Những lớp đắp bồi lịch sử và văn hóa tại một cửa biển: Nghiên cứu trường hợp cửa biển Kỳ Anh, Hà Tĩnh

Những lớp đắp bồi lịch sử và văn hóa tại một cửa biển:  
Nghiên cứu trường hợp cửa biển Kỳ Anh, Hà Tĩnh  
Trần Thị An(*)  
Tóm tắt: Bài viết sử dụng các cách tiếp cận nhân học về không gian, nơi chốn và định  
vị văn hóa để phân tích một trường hợp của cửa biển Việt Nam, cửa biển Kỳ Anh ở tỉnh  
Hà Tĩnh, với giả thuyết là: vùng văn hóa (cultural area) có ý nghĩa quan trọng trong việc  
nhận diện văn hóa của một phạm vi rộng lớn hơn nhưng nó chỉ cung cấp một cái nhìn  
tĩnh tại (và có thể là định kiến); trong khi đó, không gian văn hóa (cultural space) chỉ ra  
những đặc điểm của các phạm vi hẹp hơn nhưng vẫn mang tính định tính; và vì vậy, nơi  
chốn văn hóa (cultural place) mới cung cấp một cái nhìn động tại địa điểm của các thực  
hành văn hóa với tất cả nét riêng và những biến đổi qua dâu bể thời gian.  
Từ khóa: Cửa biển, Vùng văn hóa, Không gian văn hóa, Kỳ Anh, Hà Tĩnh  
Abstract: The paper applies anthropological approaches to cultural space, place and  
positioning for a case study of Ky Anh estuary in Ha Tinh province on the assumption that  
while cultural area only provides a static (and probably prejudiced) viewpoint despite  
its significance in identifying the culture on a broader scale, cultural space connotes  
narrower yet qualitative ones. Therefore, only cultural place can provide a dynamic  
insight of the location where cultural practices take place ecompassing all its distinctions  
and transformations over time.  
Keywords: Estuary, Cultural Area, Cultural Space, Ky Anh District, Ha Tinh Province  
1. Không gian, nơi chốn và định vị văn  
hóa: Một số vấn đề lý thuyết1  
tinh thần, các lý thuyết gia đã xác lập hẳn  
một hướng lý thuyết, đó là nhân học về  
không gian và nơi chốn (anthropology of  
space and place). Tương liên với hướng lý  
thuyết nhân học này, trong nghiên cứu văn  
hóa có một hướng lý thuyết về “định vị văn  
hóa” (locating culture), mà ở đó, các vấn  
đề về văn hóa vùng, không gian văn hóa  
và nơi chốn văn hóa đã được đề xuất, thảo  
luận và ứng dụng nghiên cứu.  
Là một môi trường tồn tại, môi trường  
sống, môi trường sáng tạo và thực hành  
văn hóa, không gian là một vấn đề tối quan  
trọng đối với con người, vì thế, là vấn đề  
trung tâm của mọi ngành khoa học. Với  
nhân học, từ việc phân tích các chiều cạnh  
của không gian vật lý trong mối tương quan  
với sự kiến tạo các chiều kích không gian  
Trong những năm cuối thế kỷ XX và  
đầu thế kỷ XXI, một nhóm nghiên cứu nhân  
học Hoa Kỳ nhận thấy nhân học đang vượt  
(*) PGS.TS., Đại học Quốc gia Hà Nội;  
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019  
24  
khỏi giới hạn của nghiên cứu khu vực và liên quan đến giới (Gendered Spaces), c)  
thực tế phong phú đang thách thức các cách các không gian được định vị (Inscribed  
tiếp cận truyền thống và đòi hỏi những phân Spaces), d) các không gian đang được  
ngành chuyên sâu của nhân học. Chính vì tranh luận (Contested Spaces), không gian  
thế, họ đã khởi xướng và truyền cảm hứng xuyên quốc gia (Transnational Spaces), và  
để tổ chức một loạt sách về một lĩnh vực e) chiến lược không gian (Spatial Tactics).  
nghiên cứu mới là: nhân học và không Trong các chiều kích đa dạng của không  
gian nơi chốn. Loạt sách gồm 4 cuốn: 1) gian từ cách tiếp cận nhân học và định vị  
Anthropology of Globalization: A Reader văn hóa, bài viết chú ý đến sự gợi ý của  
(Edited by Jonathan Xavier Inda and Renato các lý thuyết về một số phạm vi không gian  
Rosaldo), 2) The Anthropology of Media: A gồm không gian địa lý và không gian nhân  
Reader (Edited by KellyAskew and Richard văn; một số hướng chiếm dụng không gian  
R. Wilk), 3) Genocide: An Anthropological từ góc độ tồn tại thể chất của con người  
Reader (Edited by Alexander Laban trong không gian gắn với ứng xử văn hóa  
Hinton), 4) The Anthropology of Space and hàng ngày (Embodied Spaces), từ góc độ  
Place: Locating Culture (Edited by Setha xác định ý nghĩa cho không gian (Inscribed  
M. Low and Denise Lawrence-Zúñiga). Spaces) và sự tranh chấp của các cộng  
Bốn cuốn này được Nhà xuất bản Blackwell đồng khác nhau về cùng một không gian  
của Đại học Oxford tài trợ xuất bản, cho nên để phục vụ cho lợi ích của mình (Contested  
loạt sách này được mang tên là Nhập môn Spaces); từ đó, áp dụng vào phân tích  
nhân học Blackwell (Blackwell Readers in trường hợp mà chúng tôi lựa chọn. Đồng  
Anthropology).  
thời, bài viết cũng sử dụng quan điểm lý  
Bài viết điểm qua các hướng nghiên thuyết của Henri Lefèbvre về tính năng  
cứu về nhân học không gian, nơi chốn và sản của không gian (trong The Production  
định vị văn hóa được trình bày trong cuốn of Space2, một công trình cũng được xuất  
The Anthropology of Space and Place, bản bởi Blackwell) cho rằng, không gian  
Locating Culture1 do Setha M. Low (Chủ có tính năng sản trong sự linh hoạt của các  
tịch Hội Nhân học Hoa Kỳ 2007-2009) và bối cảnh nghiên cứu và thực hành xã hội.  
Denise Lawrence-Zúñiga biên tập. Trong Sự đắp bồi các lớp ý nghĩa trong một phạm  
cuốn sách này, các phạm vi không gian vi không gian mà chúng tôi khảo sát chính  
được đề cập gồm: a) địa lý nhân văn, b) lãnh là sự thể hiện tính năng sản ý nghĩa không  
thổ nhân văn, c) ứng xử mang tính không gian mà Henri Lefèbvre đề cập tới.  
gian, d) không gian cá nhân, e) không gian 2. Sông đổ ra biển - vịnh nước sâu và  
mở, và g) không gian công cộng. Các phạm không gian thương mại  
vi không gian văn hóa đã được lý thuyết  
Cũng như các con sông khác ở Hà  
hóa và được lược thuật gồm: a) các không Tĩnh, sông ở Kỳ Anh đều là các con sông  
gian liên quan đến sự hiện diện của thân ngắn, lưu vực nhỏ và dòng chảy lớn. Sông  
thể - hay là sự chiếm lĩnh không gian liên Trí, sông Quyền hợp thành một dòng nơi  
quan đến con người từ phương diện thể  
chất (Embodied Spaces), b) các không gian  
2
Henri Lefèbvre (1991), The Production of Space,  
Translated by Donald Nicholson-Smith, Blackwell  
Publishing, USA.  
1 Blackwell Publishing, 2003, Oxford, UK.  
Những lớp đắp bồi lịch sử…  
25  
sông Cửa Khẩu (còn gọi là sông Vịnh vì cho không gian sông-biển Việt Nam ở chỗ  
trước khi đổ ra biển, hợp lưu này tạo thành sự gắn kết thủy hệ nước ngọt với thủy hệ  
một con sông khá lớn, với lưu vực 510 km2, nước mặn “không chỉ tạo nên mạch nối  
giống như một cái vịnh nhỏ thông ra biển). giao thương giữa các trung tâm kinh tế mà  
So với 3 cảng biển khác của Hà Tĩnh (Xuân còn bù lấp những khuyết vắng, đồng thời,  
Hải, huyện Nghi Xuân; Cửa Sót, huyện nhân lên tiềm năng, thế mạnh của các vùng,  
Lộc Hà; Cửa Nhượng, huyện Cẩm Xuyên), miền” (Nguyễn Văn Kim, 2014). Đặc điểm  
Cửa Khẩu (huyện Kỳ Anh) có lợi thế vượt này đặc biệt rõ rệt ở vùng biển miền Trung,  
trội do đặc điểm tự nhiên là một vịnh nước mà cụ thể là ở vùng biển Kỳ Anh, nơi các  
sâu, không bị bồi lắng, tàu trọng tải lớn có con sông Trí, sông Quyền hợp lưu ở sông  
thể ra vào. Theo các thư tịch Nghệ An ký Vịnh để đổ ra biển. Tài liệu lịch sử thương  
và trong Đại Nam nhất thống chí1, trong mại trên biển riêng cho vùng biển Kỳ Anh  
bốn cửa biển của Nghệ Tĩnh, Cửa Sót là chưa được nhắc đến nhiều, tuy nhiên, với  
thương cảng nhộn nhịp nhất. Tuy nhiên, tính chất là một vịnh biển sâu, tính nổi trội  
hiện nay, do nhiều nguyên nhân, trong đó của thủy hệ nước mặn ở vùng biển Kỳ Anh  
có nguyên nhân của sự thay đổi dòng chảy là rất rõ. Nguyễn Văn Kim cũng đã dẫn  
và tốc độ bồi lắng khác nhau mà hai cảng nghiên cứu của nhà nghiên cứu K.R. Hall  
trên địa bàn Kỳ Anh (Vũng Áng và Sơn (Hoa Kỳ) về việc Đại Việt lập tuyến buôn  
Dương) có lợi thế vượt trội so với các cảng xuyên lục địa thông qua cảng Nghệ Tĩnh lên  
khác ở Hà Tĩnh. Độ sâu của các cảng lần Nam Lào. Nguyễn Văn Kim viết: “Dựa vào  
lượt là: cảng Cửa Sót: -3m, cảng Xuân Hải: nguồn tư liệu khai thác được ở Phum Mien,  
-3,2m đến -3,8m; cảng Cửa Nhượng: -2m K.R. Hall cho rằng, vào cuối thế kỷ X, từ  
đến - 4m; còn cảng Vũng Áng có độ sâu từ Nghệ An, thương nhân Đại Việt đã qua ải  
-11m đến -14m và cảng Sơn Dương có độ Hà Trại ở dãy Khai Trướng (mà An Nam  
sâu từ -21 đến -24 m nếu được nạo vét. Lợi chí nguyên gọi là núi Khai Môn - có thể là  
thế này của cảng Vũng Áng và cảng Sơn cửa khẩu Cầu Treo hiện nay) theo đường  
Dương thậm chí còn vượt trội so với cảng sông Mekong xuống Băn Thăt để đi vào  
Nghi Sơn (Thanh Hóa) (có độ sâu -8,5m Kinh đô Angkor của Chân Lạp. Các hoạt  
đến -11m). Bên cạnh đó, hai cảng cửa biển động giao thương đó đã bảo đảm nguồn  
Kỳ Anh lại có lợi thế tự nhiên là độ bồi lắng cung cấp hàng hóa cho Chân Lạp và vùng  
thấp, rất thuận tiện cho các tàu lớn cập bến hạ châu thổ Mekong” (Nguyễn Văn Kim,  
hoặc qua lại ven bờ.  
2014). Chưa rõ thương cảng được sử dụng  
Lợi thế này đã được tận dụng từ nhiều để tạo nên con đường thương mại xuyên  
thế kỷ về trước. Điểm lại các hoạt động của lục địa qua Nam Lào là thương cảng nào,  
các thương cảng miền Trung, có thể thấy tuy nhiên, có thể nói, vùng biển Kỳ Anh  
rõ điều đó. Nhìn nhận chung về hệ thống với các lợi thế tự nhiên của mình chắc chắn  
sông ngòi Việt Nam, Nguyễn Văn Kim cho đã nằm trong chuỗi các cảng biển được sử  
rằng, việc các con sông chảy từ Tây sang dụng cho hoạt động này.  
Đông và đổ ra biển đã tạo ra nét đặc biệt  
Một thực tế chưa được nhiều nghiên  
cứu làm sáng tỏ là vai trò của các thương  
cảng miền Trung trong nhiều thế kỷ thời Bắc  
thuộc. Về điều này, Li Tana viết: “trái ngược  
1 Viện Sử học (1970), Đại Nam nhất thống chí, Tập  
2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019  
26  
với nhận thức phổ biến rằng, quan hệ giao chỉ cách một quãng ngắn đối với phần lớn  
thoa giữa Giao Chỉ và Trung Quốc được tiến người dân Việt trong quá khứ, nơi đó có  
hành bằng đường biển thông qua vịnh Bắc biển cả. Ở đây, người Việt Nam đối mặt với  
bộ. Cho đến thời Đường, sự giao lưu giữa thế giới” (Charles Wheeler, 2006 ; Xem  
Trung Quốc và Giao Chỉ gặp rất nhiều khó thêm: Trần Thị An: 2016).  
khăn vì sự cản trở của những dải đá nằm 3. Dưới chân đèo Ngang, nơi tiếp giáp của  
dọc ven biển. Điều này giải thích tại sao Mã Đại Việt-Chăm pa  
Viện, Phù Ba tướng quân của nhà Hán, phải  
Trong lịch sử, đèo Ngang (Hoành Sơn)  
‘đào núi để thông ra biển’ trong cuộc bình từng là điểm cực Nam của Việt Nam thời  
định Giao Chỉ thế kỷ I Sau Công nguyên. điểm bắt đầu độc lập tự chủ (năm 938) và  
Những trở ngại về giao thông chỉ thực sự cái “then cài” (chữ dùng của Philippe Papin)  
được khắc phục vào thế kỷ IX, khi Cao Biền ấy của Đại Việt chỉ được mở ra vào năm  
cho di dời những khối đá này. Những khó 1069 với cuộc Nam chinh của Lý Thánh  
khăn trong giao thông của vịnh Bắc bộ tạo Tông; Vua Chiêm bị bắt và để được tha phải  
điều kiện để miền Trung Việt Nam, phần cắt 3 châu (Bố Chính, Ma Linh, Địa lý - là  
lãnh thổ thuộc Nghệ Tĩnh ngày nay, có vị trí vùng Quảng Bình và một phần của Quảng  
quan trọng trong tuyến giao thương đường Trị ngày nay) dâng cho Đại Việt. Theo thời  
biển của khu vực” (Li Tana, 2006). Dẫn số gian, lãnh thổ Việt Nam dần được mở vào  
liệu các lần triều cống cùng thời (số lần cống phía Nam xa dần nút thắt đèo Ngang đó,  
nạp của các vị vua Khmer đến Đại Việt (19 nhưng khu vực phía Nam này của nước Đại  
lần) nhiều hơn đến nhà Tống (5 lần); Li Tana Việt, tính từ đèo Ngang trở vào, luôn phải  
khẳng định: “gần như chắc chắn một điều hứng chịu các trận tấn công, cướp bóc của  
rằng, miền Trung Việt Nam là cửa ngõ cho các nước láng giềng phía Nam là Chăm pa  
các hoạt động giao thông đường thủy trong và Chân Lạp. Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi  
khu vực, nơi mà hầu hết thương nhân, khách chép một số lượng lớn các cuộc tấn công này.  
hành hương, và các đoàn triều cống đặt chân Về 9 lần người Chân Lạp tấn công vào vùng  
tới trước khi theo đường sông đến Giao Chỉ Nghệ - Tĩnh (với số lượng tới hàng vạn quân  
(Việt, Giao Châu)”(Li Tana, 2006). Nguyễn và hàng trăm thuyền chiến), Nguyễn Tiến  
Tiến Dũng cũng đã cho biết thêm thông tin Dũng cho rằng, “bên cạnh mục tiêu cướp  
về vấn đề này: trong vòng 183 năm (từ năm phá nguồn tài nguyên tương đối phong phú  
1012 đến năm 1195), Chân Lạp cử phái của vùng đất này, giới cầm quyền Chân Lạp  
đoàn đến Đại Việt triều cống 24 lần, trong còn khát khao muốn nắm giữ một vùng hải  
khi đó đến Trung Quốc 5 lần (Nguyễn Tiến cảng quan trọng, một cửa ngõ thiết yếu để  
Dũng, 2010).  
quốc gia này dự nhập vào mạng lưới thương  
Như vậy là, với đặc điểm địa lý tự mại biển Đông giai đoạn sớm” (Nguyễn  
nhiên và với những bằng chứng lịch sử, có Tiến Dũng, 2010). Nhận định về vị trí xung  
thể nói: vùng biển Kỳ Anh là một không yếu của địa bàn Nghệ Tĩnh trong cuộc đối  
gian thương mại quan trọng trong lịch sử; đầu với các quốc gia láng giềng phía Nam  
nơi mà, nói như Charles Wheeler: “Bên Đại Việt, Nguyễn Văn Kim viết: “Trong thế  
ngoài lũy tre, bên cạnh thị trường, gần các đối diện, đối thoại hằng xuyên với các quốc  
cánh đồng lúa và các ao nuôi cá, có một gia láng giềng khu vực Nghệ - Tĩnh là đại  
dòng sông chảy qua. Xuôi theo dòng sông, diện, đồng thời là tuyến đầu, địa bàn chiến  
Những lớp đắp bồi lịch sử…  
27  
lược trong việc bảo vệ an ninh; thiết lập, mở dường như có ý nghĩa quan trọng để định  
rộng quan hệ với thế giới bên ngoài. Với vị hướng việc chiếm dụng không gian từ góc  
thế đó, trong nhiều thời điểm lịch sử, Nghệ - độ tồn tại thể chất của con người trong  
Tĩnh đã phải đương đầu trực tiếp với các thế không gian gắn với ứng xử văn hóa hằng  
lực phương Bắc khi đế chế này muốn liên ngày (embodied spaces); tuy nhiên, tính  
kết với Chăm pa, Chân Lạp... để tạo nên áp động và tính lỏng của các lớp chồng lấn ý  
lực chính trị, quân sự từ phía Nam Đại Việt. nghĩa văn hóa của không gian này cũng sẽ  
Trong khoảng 4 thế kỷ, Nghệ - Tĩnh vừa là tạo nên sự tranh chấp của các cộng đồng  
địa bàn tích hợp nhiều mâu thuẫn khu vực khác nhau về cùng một không gian để phục  
vừa là nơi hội tụ những nhân tố phát triển vụ cho lợi ích của mình (contested spaces)  
mới” (Nguyễn Văn Kim, 2012).  
mà chúng ta sẽ thấy rõ hơn khi mô tả đời  
Nằm dưới chân đèo Ngang, vùng đất/ sống cư dân vùng biển này từ góc độ một  
vùng biển Kỳ Anh chắc chắn đã là tâm điểm nơi chốn văn hóa (cultural place).  
của vùng chiến địa nhiều thế kỷ mà nguyên 4. Đền thiêng nơi cửa bể - cột mốc văn hóa  
nhân và mục đích của các cuộc giao tranh phía Nam Đại Việt  
là chiếm giữ lãnh thổ ngang với sự tranh  
Việc mô tả yếu tố địa lý, việc giới thiệu  
giành lãnh hải - một yếu tố vô cùng quan bối cảnh lịch sử vùng đất ở các phần viết  
trọng trong chính trị và thương mại thời bấy trên gần như dẫn đến một mặc định là: ngay  
giờ, đặc biệt trong thời gian mà việc giao tại vùng ven biển Kỳ Anh này, tất yếu phải  
thương ở vịnh Bắc bộ có những trở ngại có một cột mốc văn hóa mang dấu ấn thể  
nhất định. Đồng thời, là cực Nam của Đại chế của chính quyền Đại Việt. Cột mốc đó,  
Việt trong một thời gian dài, vùng đất Kỳ khá rõ ràng, là truyền thuyết/thư tịch/đền  
Anh còn được xem như đại diện phía Nam thờ/tục thờ một danh nhân (truyền thuyết  
của vùng đất chịu ảnh hưởng của Hán hóa, hay chính sử mặc lòng) dân tộc.  
mà chỉ bước chân qua đèo Ngang thôi, là  
Nguyễn Thị Bích Châu, như ta đã biết,  
vùng đất của Chăm pa chịu ảnh hưởng sâu không phải là một nhân vật lịch sử xác  
sắc của văn hóa Ấn Độ, cũng là nơi trú ngụ thực. Tên bà không xuất hiện trong các bộ  
của các cư dân tại chỗ và các dòng di dân từ sử, dù là ở các bản đương thời hay các bản  
miền Bắc vào (theo chỉ dụ của Vua Lý Nhân chép muộn màng sau này. Tên của bà chỉ  
Tông năm 1075) và từ Bắc miền Trung xuất hiện trong thần tích (văn bản định hình  
(Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh) những thế kỷ về các truyền thuyết dân gian hoặc/và quan  
sau. Tính động của các dòng di dân và tính điểm của người biên chép) và tác phẩm văn  
khác của cư dân Chăm pa ở phía Nam đèo học đời sau (nơi các truyền thuyết dân gian  
Ngang đã tạo nên những nét khác biệt của được neo đậu và điểm tô thêm màu sắc).  
vùng đất chịu ảnh hưởng của Hán ở phía  
Bắc đèo Ngang.  
Thần tích cho biết tên tuổi, quê quán  
lai lịch, công trạng, vị thế lẫy lừng của  
Tính chất đặc biệt về mặt lịch sử của nhân vật được thờ ở các di tích ven biển  
vùng đất này, cùng với nét đặc trưng địa Kỳ Anh - Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi  
lý, là các yếu tố mang tính quyết định để Vua Trần Duệ Tông, người có công dâng  
định vị văn hóa (locating culture) cho vùng “Kê minh thập sách”, người cùng nhà vua  
cửa biển Kỳ Anh mà ở đó, việc xác định xông pha nơi chiến địa, ra vào sinh tử trong  
ý nghĩa cho không gian (inscribed spaces) trận đánh Chiêm Thành cuối cùng của nhà  
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019  
28  
vua, và đã tử nạn trên lưng ngựa trong trận lại kể bà Bích Châu, một nàng tiên do đánh  
chiến này và được lập đền thờ ở cửa biển vỡ chén ngọc mà bị giáng trần làm cung  
Kỳ Anh. Truyện Hải Khẩu linh từ trong tập phi của Vua Trần Anh Tông (1276-1320,  
Truyền kỳ tân phả của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn ở ngôi: 1293-1320) và mất vào năm 1312,  
Thị Điểm (1705-1749)1 cho ta biết nhiều trên đường Vua Trần Anh Tông khải hoàn  
chi tiết ly kỳ hơn trong chuyến hải hành trong trận đánh Chiêm Thành năm 1311-  
cuối cùng của cuộc đời Nguyễn Thị Bích 1312 (cũng là lúc nàng tiên hết hạn trần  
Châu khi theo Vua Trần Duệ Tông đi đánh gian được gọi về trời).  
Chiêm Thành; và cái chết của bà không  
Người dân địa phương tin vào các sự  
phải là trên lưng ngựa mà là một sự hiến kiện được kể trong truyền thuyết (bà Bích  
tế cho thần biển để dẹp đường cho chiến Châu là cung phi của Vua Trần Duệ Tông,  
thuyền của nhà vua qua vùng sóng dữ ở cửa bà viết “Kê minh thập sách”, bà cùng vua đi  
biển huyện Kỳ Hoa (nay là Kỳ Anh). Bài đánh giặc) và niên đại trong truyền thuyết  
thơ Hà Hoa hải môn lữ thứ (Nghỉ lại ở cửa (đền thờ bà được lập năm 1377, năm mà  
biển Hà Hoa2) trong tập Minh lương cẩm tú Trần Duệ Tông băng hà do tử nạn trong trận  
(được cho là của Vua Lê Thánh Tông sáng chiến). Niềm tin được tin là được dựa trên  
tác trong chuyến vua thân chinh đi đánh cớ sở của tiểu thuyết Truyền kỳ tân phả và  
Chiêm Thành năm 1470 dù vẫn còn tồn tại được củng cố thêm vì bài Hà Hoa hải môn  
một số tranh cãi về văn bản học)3 lại cho lữ thứ được coi là của Vua Lê Thánh Tông5.  
thêm một tiếng nói khẳng định sự tồn tại Chính quyền và người dân Kỳ Anh hàng  
của ngôi đền “rực rỡ cỏ hoa” thờ cung phi năm tổ chức lễ hội đền thờ bà và căn cứ  
Nguyễn Thị Bích Châu (xem thêm Trần Thị vào truyền thuyết, Ban Tổ chức lễ hội cho  
An: 2013). Truyện Bích Châu du tiên mạn gói số lượng bánh chưng tương ứng với số  
ký (Nàng Bích Châu đi chơi cõi tiên) được năm xây dựng ngôi đền (1377). Không gian  
rút ra từ tập Gia phả của dòng họ Nguyễn (space) biển của các chuyến hải hành của  
Huy và được cho là của Nguyễn Huy Hổ4 nhà vua đã được cụ thể hóa thành một nơi  
chốn (place) thờ vị thần phù hộ cho người  
1 Trần Nghĩa (chủ biên, 1977), Tổng tập tiểu thuyết  
chữ Hán Việt Nam, Tập 1, Nxb. Thế giới, Hà Nội,  
tr. 342-358.  
đi biển (là nhà vua trong quá khứ và ngư  
dân hiện nay). Sự xác định ý nghĩa không  
gian ở đây là sự kết hợp giữa niềm tin của  
người dân và hướng định của chính quyền  
ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau.  
Đáng chú ý là ở Kỳ Anh có 2 ngôi đền  
thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu (còn gọi là  
đền Bà Hải): một được dựng bên bờ dòng  
sông Vịnh (sông Cửa Khẩu, hợp lưu của  
sông Trí và sông Quyền); một ngôi khác  
được dựng ngay bên bờ biển, tại điểm cuối  
2
Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Hà Hoa là  
tên phủ ở phía Nam Nghệ An, phủ này có 2 huyện  
là Thạch Hà và Kỳ Hoa (gồm Cẩm Xuyên và Kỳ  
Anh hiện nay). Bài thơ dùng địa danh Hà Hoa (tên  
phủ), nhưng chú thích của bài thơ lại dùng địa danh  
Kỳ Hoa (tên huyện). Đoàn Thị Điểm trong Truyền  
kỳ tân phả cũng dùng địa danh Kỳ Hoa (Phan Huy  
Chú, 1972).  
3 Mai Xuân Hải (chủ biên, 1986), Thơ văn Lê Thánh  
Tông, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 188-190.  
4
Nguyễn Thạch Giang dịch và giới thiệu (1990),  
“Gia phả dòng họ Nguyễn Huy”, Tạp chí Hán Nôm,  
số 1, in lại trong: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên, 1999),  
5
Người dân không tin vào câu chuyện về bà Bích  
Truyện truyền kỳ Việt Nam, Tập 2, Nxb. Giáo dục, Châu được kể trong Bích Châu du tiên mạn ký có thể  
Hà Nội, 1999, tr. 343-353. do xuất xứ thần tiên của nhân vật.  
Những lớp đắp bồi lịch sử…  
29  
của mũi Dòn - chân của dãy núi Dòn ăn ra Danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia)... Như  
biển (cạnh cảng Sơn Dương, nơi có nhà máy vậy, việc hình thành một nơi chốn văn hóa  
Formosa hiện nay). Những người phụ trách (cultural place) từ một không gian văn hóa  
việc thờ tự của hai ngôi đền đều khẳng định (cultural space) chắc chắn là đã chịu sự ảnh  
đền mình phụ trách mới là đền chính, mới hưởng đan chéo của nhiều yếu tố: địa lý tự  
là nơi có ngôi mộ của bà Bích Châu. Tâm nhiên, địa lý nhân văn, lịch sử, con người...  
lý mong muốn khẳng định tính chính danh rất cần bóc tách và giải mã để hiểu đúng  
của ngôi đền thờ dưới ảnh hưởng của quan về nó.  
niệm Nho giáo cũng là một cách để thu hút  
Sự hình thành nơi chốn văn hóa  
đầu tư của chính quyền và sự tham gia của (cultural place) và các vấn đề lý thuyết  
người đi lễ. Như vậy, việc thờ bà Bích Châu được đúc rút (embodied spaces, contested  
như một vị thần bảo trợ cho người đi biển spaces) như trường hợp bài viết đang đề cập  
(trong quá khứ) và như một vị Thánh Mẫu hoàn toàn cho thấy khía cạnh chính trị của  
có quyền năng ban phát ân huệ cho muôn vấn đề: việc thực hành văn hóa có liên quan  
mặt đời thường hôm nay (cầu ngư, cầu mật thiết và có ý nghĩa khẳng định quyền  
an, cầu tài, cầu lộc, cầu danh, cầu tự, cầu lực của một thể chế và chủ quyền quốc gia,  
duyên...) chính là nhu cầu tách con người đặc biệt tại những vùng quan yếu. Việc tự  
khỏi không gian địa lý (embodied spaces), động xây “miếu thờ” (tháng 6/2014)1 rồi  
để trở thành một chủ nhân “ông” của không “tháp biểu tượng tinh thần”2 dù bị yêu cầu  
gian địa lý dẫu cho sự hàng phục và lệ thuộc dỡ3 và lại đề đạt một yêu cầu mới4 tại khu  
sức mạnh thiên nhiên vẫn còn hiển lộ (cầu công nghiệp Formosa (tại cảng nước sâu  
khấn vị nhiên thần - bà Hải - phù hộ cho Kỳ Anh) không nằm ngoài các vấn đề lý  
cuộc sống của mình). Đồng thời, việc tranh thuyết và thực tiễn đang bàn.  
chấp (contested spaces) tính chính danh  
cho ngôi đền thờ bà cho thấy dấu vết của  
các lớp văn hóa mà nhu cầu thờ tự và sự  
can dự của chính quyền bộc lộ rõ.  
1
Đoàn Loan (2014), Đại biểu Quốc hội phản đối  
xây miếu trong Formosa Hà Tĩnh, Báo VnExpress,  
bieu-quoc-hoi-phan-doi-xay-mieu-trong-formosa-  
ha-tinh-3097895.html (truy cập ngày 05/10/2019)  
Cần chú ý thêm một chi tiết là, không  
phải chỉ có Cửa Khẩu (Kỳ Anh) mới có đền  
thờ bà Bích Châu. Các vùng Cửa Nhượng,  
Cửa Sót, Cửa Lò đều có đền thờ bà, nhưng  
chỉ có Cửa Khẩu mới được coi là đền chính  
và hằng năm thu hút hàng chục vạn khách  
hành hương. Tại sao như vậy? Có thể nhìn  
thấy ở đây sự can thiệp của yếu tố địa lý  
tự nhiên, sự thuận lợi cho việc cập bến tàu  
thuyền, vùng vịnh kín để người đi biển có  
thể neo đậu tàu thuyền tránh bão, và sự can  
thiệp của chính quyền (ngày 03/8/1991,  
Bộ Văn hóa - Thông tin đã có Quyết định  
công nhận đền thờ Chế thắng Phu nhân  
Nguyễn Thị Bích Châu là Di tích lịch sử và  
2
Đức Hùng (2015), Formosa xin xây “tháp biểu  
tượng tinh thần kháng Pháp”, Báo VnExpress, ngày  
-xay-thap-bieu-tuong-tinh-than-khang-Phap-3325  
660.html (truy cập ngày 05/10/2019).  
3
Đức Hùng (2015), Hà Tĩnh ra tối hậu thư cho  
‘tháp biểu tượng tinh thần’ của Formosa, Báo  
thoi-su/ha-tinh-ra-toi-hau-thu-cho-thap-bieu-tuong-  
tinh-than-cua-formosa-3328452.html (truy cập  
ngày 05/10/2019).  
4 Đức Hùng (2016), Formosa xin xây nơi thờ phụng  
và tâm linh, Báo VnExpress, ngày 05/3/2016, https://  
vnexpress.net/thoi-su/formosa-xin-xay-noi-tho-  
phung-va-tam-linh-3365020.html (truy cập ngày  
05/10/2019).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2019  
30  
Kết luận  
3. Charles Wheeler (2006), “Re-Thinking  
the Sea in Vietnamese History: Littoral  
Society in the Integration of Thuận  
Các cửa biển Việt Nam với một phần  
lớn là các cửa sông đổ ra biển, với các  
đặc điểm địa lý riêng biệt của từng vùng  
miền, đã hình thành nên các nơi chốn mà  
các cộng đồng dân cư thực hành văn hóa  
của cộng đồng mình. Các lớp ý nghĩa của  
nơi chốn văn hóa mà bài viết đang bàn (xã  
Kỳ Ninh, huyện Kỳ Anh) luôn biến động  
và biến đổi theo sự biến động dân cư, bối  
cảnh lịch sử - kinh tế - xã hội, mang một  
số nét bản sắc của vùng văn hóa định hình  
(miền Trung), chịu ảnh hưởng sâu sắc của  
những đặc điểm định tính của không gian  
văn hóa biển gồm hợp thể các hoạt động,  
các niềm tin mang giá trị lịch sử quốc gia.  
Có thể nói, chính sự thực hành văn hóa  
của các cộng đồng cư dân nơi cửa sông-  
biển Kỳ Anh với tất cả sự sống động của  
nó mới kiến tạo nên một nơi chốn văn hóa  
thể hiện sự chiếm lĩnh không gian biển của  
người Việt từ nhiều phương diện (kinh tế,  
văn hóa, chủ quyền) trong một chiều sâu  
của lịch sử và thời gian. Nơi chốn văn hóa  
sinh động, nhộn nhịp thể hiện hơi thở của  
đời sống hằng ngày nằm trong và chịu ảnh  
hưởng của vùng văn hóa và không gian văn  
hóa mà để nghiên cứu nó, cần tới các lý  
thuyết nhân học về không gian/nơi chốn và  
lý thuyết định vị văn hóa để nhận diện và  
hiểu sâu giá trị  
-
Quảng,  
Seventeenth-Eighteenth  
Centuries” (Suy nghĩ lại về biển trong  
lịch sử Việt Nam: Xã hội duyên hải  
trong sự thống hợp của vùng Thuận -  
Quảng các thế kỷ XVII-XVIII), Journal  
of Southeast Asian Studies, 37 (1),  
p. 123-154, Ngô Bắc dịch.  
4. Phan Huy Chú (1972), Lịch triều hiến  
chương loại chí, Tố Nguyên Nguyễn  
Thọ Dực dịch, Phủ Quốc vụ khanh đặc  
trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, tr.  
175-176.  
5. Nguyễn Tiến Dũng (2010), “Về quan  
hệ của Đại Việt và Chân Lạp thế kỷ XI-  
XVI”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số  
11, tr. 39-56.  
6. Nguyễn Văn Kim (2012), “Các thương  
cảng vùng Nghệ - Tĩnh và giao thương  
khu vực thế kỷ XI - XIV”, Nghiên cứu  
Lịch sử, số 12 (440)-2012, tr. 1-18; số 1  
(441)-2013, tr. 16-25.  
7. Nguyễn Văn Kim (2014), “Biển Việt  
Nam trong các không gian biển Đông  
Nam Á”, Tạp chí Phát triển kinh tế - xã  
hội Đà Nẵng, số 59.  
8. Li Tana (2006), “A View from Sea:  
Perspectives on the Northern and Central  
Vietnamese coast” (Một cách nhìn từ  
biển: bối cảnh vùng duyên hải miền Bắc  
và Trung Việt Nam), Journal of Southeast  
Asian Studies, National University of  
Singapore, Vol. 37 (1), 2006, pp. 83-102.  
Bản dịch tiếng Việt đăng Tạp chí Nghiên  
cứu Lịch sử, số 7/2009, tr. 14-28 và số  
8/2009, tr. 60-67.  
Tài liệu tham khảo  
1. Trần Thị An (2009), “Tìm hiểu sự hình  
thành truyền thuyết Tứ vị Thánh Nương  
(qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết  
dân gian và tục thờ cúng)”, Tạp chí  
Nghiên cứu văn học, số 2.  
2. Trần Thị An (2016), “Truyền thuyết 9. The Anthropology of Space and Place:  
dân gian với việc kết nối các dạng thức  
không gian biển Việt Nam”, Tạp chí  
Nghiên cứu văn học, số 6.  
Locating Culture (Edited by Setha M.  
Low and Denise Lawrence-Zúñiga),  
Blackwell Publishing, 2003, Oxford, UK.  
pdf 8 trang Thùy Anh 14060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những lớp đắp bồi lịch sử và văn hóa tại một cửa biển: Nghiên cứu trường hợp cửa biển Kỳ Anh, Hà Tĩnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_lop_dap_boi_lich_su_va_van_hoa_tai_mot_cua_bien_nghien.pdf