạy dài
từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương, là chỗ
96
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Văn Sơn
khu vực được chia ra làm hai nhómchính: Myanmar, thuật bản xứ” [7, tr.38], là ngã tư đường, nằm ở
Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở
Âu, nhưng thể hiện nhiều tính chất bán đảo),
đảo thuộc về vành đai núi lửa Thái Bình Dương
và là một trong những khu vực có hoạt động
núi lửa mạnh nhất thế giới. Xét tổng thể trên
bình diện châu lục, Đông Nam Á là bộ phận
cực Nam của tầng nền châu Á với nền tảng lục
địa cổ nhất Paleozoi, từ vận động Tân kiến tạo
Hymalaya cho đến sự hình thành tầng nền Đông
Dương (khối Kon Tum) - cốt lõi của Đông Nam
Á lục địa. Vận động tạo sơn có tuổi Trung Sinh
hình thành thềm Sunda cổ (Sundaland) tồn tại
đến cuối Thế Pleistocene muộn (khoảng 20.000
năm cách ngày nay) và bị biển tiến nhấn chìm
tới 2/5 diện tích, tách rời các đảo lớn như
Borneo, Sumatra, Java và các đảo lớn nhỏ khác
[7]. Về khí hậu, Đông Nam Á được xem là khí
hậu xích đạo - Á xích đạo, nhiệt đới nóng ẩm
hoặc cũng được gọi là nhiệt đới ẩm gió mùa,
hình thành các thảm rừng nhiệt đới thường xanh
với sự đa dạng sinh học cao.
vị thế án ngữ con đường giao lưu thương mại,
con đường hàng hải nối liền Thái Bình Dương
với Ấn Độ Dương. Nó là cầu nối giữa Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc với Ấn Độ, Tây Á,
châu Phi, châu Âu - Địa Trung Hải.
2.1.2. Tên gọi Đông Nam Á và đôi nét về tình
hình nghiên cứu
Địa danh Đông Nam Á (Southeast Asia) xuất
hiện khá muộn, nó được nhìn nhận trong lịch sử
hiện đại từ nửa sau thế kỷ XX [3, tr.57-58]. Tên
gọi này được các nhà nghiên cứu Hà Lan, Anh,
Hoa Kỳ đưa ra trong Đệ Nhị thế chiến, chính thức
đi vào lịch sử như là khu vực chính trị, địa quân
sự quan trọng khi Anh và Hoa Kỳ, nhất trí thành
lập Bộ chỉ huytối cao quân Đồng Minh ở Đông Nam
Á (Hội nghị Québec tháng 8-1943). Đông Nam Á
bị lôi cuốn vào chiến tranh như là một lực lượng
thuộc địa của các đế quốc Anh, Hà Lan, Pháp,
Mỹ [6], Đông Nam Á đã xuất hiện trên bản đồ
chính trị thế giới như một khu vực chính trị có
những nét tương đồng rõ rệt [3, tr.57-58].
Những phát kiến địa lý phát xuất từ những
nhà hàng hải châu Âu vào khoảng thế kỷ XV-XVI,
trên những hải trình dài mà họ đã trải qua, vùng
đất này như là những viễn xứ, vùng đất bán lục
địa và hải đảo trong cương vực rộng lớn của thế
giới bán đảo Ấn Độ, có khi được miêu tả gồm
Cực Đông và Cực Nam châu Á với tên gọi là Viễn
Đông. Khu vực này còn được nhìn nhận bên cạnh
nền văn minh Trung Quốc và được gọi là Đông
Dương hay Nam Dương… Từ cuối thế kỷ XIX,
Các nhà khoa học nhận định: Biển Đông
như là ranh giới tự nhiên ngăn cách 2 thế giới
đất liền và hải đảo Đông Nam Á. Đông Nam Á
lục địa với diện tích khoảng 1.8 triệu km2 thường
được tính từ eo Kra của bán đảo Malacca trở
lên. Đông Nam Á hải đảo là hệ thống các đảo
lớn nhỏ từ Sumatra, Borneo, Java vòng qua phía
Đông và hướng Bắc tới Sulawesi, quần đảo Molucca, các học giả người Áo đã đặt tên cho khu vực này
lên Philippines. Những nước như Philippin là tập hợp
gồm khoảng 7.000 hòn đảo và đặc biệt Inđônesia
được gọi là thế giới đảo với khoảng 13.000 hòn
đảo lớn nhỏ. Đông Nam Á cũng là khu vực có
nguồn tài nguyên phong phú, trữ lượng lớn như
các loại khoáng sản thiếc, sắt, nhôm, mangan, nickel,
crom, kẽm, chì, vàng, hồng ngọc, dầu mỏ…
Xét về vị trí địa lý trong khung cảnh châu lục,
là “Sudost Asien” (Đông Nam Á), nó trở thành một
thực thể địa - sinh thái riêng biệt, khác với Đông
Bắc Á và Tây Nam Á [7, tr.36].
Tình hình nghiên cứu khu vực Đông Nam
Á khởi phát phải kể đến Trung Quốc, một phần
khu vực phía Nam của Đế chế rộng lớn này cũng
được nhắc đến nhiều, đôi lúc lại mang hàm nghĩa
không tốt, khi mà khu vực này bị coi là một trong
Đông Nam Á được xem là “Ngã ba đường (Carrefour) Tứ di (Nam di) trên con đường chinh phục thiên
của các tộc người, các nền văn minh và nghệ hạ của các triều đại phong kiến của họ và đây là
97
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 28, Tháng 7 – 2021
nguồn tư liệu quý để nghiên cứu về khu vực Đông
Nam Á. Nhật Bản cũng đã có những nghiên cứu
của riêng mình về khu vực Đông Nam Á, nhất là
nghiên cứu mối quan hệ bang giao trong lĩnh
vực mậu dịch từ khoảng đầu thế kỷ XVIII trở đi.
Về sau, việc nghiên cứu này để phục vụ mục đích
xâm chiếm thuộc địa là chính và nó thể hiện rõ
là một khu vực có vị trí chiến lược rất quan trọng.
Những người phương Tây (Anh, Pháp, Hà Lan…),
trên hải trình tìm kiếm và xâm chiếm các nguồn
lợi cho mình, đã ra sức nghiên cứu các dân tộc
bản địa nơi đây. Xuất phát từ hệ tư tưởng riêng,
dựa trên những cảm thức và hệ quy chiếu riêng
của châu Âu, các nhà nghiên cứu mang nhiều
chức danh này (có thể là nhà thám hiểm, quan
chức, sĩ quan quân đội, linh mục truyền đạo,
nhà tự nhiên học, sinh thái học, dân tộc học,
ngôn ngữ học…) [2], đã chưa hiểu thật đúng về
những cư dân bản địa. Trong tiến trình thực dân
hóa khu vực này, thực dân - vốn mang tư tưởng
dân tộc văn minh châu Âu đã bác bỏ những
sáng tạo văn hóa của cư dân bản địa trong lịch
sử. Đôi khi họ đưa ra những kết luận không
chính xác nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị.
Việc nghiên cứu khu vực Đông Nam Á từ phương
Tây, có thể kể những người đến từ Pháp, về sau
có Liên Xô cũ và Hoa Kỳ. Nhìn chung, các học
giả Tây Âu quan tâm nhiều hơn về lịch sử văn
hoá Đông Nam Á [3, tr.43], người Nga và người
Mỹ quan tâm nhiều đến chính trị, nhất là khi
đặt Đông Nam Á như là một khu vực có vị trí địa -
chính trị chiến lược trong sự tranh chấp ảnh
hưởng của hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư
bản chủ nghĩa.
vực đã giành được độc lập dân tộc, từng bước
gia nhập vào tổ chức khu vực ASEAN, nghiên
cứu về Đông Nam Á của các quốc gia trong
khu vực mới bắt đầu khởi sắc.
2.2. Văn hóa Đông Nam Á mang tính thống
nhất trong đa dạng
2.2.1. Đông Nam Á cổ đại - miền địa lý thống
nhất trong đa dạng
Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa,
“biên giới chính trị” hay “biên giới hành chính”
của Đông Nam Á hiện đại không hoàn toàn trùng
khớp với “biên giới khoa học” của thực thể Đông
Nam Á vốn được hình thành và phát triển trên cơ
tầng các yếu tố văn hóa nội sinh thời kỳ tiền sử.
Đông Nam Á hiện đại (về mặt hành chính - chính
trị) có phạm vi hẹp hơn nhiều so với không gian
văn hóa Đông Nam Á cổ đại đã từng được biết
đến trong lịch sử. Nói cách khác, không gian
văn hóa mang đậm yếu tố Đông Nam Á không
những bao gồm các quốc gia Đông Nam Á hiện
nay mà còn phải thêm vào phần Nam Trung Hoa
(bao gồm cả Đài Loan), một phần đông bắc Ấn Độ
(vùng Assam). Cụ thể đường biên giới khoa học
của Đông Nam Á, về phía Bắc đến Trường Giang
(Dương Tử giang) tính từ dãy Himalaya bao
trọn bờ nam (hữu ngạn) sông Dương Tử trải rộng
về xích đạo; về phía Tây là khu vực giáp với
phần đông bắc Ấn Độ và vùng biển Ấn Độ
Dương; phía Đông và phía Nam là một thế giới
đảo tiếp giáp với châu Đại Dương [1], [3], [10].
Tính thống nhất của thực thể Đông Nam Á
cổ đại được định tính ngay từ thời băng hà
trong kỷ Đệ Tứ, lúc cầu lục địa (Sundaland)
hình thành trên biển Đông trong chu kỳ biển
thoái (trong thế Pleistocene) tạo điều kiện cho
sự giao lưu các luồng di cư động - thực vật,
cũng là con đường di cư của bầy người nguyên
thủy từ các dãy núi và dòng chảy ở nam Trung
Quốc, bắc Việt Nam, tây Miến Điện và bắc
Thái Lan chinh phục vùng đất từ Mã lay,
Philippines xuống Sumatra, Java, Timor... và
ngược lại. Thời kỳ sau, hoạt động biển tiến cắt
đứt cây cầu Sunda (khoảng đầu thế Toàn Tân -
Mặc dù là những nước láng giềng, nhưng
những chủ nhân của khu vực Đông Nam Á trong
lịch sử, lại hiểu biết về nhau không nhiều. Sự ảnh
hưởng theo các sắc thái văn hóa Ấn Độ và
Trung Quốc, sự thống trị của thực dân phương
Tây trong hàng thế kỷ là một trong những trở
ngại cho mối giao lưu, liên hệ giữa các cộng
đồng người. Trong những thập niên cuối thế kỷ
XX đầu thế kỷ XXI, khi các quốc gia trong khu
98
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Văn Sơn
Holocene, cách nay trên dưới 10.000 năm), người
cổ đại vẫn có thể tiếp tục con đường này nhờ
những tiến bộ trong kỹ thuật đi biển. “quan hệ
giao lưu văn hóa - tín ngưỡng, chuyển giao kỹ
thuật, lan truyền những cảm hứng về nghệ thuật
lại được họ tiếp tục và tăng cường suốt thời tiền
sử - sơ sử từ trình độ hàng hải nguyên thủy cho
đến văn minh” [7, tr.38]. Đó là hợp thể văn hóa
- văn minh từ miền núi - trung du - đồng bằng
(chân núi, trước núi) cho đến biển đảo.
ở đây có thể lên đến hơn 1 vạn năm TCN [9].
Đông Nam Á đã là một trong những nơi có cuộc
cách mạng nông nghiệp sớm nhất trên thế giới.
Đến thời đại đồ đồng, trong điều kiện của vùng
nhiệt đới, cư dân Đông Nam Á đã bước sang kinh
tế trồng lúa khô ở nương rẫy và lúa nước ở vùng
thung lũng hẹp châu thổ. Cây lúa đầu tiên được
thuần dưỡng ở vùng thung lũng theo chân núi dần
dần được chuyển xuống vùng châu thổ thích nghi
với vùng ngập nước. Cùng với việc trồng lúa nước,
người ta đã thuần dưỡng trâu bò làm sức kéo,
xuất hiện các nghề thủ công, đặc biệt là nghề sông,
biển. Từ đó, nông nghiệp lúa nước đã trở thành một
cơ sở quan trọng của nền văn minh khi vực. Đó
là một nền văn minh mang đủ các sắc thái của những
nền văn minh đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa
rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp...
cơ sở chung của nền văn minh này là nông nghiệp
trồng lúa nước, văn hóa xóm làng [8, tr.153].
2.2.3. Đông Nam Á với đặc trưng cư dân đi biển
Do vị trí địa lý nằm án ngữ trên con đường
Về ngôn ngữ, Đông Nam Á cổ đại cũng là
cương vực phân bố và sáng tạo của các cộng
đồng người nói tiếng thuộc các ngữ hệ lớn nhất
và có quan hệ nguồn gốc Austric với nhau như
Nam Á (Môn - Khmer, Việt - Mường, Tày - Thái,
Lào, Tạng - Miến) và Nam Đảo.
2.2.2. Đông Nam Á là cái nôi của văn minh
lúa nước
Đông Nam Á được xác định là một khu
vực văn hóa lúa nước với một phức thể gồm 3
yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn
hóa biển, yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng
đóng vai trò chủ đạo. Lịch sử ở đây đã diễn ra
những quá trình hội tụ - phát tán dẫn đến những
phức thể văn hóa chung cho toàn vùng, bước
hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước, đồng thời
cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau có tính dân
tộc hoặc mang dấu ấn địa phương.
Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi
đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực
này là “ống thông gió” hay “ngã tư đường”.
Việc đi lại bằng thuyền ở vùng Đông Nam
Cư dân Đông Nam Á có những nét chung
thống nhất về mặt văn hóa, vì cư dân ở đây có
chung một nền tảng văn hóa Đông Nam Á, lấy
sản xuất nông nghiệp lúa nước làm phương
thức hoạt động kinh tế chính. Đông Nam Á
được coi là “cái nôi” của cây lúa nước và là
một trong 5 trung tâm cây trồng lớn trên thế
ở đây đã thuần hóa nhiều giống lúa, thực vật
khác nhau, xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai
với các loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây
có củ và bầu bí, các cây họ đậu ở vùng thung
lũng chân núi. Có nhà nghiên cứu còn cho rằng
chủ nhân văn hóa Hòa Bình là người biết trồng
trọt đầu tiên trên thế giới; niên đại nông nghiệp
Á đã có từ thời xa xưa, cư dân Nam Á đã biết
đóng thuyền bè mảng và thuyền đi biển rất
sớm. Dựa trên các tài liệu khảo cổ học, W.
Solheime đã nhận định, kỹ thuật đi biển xuất
8000-9000 năm trước. Kỹ thuật hàng hải cổ đạt
đến đỉnh cao vào khoảng thế kỷ V TCN, khi
những hình thuyền cỡ dáng to lớn, kiểu cong
mũi, cong lái được khắc trên nhiều trống đồng
Đông Sơn. Các thư tịch cổ Trung Quốc từ thế
kỷ III cũng xác nhận các sư tăng Trung Hoa
sang Ấn Độ đều đi trên những thuyền gọi là
“Côn Luân bản”, dài đến 50m, trọng tải đến
600 tấn, có thể trở hàng trăm người, có buồm
99
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 28, Tháng 7 – 2021
lớn, buồm con... của các nước thương nghiệp
Đông Nam Á. Những con thuyền này đều có
cột, giương buồm đã vượt khơi nối liền Đông
Nam Á với Trung Quốc và Ấn Độ, chở người
và hàng hóa, từ đầu Công nguyên cho đến thế
kỷ XV-XVI. Trong cuộc hành trình này, một số
thuyền bị đắm, P.Y. Manguin đưa ra một danh
nước phát hiện và nghiên cứu trong đó có 2
nền tảng chủ đạo đó là tinh thần dân tộc, tính
dân chủ và cởi mở của cư dân Đông Nam Á. Sự
phỏng mô hình Trung Hoa được đẩy mạnh
trong thời kỳ độc lập - tự chủ. Các triều đại của
nhà nước Đại Việt, nhất là từ cuối Trần - đầu Lê
đã chọn Nho giáo, cụ thể là Tống Nho [3, tr.209]
làm chỗ dựa tinh thần. Điều nghịch lý là càng
mong muốn xây dựng đất nước hùng mạnh để
tránh hiểm họa bị xâm lược và đồng hóa, các
có niên đại từ thế kỷ III-V; 3 thuyền thuộc thế kỷ
V-VI và những thuyền khác thuộc thế kỷ VII-XIV.
hình thuyền buồm lớn, nhiều mái chèo, gần giống
Việc buôn bán qua đường biển với Đông Nam
Á đã khá nhộn nhịp từ thế kỷ II. Đến thế kỷ VII,
này mua hương liệu, gia vị. Không phải ngẫu
nhiên mà ở đây đã có mặt những nhà địa lý hay
du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả
phương Đông và phương Tây. Trong suốt chiều
dài của cuộc hàng trình nổi lên những nhà thám
ghi chép và để lại những tài liệu quý cho đời
sau [8, tr.154-155].
mô hình Trung Hoa. Khác với Trung Hoa, văn
hóa Ấn Độ xâm nhập vào khu vực Đông Nam
Á không bằng cách cưỡng bức, bằng sự đô hộ
mà bằng con đường hòa bình. Văn hóa Ấn Độ
ở Đông Nam Á qua một quá trình tiêm nhiễm,
tiếp nhận trong xã hội các dân tộc bản địa. Khi
người Ấn Độ đến đây, họ tìm thấy được trước
mặt họ không phải là những người man rợ ngu
dốt, mà là những cộng đồng xã hội có tổ chức,
với một nền văn minh đã phát triển cao, không
phải là không có những nét chung với nền văn
minh của họ [4, tr.317-319].
2) Tinh thần: giữ gìn và bảo lưu những
phong tục, tập quán cổ truyền. Tiếp nhận
những tinh hoa văn hóa phù hợp với phong tục,
tập quán và lối sống riêng. Sự tiếp nhận ở đây
chủ yếu là từ tôn giáo (Hindu, Hồi giáo, Nho
giáo và Phật giáo). Hindu giáo và Phật giáo
được truyền bá vào Đông Nam Á ngay từ
những thế kỷ đầu Công nguyên và phát huy ảnh
hưởng tới đời sống văn hóa tinh thần của các
dân tộc Đông Nam Á. Từ thế kỷ XIII, dòng
Phật giáo Tiểu thừa được phổ biến ở nhiều
nước Đông Nam Á. Đền tháp cũ hoang vắng,
các chùa mới mọc lên. Văn học Phật giáo gồm
các tích truyện gắn với sự tích lịch sử Phật giáo
phát triển mạnh, sự tiếp thu Phật giáo ở mỗi nơi
cũng mang màu sắc đậm nhạt khác nhau và theo
từng cách thức riêng. Khoảng thế kỷ XII-XIII,
Hồi giáo du nhập vào Đông Nam Á theo các
thương nhân Ả-Rập và Ấn Độ, trước tiên là ở
một số nước hải đảo. Đến cuối thế kỷ XIV đầu
2.2.4. Đông Nam Á tiếp thu văn hóa Ấn và Hoa
Khi các nước Đông Nam Á xây dựng các
quốc gia cổ đại họ đã tiếp nhận mô hình văn hóa
Hán và văn hóa Ấn Độ một cách chủ động và chọn
lọc, thể hiện qua hai phương diện [4, tr.9-10]:
1) Tổ chức bộ máy nhà nước: hầu hết các
nhà lãnh đạo ở đây đều muốn tìm đến việc ứng
dụng mô hình tổ chức nhà nước đã khá hoàn
thiện từ Ấn Độ, Trung Quốc, cùng với mô hình
đó là sự mô phỏng thiết chế xã hội, chủ yếu là
chế độ đẳng cấp. Tất nhiên, sự mô phỏng này
chỉ về mặt hình thức và tùy tình hình cụ thể của
mỗi nhà nước, sự mô phỏng ở mức độ đậm nhạt
khác nhau. Điểm cần nhấn mạnh ở đây là về mặt
nội dung, các nhà nước vẫn được xây dựng trên
100
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Quảng Văn Sơn
thế kỷ XV, hàng loạt tiểu quốc Hồi giáo ra đời
ở Đông Nam Á hải đảo và bán đảo Mã Lai.
Cư dân Đông Nam Á tiếp thu và sử dụng
văn tự và văn học rất sớm thông qua Phạn ngữ,
trên cơ sở đó, các dân tộc Đông Nam Á đã sáng
tạo ra chữ viết riêng cho dân tộc mình (người
Chăm với bia Đông Yên Châu; Việt Nam thế
kỷ thứ IV; Khmer đầu thế kỷ VII; Mãi Lai tìm
thấy ở đảo Sumatra có niên đại 683; chữ Thái
cổ đầu thế kỷ XIII…). Văn học gồm văn học
dân gian và văn học viết (ở Việt Nam, một số
từ chỉ cây cối (như “mít”, “lài”), và một loạt từ
thuộc về Phật giáo (“Bụt”, “bồ đề”, “bồ tát”,
“chùa”, “tháp”, “tăng già”…) có nguồn gốc từ
Ấn Độ [1, tr.47]. Kiến trúc, điêu khắc của cư
dân Đông Nam Á cũng chịu ảnh hưởng từ
Trung Hoa và Ấn Độ như Thánh địa Mỹ Sơn,
kinh thành Huế, chùa Một cột (Việt Nam) thế
kỷ IV-XVI, Borobudur (Indonesia) thế kỷ thứ
IX, Angkor (Cambodia) thế kỷ IX-XII, chùa
Shwedagon (Myanma) thế kỷ XIV.
riêng của mỗi dân tộc, bên cạnh những nét chung
do mối quan hệ từ lâu trên nhiều lĩnh vực. Dù có
văn hóa Ấn Độ, nền văn hóa Đông Nam Á vẫn
mang tính riêng biệt độc đáo. Chính cuộc tiếp
xúc văn hóa này đã làm cho các dân tộc ở đây
định hình và phát triển hơn với sự ra đời của
các quốc gia cổ đại, điều này đã làm cho bản sắc
văn hóa Đông Nam Á thêm đa dạng và phong phú.
Đông Nam Á đã hấp thụ sâu sắc tinh thần của
Phật giáo Ấn Độ, nền tôn giáo mà trong bản
chất, là một triết học đạo đức, về cơ bản nhấn
mạnh những cách nghĩ và cách sống hơn là những
hệ thống kinh điển, nghi lễ, tín điều chặt chẽ.
Bên cạnh tín ngưỡng bản địa là các tôn giáo
hiện đại như Hindu giáo, Phật giáo; kiến trúc -
điêu khắc mang dấu ấn của tư tưởng triết học
Ấn Độ, văn học nghệ thuật cũng tiếp nhận
những yếu tố của văn hóa Ấn Độ.
Với những bằng chứng xác thực về nhiều
lĩnh vực, Đông Nam Á đã cho thế giới thấy được
một nền văn hóa huy hoàng trong quá khứ. Văn
hóa truyền thống không chỉ là cội nguồn, là
động lực mà còn là sợi dây kết nối vững chắc
từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Các dân
tộc Đông Nam Á có một sức sống mãnh liệt,
một vốn văn hóa cổ xưa. Vì vậy, sự tiếp biến
giao lưu với những nền văn hóa ngoài khu vực
đã không làm mất đi bản chất của con người
Đông Nam Á mà càng làm tăng thêm sự phong
phú, đa dạng của nó. Trên cơ tầng đó, văn hóa
các quốc gia Đông Nam Á do những điều kiện
môi trường, hoàn cảnh lịch sử, chọn lọc, tiếp
biến một cách sáng tạo trước ảnh hưởng sâu sắc
văn hóa Ấn Độ đã tạo cho mình những nền văn
hóa riêng, rất phong phú và đặc sắc trong một
tổng thể khu vực Đông Nam Á thống nhất
trong đa dạng.
3. KẾT LUẬN
Đặc trưng nổi bật của văn hóa Đông Nam
Á là “Thống nhất trong đa dạng” và quá trình
hội tụ bắt nguồn từ nhiều trung tâm khác nhau
cho nên chúng không mang tính đơn tuyến
trong sự biệt lập mà là đa tuyến trong sự tiếp
xúc đan xen nhiều chiều, tạo nên những đường
đồng quy, những cấu trúc văn hóa - tộc người
đa thành phần được vận hành theo những cơ
chế linh hoạt mà đồng nhất. Kết quả là tính đa
dạng ngày càng được mở rộng trong không
gian, tính đồng nhất được tiềm ẩn trong thời
gian và sự tác động qua lại giữa chúng tạo
thành một cơ chế tổng hợp quy định sự phát
triển của mỗi nước và của toàn khu vực [3].
Đông Nam Á là khu vực văn hóa, văn
minh lúa nước lâu đời, có nguồn gốc và bản sắc
101
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 28, Tháng 7 – 2021
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Mai Ngọc Chừ (1998), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
[2] Ngô Văn Doanh và Vũ Văn Thiện (1996), Những phong tục lạ ở Đông Nam Á, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội.
[3] Phạm Đức Dương và Trần Thị Thu Lương (2001), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[4] Nguyễn Tấn Đắc (2003), Văn hóa Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia ThànhphốHồChíMinh.
[5] Nguyễn Quốc Lộc (Chủ biên, 1997), Đông Nam Á ngày nay, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh.
[6] Trần Thị Mai (2007), Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh.
[7] Phạm Đức Mạnh (2007), Lịch sử văn hóa vật chất thời tiền sử Đông Nam Á – một thế kỷ điền
dã và liên hiệp nghiên cứu, tập 10, Phát triển Khoa học và Công nghệ.
[8] Vũ Dương Ninh (2005), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9] Nguyễn Phan Thọ (1999), Nghệ thuật truyền thống Đông Nam Á, NxbChínhtrịQuốcgia, Hà Nội.
[10] Viện nghiên cứu Đông Nam Á (2000), Nghệ thuật Đông Nam Á, Nxb Lao động, Hà Nội.
[11] Đông Nam Á, http://vi.wikipedia.org/wiki/Đông_Nam_Á
Ngày nhận bài: 03-6-2021. Ngày biên tập xong: 15-7-2021. Duyệt đăng: 24-7-2021
102
Bạn đang xem tài liệu "Một số ý kiến về văn hóa Đông Nam Á mang tính thống nhất trong đa dạng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_y_kien_ve_van_hoa_dong_nam_a_mang_tinh_thong_nhat_tro.pdf

