Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI
----------------------
Bài giảng học phần
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chương trình Đại học ngành Sư phạm Ngữ văn
Người biên soạn: NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN
QUẢNG NGÃI, NĂM 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI
----------------------
Bài giảng học phần
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chương trình Đại học ngành Sư phạm Ngữ văn
Người biên soạn: NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN
QUẢNG NGÃI, NĂM 2021
1
LỜI NÓI ĐẦU
Mục tiêu chính của học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam là trang bị cho sinh viên những
kỹ năng, phương pháp tiếp cận và những hiểu biết cơ bản về những vấn đề của văn hóa học và
văn hóa Việt Nam, giúp sinh viên nhận thức và có thái độ đúng đắn về vai trò, vị trí của văn
hóa trong cuộc sống hiện tại, biết cách sử dụng hữu hiệu kiến thức đã học, hỗ trợ việc học tập,
nghiên cứu các môn học liên quan và tham gia một cách có ý thức vào việc bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc. Theo đó, cấu trúc của bài giảng học phần Cơ sở văn hóa Việt
Nam cũng sẽ được chia làm 4 chương với các nội dung tương ứng:
Chương 1: Cơ sở văn hóa học.
Chương 2: Định vị văn hóa Việt Nam.
Chương 3: Các lĩnh vực văn hóa.
Chương 4: Bản sắc văn hóa Việt Nam và vấn đề bảo tồn, phát huy và xây dựng một
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Bài giảng sử dụng tài liệu tham khảo chính là giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam của
Trần Ngọc Thêm (Nxb Giáo dục, 2000).
1
Chương 1. CƠ SỞ VĂN HÓA HỌC
1.1. Ngành văn hóa học
Vì văn hóa bao quát một phạm vi quá rộng cho nên trong một thời gian dài, người ta
chỉ chú ý đến các khoa học bộ phận như triết học, sử học, địa lý học,… mà không có khoa
học nào lấy văn hóa làm đối tượng. Văn hóa học với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập
thì phải đợi đến thế kỷ XIX mới bắt đầu được ra đời và phát triển.
Sự ra đời và phát triển của văn hóa học với tư cách là một môn khoa học độc lập gắn
liền với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể.
- Đó là quá trình phát hiện ra các vùng đất mới, việc mở rộng thuộc địa của các nước
châu Âu dẫn đến những tiếp xúc về kinh tế, hàng hóa, những nhu cầu nghiên cứu văn hóa các
dân tộc để khai thác, quản lý
- Sự khảo cứu vấn đề lịch sử và lý luận văn hóa trong công trình của các nhà triết học
thời khai sáng (TK XVIII)
- Sự phát triển của nhiều ngành khoa học
Năm 1871, lần đầu tiên văn hóa đã được E.B. Tylor định nghĩa trong tác phẩm Văn
hóa nguyên thủy (Primitive Culture) xuất bản ở London.
Nhưng văn hóa như đối tượng của một khoa học độc lập thì phải đến năm 1885 mới
hình thành rõ nét với công trình hai tập mang tên Khoa học chung về văn hóa của Gustav
Kleimm (1802-1867) người Đức, trong đó trình bày sự phát sinh phát triển toàn diện của loài
người như một lịch sử văn hóa.
Bản thân thuật ngữ Văn hóa học (Culturology) xuất hiện vào năm 1898 tại Đại hội
giáo viên sinh ngữ ở Viên (Áo), song mãi đến khi công trình The Science of Culture của
Leslie White xuất bản năm 1949 ở Mỹ thì thuật ngữ này mới trở nên phổ biến .
Trong sự phát triển của văn hóa học nửa đầu tk. XX có sự đóng góp quan trọng của
các nhà nhân học văn hóa Mỹ về việc mở rộng đối tượng và quy mô nghiên cứu (những năm
2
30-40, phong trào nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ của thổ dân Mỹ phát triển khá rầm rộ) và
của C. Lévi-Strauss về phương pháp nghiên cứu (cuốn Anthropologie Structutral của ông
xuất bản tại Paris năm 1958 đánh dấu việc đưa phương pháp cấu trúc từ lĩnh vực ngôn ngữ
học áp dụng vào việc nghiên cứu văn hóa).
Có thể nói, thế kỷ XX chính là thế kỷ phát triển nở rộ các ngành khoa học về văn
hóa.
Văn hoá có thể được xem xét từ nhiều hướng, do vậy văn hóa học có thể được nghiên
cứu và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau, tạo nên nhiều môn, phân môn.
Dưới góc độ thời gian, môn lịch sử văn hóa (văn hóa sử) khảo sát tiến trình văn hóa
của một dân tộc theo từng giai đoạn lịch sử với các tình tiết và sự kiện, mở rộng hiểu biết về
văn hóa theo chiều dọc.
Dưới góc độ không gian, môn địa lí văn hóa (địa văn hóa) có trách nhiệm khảo sát
văn hóa dân tộc theo chiều ngang, trong mối quan hệ với địa lí quốc gia, tìm hiểu đặc điểm
của các vùng văn hóa.
Dưới góc độ lí luận khái quát chung, văn hóa học đại cương có trách nhiệm nghiên
cứu các quan niệm, các học thuyết, các cách tiếp cận văn hóa và văn hóa học nói chung.
Cơ sở văn hóa là môn học trình bày những đặc trưng cơ bản cùng các quy luật hình
thành và phát triển của một nền văn hóa cụ thể. Đối với sinh viên ngành văn hóa, đây là một
môn học mang tính chất nhập môn; còn đối với sinh viên các ngành khác, nó trang bị những
hiểu biết tối thiểu về một nền văn hóa, một dân tộc để khi bước vào đời, có thể tham gia một
cách có ý thức vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc.
1.2. Đại cương về văn hóa
1.2.1. Khái niệm văn hóa
Từ “Văn hóa” có rất nhiều nghĩa. Nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm
hết sức khác nhau. Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa hẹp để chỉ học thức
(trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn
3
minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn),… Theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả,
từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống.
Ở phương Đông: văn hóa ≈ “văn”, đối lập với “võ”. “Văn hoá” (văn trị giáo hoá) =
“lấy ‘văn’ để giáo hoá thiên hạ”, giống như dạy con trong nhà: nói ngọt không được mới
phải dùng roi. Cách nhìn tổng quát rất gần với cái mà nay ta gọi là văn hoá: nho y lý số gắn
liền, văn triết sử bất phân. Phương pháp nghiên cứu rất gần với cái mà nay ta gọi là phương
pháp liên ngành.
Ở phương Tây: khái niệm cultura, culture xuất phát từ động từ colere trong tiếng
Latinh khởi đầu chỉ có nghĩa là ‘trồng trọt’, ‘chăm sóc’ (cây cối), ‘hoàn thiện’. (Cultura juris
= hoàn thiện quy tắc ứng xử, cultura linguage = hoàn thiện năng lực ngôn ngữ, cultura animi
= hoàn thiện tâm hồn...)
Đến tk. 18, các ngôn ngữ châu Âu mới bắt đầu dùng cultura với nghĩa là ‘chăm
sóc’/ ‘giáo dục’/ ‘hoàn thiện con người’ (= văn hóa).
Chủ nghĩa tư bản phương Tây ra đời, thúc đẩy sự phát triển của văn minh. Tk. XIX,
Nhật Bản mở cửa tiếp thu văn minh phương Tây, khái niệm culture đã được
dịch thành 文化
hoá’ với cách hiểu mới
(‘văn hóa’, tiếng Nhật đọc là Bunka). Từ Nhật Bản, khái niệm ‘văn
đã nhập trở lại vào tiếng Hán.
* Một số định nghĩa văn hóa
- E.B.Tylor (1871): Văn hóa, hay văn minh, theo nghꢀa rộng về tộc ngưꢁi học, nói
chung gꢂm có tri thức, tꢃn ngưꢄng, nghệ thuꢅt, đꢆo đức, luꢅt phꢇp, tꢅp quꢇn vꢈ một số năng
lꢉc vꢈ thói quen khꢇc đưꢊc con ngưꢁi chiếm lꢀnh vꢋi tư cꢇch một thꢈnh viên của xꢌ hội.
- Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tꢂn cũng như mục đꢃch của cuộc sống, loꢈi ngưꢁi mꢋi sꢇng
tꢆo vꢈ phꢇt minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đꢆo đức, phꢇp luꢅt, khoa học, tôn giꢇo, văn học,
nghệ thuꢅt, những công cụ cho sinh hoꢆt hꢈng ngꢈy về mặc, ăn, ở vꢈ cꢇc phương thức sử
dụng. Toꢈn bộ những sꢇng tꢆo vꢈ phꢇt minh đó tức lꢈ văn hoꢇ. Văn hoꢇ lꢈ tổng hꢊp của
mọi phương thức sinh hoꢆt cùng vꢋi biểu hiện của nó mꢈ loꢈi ngưꢁi đꢌ sản sinh ra nhằm
thꢃch ứng những nhu cầu đꢁi sống vꢈ đòi hỏi của sꢉ sinh tꢂn.
4
Phạm Văn Đồng: Nói tꢋi văn hóa lꢈ nói tꢋi một lꢀnh vꢉc vô cùng phong phú vꢈ rộng
lꢋn, bao gꢂm tất cả những gì không phải lꢈ thiên nhiên mꢈ có liên quan đến con ngưꢁi
trong suốt quꢇ trình tꢂn tꢆi, phꢇt triển, quꢇ trình con ngưꢁi lꢈm nên lịch sử… (văn hóa) bao
gꢂm cả hệ thống giꢇ trị: tư tưởng vꢈ tình cảm, đꢆo đức vꢋi phẩm chất, trꢃ tuệ vꢈ tꢈi năng,
sꢉ nhꢆy cảm vꢈ sꢉ tiếp thu cꢇi mꢋi từ bên ngoꢈi, ý thức bảo vệ tꢈi sản vꢈ bản lꢀnh của cộng
đꢂng dân tộc, sức đề khꢇng vꢈ sức chiến đấu bảo vệ mình vꢈ không ngừng lꢋn mꢆnh”.
- UNESCO (1994) văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
+ Theo nghĩa rộng: Văn hóa lꢈ một phức hệ - tổng hꢊp cꢇc đặc trưng diện mꢆo về
tinh thần, vꢅt chất, tri thức vꢈ tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đꢂng gia
đình, xóm lꢈng, vùng, miền, quốc gia, xꢌ hội… Văn hóa không chỉ bao gꢂm nghệ thuꢅt, văn
chương mꢈ còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con ngưꢁi, những hệ thống giꢇ trị,
những truyền thống, tꢃn ngưꢄng…
+ Nghĩa hẹp: Văn hóa lꢈ tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cꢇch
ứng xử vꢈ giao tiếp trong cộng đꢂng, khiến cộng đꢂng đó có đặc thù riêng…
Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm năm 1991:
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vꢅt chất và tinh thần do con ngưꢁi sáng
tꢆo và tích lũy qua quá trình hoꢆt động thꢉc tiễn, trong sꢉ tương tác vꢋi môi trưꢁng tꢉ nhiên
và xã hội của mình.
1.2.2. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa
Định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm cung cấp cho ta chùm bốn đặc trưng cơ
bản của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Đây là bộ công cụ
cần và đủ để xác định khái niệm văn hóa. Mọi đặc trưng khác đều nằm trong hoặc phái sinh từ
bốn đặc trưng cơ bản này.
1.2.2.1. Cꢇc đặc trưng của văn hóa
a. Tính hệ thống
Hệ thống là một tập hợp các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Mọi hiện tượng,
sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiết với nhau. Nhược điểm lớn nhất của
5
nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở chỗ coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của
những tri thức bộ phận, chẳng hạn định nghĩa của E.B.Tylor.
Với tư cách là một khoa học lý luận, VĂN HÓA HỌC có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa
như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở tư liệu của những ngành khác (dân tộc học, sử học,
ngôn ngữ học, tôn giáo học,…) cung cấp với mục đích phát hiện các đặc trưng, những quy
luật hình thành và phát triển. Nghiên cứu văn hóa không chỉ tìm hiểu “Cái gì?” mà chủ yếu là
tìm hiểu “Tại sao?” và “Như thế nào?”. Nhờ đi vào bề sâu, tìm những mối liên hệ có tính bản
chất giữa các sự kiện, văn hóa học sẽ cho phép ta suy ngẫm và lý giải các tư liệu văn hóa mà
ta bắt gặp.
b. Tính giá trị
Trong từ Văn hóa thì Văn có nghĩa là “vẻ đẹp” (= giá trị), Hóa có nghĩa là “trở thành”,
Văn hóa có nghĩa là “trở thành đẹp”, “thành có giá trị”. Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các
giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Tuy nhiên, giá trị là một khái niệm có tính tương đối, phụ thuộc vào Không gian, Thꢁi
gian và Chủ thể định giá.
Chẳng hạn, mắm tôm có giá trị ở Việt Nam nhưng không có giá trị ở phương Tây
(không gian); có giá trị vào bữa ăn nhưng không có giá trị vào lúc đang họp hội nghị (thời
gian); và chỉ có giá trị đối với người biết ăn (chủ thể).
Cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện
được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa hay không
phải xem xét mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” trong chúng. Chẳng hạn,
nói dối là không trung thực, là lừa dối người khác, nhưng đôi khi nói dối lại mang lại lợi ích
cho bản thân mình cũng như tạo niềm vui cho người khác nên có giá trị; ăn trộm tuy mang
lại nguồn lợi cho người ăn trộm và gia đình anh ta, nhưng lại làm tổn hại đến quyền lợi của
nhiều người khác nên không có giá trị,…
Văn hóa hoặc phi văn hoá hiểu theo nghĩa tuyệt đối là không có. Một sự vật/hiện
tượng có thể là phi văn hoá trong trong hệ toạ độ này, nhưng lại là văn hóa trong hệ toạ độ
6
khác. Và ngược lại, một sự vật/hiện tượng có thể là giá trị, là văn hóa trong hệ toạ độ này,
nhưng lại là phi giá trị, phi văn hoá trong một hệ toạ độ khác.
Vì vậy, muốn xác định được giá trị của một sự vật (khái niệm) thì phải xem xét nó
trong hệ toạ độ K-C-T (không gian - thời gian - chủ thể) cụ thể, trong mối tương quan giữa
mức độ “giá trị” và “phi giá trị” mà nó có.
c. Tính nhân sinh
Văn hóa là sản phẩm hoạt độngthực tiễn của con ngưꢁi. Theo nghĩa này, văn hóa đối lập
với tự nhiên: nó là cái nhân tạo, trong khi tự nhiên là cái thiên tạo. Tuy nhiên, văn hóa
không phải là sản phẩm của hư vô mà có nguồn gốc tự nhiên. Tự nhiên là cái có trước, tự
nhiên quy định văn hóa:
Thứ nhất, tự nhiên tạo nên con người; con người tạo nên văn hóa; văn hóa là sản phẩm
trực tiếp của con người và gián tiếp của tꢉ nhiên. Thứ hai, trong quá trình sáng tạo văn
hóa, con người vẫn phải sử dụng năng lꢉc tꢉ nhiên tiềm tàng của chính mình (bộ não).
Và thứ ba, trong quá trình sáng tạo văn hóa, con người vẫn phải sử dụng các tài nguyên
phong phú của tꢉ nhiên. Tóm lại, văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người.
Sự tác động của của con người đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (luyện quặng
để chế tạo đồ dùng, dùng gỗ để đẽo tượng,…) hoặc mang tính tinh thần như đặt tên, tạo truyền
thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên như Vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu,…
d. Tꢃnh lịch sử
Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình
và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề một chiều sâu và chính
nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị.
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống
(truyền: chuyển giao, thống: nối tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không
gian và thời gian trong cộng đồng.
7
1.2.2.2. Chức năng của văn hóa
a. Chức năng tổ chức xã hội
Xã hội loài người được tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những làng xã,
quốc gia, đô thị, hội đoàn, tổ nhóm, v.v. mà giới động vật chưa hề biết tới – đó là nhờ văn hóa.
Làng xã, quốc gia, đô thị… của mỗi dân tộc mỗi khác nhau. Cùng là chủ nghĩa tư bản,
nhưng chủ nghĩa tư bản Mỹ khác với chủ nghĩa tư bản châu Âu và khác với chủ nghĩa tư bản
Nhật Bản. Tất cả những khác biệt đó đều do sự chi phối của văn hóa. Chính tính hệ thống của
văn hóa là cơ sở cho chức năng này.
b. Chức năng điều chỉnh xã hội
Mọi sinh vật đều có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh bằng cách tự
biến đổi mình sao cho phù hợp với tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên. Con
người thì hành xử theo một cách thức hoàn toàn khác hẳn: dùng văn hóa để biến đổi tự nhiên
phục vụ cho mình bằng cách tạo ra đồ ăn, quần áo, nhà cửa, vũ khí, máy móc, thuốc men…
Chức năng điều chỉnh xã hội hình thành trên cơ sở của tính giá trị và tính biểu trưng
của văn hoá. Các giá trị văn hóa không phải là bất biến. Tuỳ theo hệ giá trị đã được điều
chỉnh mà mọi ứng xử, hành động sẽ được điều chỉnh một cách tương ứng. Nhờ có chức năng
điều chỉnh, văn hóa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển trong xã hội loài người.
c. Chức năng giao tiếp
Xã hội không thể hình thành và tồn tại được nếu thiếu sự giao tiếp. Văn hóa tạo ra
những điều kiện và phương tiện cho sự giao tiếp ấy, văn hóa là môi trường giao tiếp của
con người. Đến lượt mình, văn hóa cũng là sản phẩm của giao tiếp. Tính nhân sinh là cơ sở
cho chức năng giao tiếp của văn hóa.
d. Chức năng giáo dục
Văn hóa thực hiện được chức năng giáo dục trước hết là do nó có năng lực thông tin
hoàn hảo.
Ở động vật, thông tin được mã hóa trong cấu trúc tế bào thần kinh và truyền đạt bằng
8
con đường di truyền; ở động vật cao cấp, thông tin còn được truyền đạt bằng cách quan sát
và bắt chước hành vi của cha mẹ. Trong cả hai trường hợp, từ thế hệ này sang thế hệ khác,
lượng thông tin không tăng lên.
Nhờ văn hóa, thông tin được mã hóa bằng những hệ thống ký hiệu tạo thành những
sản phẩm nằm ngoài con người. Chúng được cố định hóa và khách quan hóa dưới dạng
ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận... Do vậy mà chúng được chuyển
giao qua không gian (tạo nên sự giao lưu văn hóa) và qua thời gian (tạo nên truyền thống văn
hóa). Đó chính là chức năng giáo dục của văn hóa. Nhờ chức năng này, thông tin được tích
luỹ, được nhân bản và tăng lên nhanh chóng.
Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con
người, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa đưa con người gia nhập vào cộng đồng
xã hội; bởi vậy mà có người gọi chức năng này của văn hóa là chức năng xã hội hóa.
Văn hóa bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội. Văn hóa vừa là nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực phát triển của xã hội xuyên suốt thời gian và
không gian. Chức năng thứ năm này là tổng hoà của cả bốn chức năng trên, bao gồm chúng
trong mình; bởi vậy, khi đã nói đến bốn chức năng kia thì không nhất thiết phải nói đến chức
năng này, và, ngược lại, khi đã nói đến chức năng này thì không nhất thiết phải nói đến bốn
chức năng kia.
1.2.3. Phân biệt văn hóa và văn minh, văn hiến, văn vật
Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng khái niệm VĂN MINH (civilization) như một từ
đồng nghĩa với VĂN HÓA. Tuy nhiên, khi nhắc đến văn minh người ta thường nghĩ đến các
tiện nghi vật chất. Như vậy, văn hóa và văn minh khác nhau trước hết ở tính giá trị: trong khi
văn hóa là một khái niệm bao trùm, chứa cả cꢇc giꢇ trị vꢅt chất lẫn tinh thần thì văn minh
thiên về các giꢇ trị vꢅt chất mà thôi.
Văn hóa và văn minh khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn có bề dày của
quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, chỉ cho biết trình độ phꢇt triển
của văn hóa. Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại. Chẳng hạn, nếu như đầu thế kỷ
9
XIX, chiếc đầu máy hơi nước là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, nó trở thành
biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy vi tính,…
Sự khác biệt về giá trị và tính lịch sử của văn hóa và văn minh dẫn đến sự khác biệt về
phạm vi: Văn hóa mang tính dân tộc, bởi lẽ nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử, mà cái tinh
thần và cái lịch sử là của riêng của một dân tộc; còn văn minh có tính quốc tế, nó đặc trưng
cho cả một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà vật chất thì
dễ lây lan, phổ biến.
Về nguồn gốc, văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương đông nông nghiệp, còn văn minh
gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị. Các nền văn hóa cổ đại hình thành nên 2000 năm
TCN như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa,… đều là sản phẩm của phương Đông. Nền
văn hóa phương Tây sớm nhất là Hy Lạp thì cũng xuất hiện sau các nền văn hóa phương
Đông hàng nghìn năm (thế kỷ XI-III TCN) và được hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành
tựu của các nền văn hóa phương Đông gần nó nhất là Ai Cập và Lưỡng Hà (hệ thống thần
thoại, lịch pháp, chữ viết).
Về vị trí và đặc điểm kinh tế thì các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu
vực các con sông lớn là những nơi sản xuất nông nghiệp. Trong ngôn ngữ phương Tây thì văn
hóa bắt nguồn từ chữ cultus tiếng Latinh có nghĩa là “trồng trọt”, từ “trồng trọt” phát triển ra
nghĩa “chăm sóc” (cây cối), từ “chăm sóc” (cây cối) dẫn đến “giáo dục” (chăm sóc con
người). Trong khi đó thì từ “văn minh” trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ
civitas, tiếng Latinh có nghĩa là “thành phố”.
Như vậy, VĂN MINH là khꢇi niệm mang tính quốc tế, có nguꢂn gốc từ phương Tây đô thị
vꢈ chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yếu về phương diện vật chất.
* Ở Việt Nam còn có khái niệm văn hiến, văn vật.
Văn hiến (văn: văn hóa, hiến: hiền tꢈi): Văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do
những người có tài đức chuyên chở. Một nước văn hiến là nước có truyền thống văn hóa lâu
đời, có đời sống văn hóa tinh thần phát triển thể hiện ở văn chương, sách vở, phong tục tập
quán, điển chương chế độ và nhân tài, anh hùng hào kiệt.
10
Văn vꢅt là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.
Ta có thể thấy văn hiến và văn vꢅt là hai khái niệm bộ phận của văn hóa. Chúng chỉ
khác nhau ở mức độ bao quát các giá trị: Văn hiến là văn hóa thiên về “truyền thống lâu đời”,
mà truyền thống lâu đời còn lưu giữ được không bị chiến tranh và thời gian hủy hoại chính là
các giá trị tinh thần, còn văn vꢅt là văn hóa thiên về các giá trị vật chất (nhân tài, di tích, công
trình, hiện vật).
Văn hóa
Văn hiến
Văn vật
Văn minh
Bao gồm cả giá trị
vật chất lẫn tinh
thần
Thiên về giá trị
tinh thần
Thiên về giá trị
vật chất
Thiên về giá trị vật
chất – kỹ thuật
Có bề dày lịch sử
Chỉ trình độ phát
triển
Có tính dân tộc
Có tính quốc tế
Gắn bó nhiều với
Gắn bó nhiều với
phương Tây đô thị
phương Đông nông nghiệp
1.3. Cấu trúc của văn hóa
1.3.1. Cấ
u trúc hai thành phần
1.3.1.1. Văn hóa vꢅt chất và tinh thần
Văn hóa vật chất thường được xem là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt
động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng
ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại…
Văn hóa tinh thần thường được xem là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt
động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật,
phong tục, lễ hội, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…
Sự phân biệt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần này mới nhìn tưởng như khá rõ
11
ràng và hiển nhiên, song khi đi vào xem xét từng trường hợp cụ thể thì sẽ gặp rất nhiều lúng
túng.
Sự phức tạp của việc xác định giá trị của một đối tượng là vật chất hay tinh thần
trước hết nằm ở tính thống nhất cao, cũng là tính nưꢋc đôi, của các đối tượng văn hóa: Mọi
đối tượng đều được làm ra bằng cả chất liệu vật chất lẫn tinh thần; cái vật chất và cái tinh
thần luôn đi đôi với nhau.
Các sản phẩm văn hóa vật chất trước khi được làm ra trên thực tế đã phải được
làm ra (hình dung) trong óc. Do vậy, mọi giá trị văn hoá vật chất đều mang trong mình giá
trị tinh thần; nếu giá trị vật chất không có giá trị tinh thần thì chưa trở thành văn hoá.
Ngược lại, các giá trị văn hoá tinh thần muốn phát huy được tác dụng thì luôn phải tồn
tại trong giá trị văn hoá vật chất; sản phẩm tinh thần mà không vật chất hóa (làm thành pho
tượng, quyển sách...) thì không thể nào chuyển giao và phát huy tác dụng được.
Sự phức tạp của việc xác định giá trị của một đối tượng là vật chất hay tinh thần còn
do khả năng chuyển hoá giữa giá trị vật chất & tinh thần. Trong thực tế, giá trị văn hóa vật
chất và tinh thần có thể chuyển hóa cho nhau.
1.3.1.2. Văn hóa vꢅt thể và phi vꢅt thể
Để khắc phục những rắc rối khi dựa vào chất liệu để phân loại các đối tượng thành
văn hoá vật chất và tinh thần, nhất là trong công tác kiểm kê và lưu giữ các giá trị văn hóa,
UNESCO đã có sáng kiến thay cặp đối lập “vật chất - tinh thần” bằng cặp đối lập tangible -
intangible (“hữu hình - vô hình” hay “vật thể - phi vật thể”).
Văn hóa vật thể, hay hữu hình (tangible), là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo
và tích lũy bằng hoạt động biến đổi tự nhiên, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có thể nhận biết
bằng các giác quan như đồ vật, nhà cửa, đình chùa, đền miếu, lăng mộ, v.v..
Văn hóa phi vật thể, hay vô hình (intangible), là tiểu hệ các giá trị do con người
sáng tạo và tích lũy không có biểu hiện vật chất, không thể nhận biết bằng các giác quan.
Văn hóa phi vật thể bao gồm những loại giá trị như ngôn ngữ, huyền thoại, văn
chương truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, nghi thức, phong tục, kinh nghiệm y
12
dược cổ truyền, bí quyết nấu ăn, bí quyết nghề thủ công truyền thống, v.v… Để lưu giữ,
chúng phải được vật chất hoá bằng những kỹ thuật đặc biệt như thu âm, thu hình.
1.3.2. Cấu trúc ba thành phần
Trần Ngọc Thêm (1991): Văn hóa nhꢅn thức
- tổ chức - ứng xử
Là cách phân loại các giá trị văn hóa theo hoạt động. Các giá trị văn hóa được chia làm
ba loại theo cách thức hoạt động là: văn hóa nhꢅn thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử.
Văn hóa nhận thức nếu xét về đối tượng nhận thức thì có thể chia tiếp thành văn hóa
nhận thức về vũ trụ và văn hóa nhận thức về con ngưꢁi. Còn xét về mức độ nhận thức thì văn
hóa nhận thức có thể chia thành văn hóa nhận thức cảm tính (như tín ngưỡng, tôn giáo, tri
thức dân gian, tri thức đạo học) và văn hóa nhận thức lý tính (khoa học kỹ thuật truyền
thống).
Văn hóa tổ chức xét về đối tượng tổ chức thì có thể chia thành văn hóa tổ chức đꢁi
sống tꢅp thể và văn hóa tổ chức đꢁi sống cá nhân.
Văn hóa ứng xử với môi trường xét về đối tượng ứng xử thì có thể chia thành văn hóa
ứng xử với môi trưꢁng tꢉ nhiên và văn hóa ứng xử với môi trưꢁng xã hội. Còn xét về cách
thức ứng xử thì có thể chia thành văn hóa tꢅn dụng môi trường và văn hóa đối phó với môi
trường.
CÂU HỎI
1. Nêu định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm, các đặc trưng và chức năng của văn hóa rút
ra từ định nghĩa này.
2. Phân biệt các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật.
3. Trình bày cấu trúc của văn hóa và các bộ phận của nó.
13
Chương 2. ĐỊNH VỊ VĂN HÓA VIỆT NAM
2.1. Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
Nói đến sự khác biệt văn hóa, lâu nay thường hay nhắc đến sự khác biệt phương
Đông và phương Tây.
Phương Đông và phương Tây dưới góc độ văn hóa được hình thành trong khu vực cựu
lục địa Á-Âu (Eurasia). Phương Đông = Đông Nam; phương Tây = Tây Bắc. TÂY BẮC:
Lạnh, khô, băng tuyết, địa hình đơn giản. ĐÔNG NAM: Nóng, ẩm, sông nước, địa hình
phức tạp.
Từ sự khác biệt ban đầu này về điều kiện tự nhiên dẫn đến hàng loạt khác biệt về văn
hoá (kinh tế, lối sống, tổ chức xã hội...).
Môi trường sống của cư dân phương Đông (Đông Nam) là xứ nóng sinh ra mưa nhiều
(ẩm), tạo nên các con sông lớn với những vùng đꢂng bằng trù phú. Còn phương Tây (= Tây
Bắc) là xứ lꢆnh với khí hậu khô, không thích hợp cho thực vật sinh trưởng, có chăng chỉ là
những vùng đꢂng cỏ mênh mông. Hai loại địa hình này khiến cho cư dân hai khu vực phải
sinh sống bằng hai nghề khác nhau: trꢂng trọt và chăn nuôi.
Kinh tế trồng trọt bắt buộc người dân phải sống định cư để chờ cho cây cối lớn lên, ra
hoa kết quả. Kinh tế chăn nuôi thì khác, tài sản của dân du mục là gia súc, gia súc ăn cỏ và
không cố định như cây trồng. Ăn hết bãi cỏ này lại đi đến bãi cỏ khác. Do đó mà người du
mục phải sống du cư, nay đây mai đó lang thang.
PHƯƠNG
ĐÔNG
PHƯƠNG TÂY
Đông – Nam
Nóng – nước
Phức tạp
Tây – Bắc
Lạnh – khô
Thảo nguyên
Chăn nuôi
Tự nhiên
Địa hình
Kinh tế
Tự nhiên
Địa hình
Kinh tế
Trồng trọt
14
Định cư
Du cư
Thương nghiệp
Định cư
Lối sống
Lối sống
Kinh tế
Nông thôn
TC xã hội
Lối sống
TC xã hội
Kinh tế
Đô thị
Công nghiệp
Văn minh
Văn hóa
Thành tựu
Thành tựu
VĂN HÓA GỐC NÔNG NGHIỆP
VĂN HÓA GỐC DU MỤC
Xét về đặc tính, văn hoá gốc nông nghiệp phương Đông thiên về tính tĩnh (âm tính),
văn hoá gốc du mục phương Tây thiên về tính động (dương tính).
*Mỗi loại hình văn hoá này có một chùm đặc trưng điển hình như sau:
a. Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải
sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc nhiều
vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với tự
nhiên. Người Việt mở miệng là nói "lạy trời", "nhờ trời", "ơn trời"...
Còn dân du mục thì nếu thấy nơi này không thuận tiện thì dễ dàng bỏ đi nơi khác, dẫn
đến tâm lý coi thường thiên nhiên. Bởi vậy mà các nền văn hóa phương Tây trọng động
luôn mang trong mình tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên.
Mỗi thái độ đều có mặt hay dở của nó. Tôn trọng thiên nhiên có cái hay là gìn giữ
được môi trường sống tự nhiên nhưng có cái dở là khiến con người trở nên rụt rè, e sợ. Coi
thường thiên thiên có cái hay là khuyến khích con người dũng cảm đối mặt với tự nhiên,
khuyến khích khoa học phát triển nhưng có cái dở là hủy hoại môi trường.
Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả
mọi hiện tượng thiên nhiên (Trông trꢁi, trông đất, trông mây; trông mưa, trông gió, trông
ngꢈy, trông đêm...) cho nên, về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp
kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ,
mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn
15
biện chứng là chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho
kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quꢆ tắm thì rꢇo, sꢇo tắm thì mưa;
Rꢇng mꢄ gꢈ, ai có nhꢈ phải chống; Đưꢊc mùa lúa thì úa mùa cau, đưꢊc mùa cau thì đau
mùa lúa...
Ngược lại, đối tượng quan tâm của nghề chăn nuôi không tản mạn mà tập trung vào
đàn gia súc, con vật. Do đó mà trong lĩnh vực nhận thức thì thiên về tư duy phân tích (theo
lối khách quan, lí tính và thực nghiệm, dẫn đến kết quả là khoa học phương Tây phát triển),
đồng thời chú trọng các yếu tố (dẫn đến lối sống thực dụng, thiên về vật chất)
b. Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng
tình. Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ
sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bꢂ cꢇi lꢃ không bằng một tꢃ cꢇi tình. Lối sống trọng tình cảm
tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.
Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà => coi trọng cꢇi bếp =>
coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và rõ nét: Phụ nữ Việt Nam là người quản lí
kinh tế, tài chính trong gia đình - người nắm tay hòm chìa khóa. Chính bởi vậy mà người
Việt Nam coi Nhất vꢊ nhì trꢁi; Lệnh ông không bằng cꢂng bꢈ...; còn theo kinh nghiệm dân
gian thì Ruộng sâu trâu nꢇi, không bằng con gꢇi đầu lòng. Phụ nữ Việt Nam cũng chính là
người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tꢆi mẫu, Con dꢆi cꢇi
mang. Vì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái với nghĩa là "mẹ" đã
mang thêm nghĩa "chính, quan trọng": sông cꢇi, đưꢁng cꢇi, đũa cꢇi, cột cꢇi, trống cꢇi, ngón
tay cái, máy cái...
Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp Đông Nam Á này được nhiều học giả
phương Tây gọi là "xứ sở Mẫu hệ" (le Pays du Matriarcat). Cho đến tận bây giờ, ở các dân
tộc ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Chàm hoặc hoàn toàn không chịu ảnh
hưởng như nhiều dân tộc Tây Nguyên (Êđê, Giarai...), vai trò của người phụ nữ vẫn rất lớn:
phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng về ở đằng nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ... Cũng
không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay, người Khmer vẫn gọi người đứng đầu phum, sóc
của họ là mê phum, mê sóc (mê=mẹ), bất kể đó là đàn ông hay đàn bà.
16
Đến với phương Tây thì nguyên tắc tổ chức cộng đồng là trọng sức mạnh, trọng tài,
trọng võ, trọng nam giới. Vào thời La Mã cổ đại, phụ nữ không hề có tên riêng. Cho đến
nay, nhiều nước châu Âu vẫn giữ tục lệ phụ nữ mang họ và tên chồng trong các văn bản
chính thức. Truyền thuyết Thiên chúa giáo coi đàn bà chỉ là cái xương sườn của đàn ông mà
thôi. Trong các ngôn ngữ phương Tây, nhiều danh từ chỉ nghề nghiệp hoặc chức vụ đều
mang giống đực hoặc cấu tạo với từ căn mang nghĩa ngưꢁi đꢈn ông: Chairman, hedman,
shopman, tradesman, newsman, oilman,
Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp
cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp
với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống Ở bầu thì tròn, ở ống thì dꢈi; Đi vꢋi Bụt mặc
áo cà-sa, đi vꢋi ma mặc ꢇo giấy...
Sống theo tình cảm, con người còn phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ
với nhau. Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân chủ phong kiến phương Đông
và nền dân chủ tư sản phương Tây. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí
coi trọng cộng đồng, tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có
tập thể đứng sau. Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật co giãn giờ giấc
(giờ cao su), sự thiếu tôn trọng pháp luật... Lối sống trọng tình làm cho thói tùy tiện càng trở
nên trầm trọng hơn: Một bꢂ cꢇi lꢃ không bằng một tꢃ cꢇi tình... Nó dẫn đến tệ "đi cửa sau"
trong giải quyết công việc: Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế... Trọng tình và linh hoạt
làm cho tính tổ chức của người nông nghiệp kém hơn so với cư dân các nền văn hóa gốc du
mục.
Ngược lại, tư duy phân tích và siêu hình của văn hóa trọng động dẫn đến cách thức tổ
chức cộng đồng theo nguyên tắc. Cuộc sống du cư của tổ tiên khi xưa đòi hỏi con người
luôn phải sống có tổ chức, phải tuân thủ kỷ luật với tính tổ chức cao. Để duy trì được nguyên
tắc, kỷ luật, văn hóa trọng động tạo ra cách cư xử là quyền lực nằm tuyệt đối trong tay người
cai trị (quân chủ).
Tư duy phân tích, cách tổ chức cộng đồng theo nguyên tắc đã dẫn đến một đặc điểm
quan trọng của văn hóa phương Tây là trọng cá nhân.
17
c. Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt
còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến
tranh tôn giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên
chúa giáo...) đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt
Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi
khi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng lại chủ động cầu hòa,
"trải chiếu hoa" cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự.
Trong khi đó, tinh thần trọng võ, lối sống theo nguyên tắc của văn hóa trọng động dẫn
đến lối ứng xử độc tôn trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.
Tiêu chí
VĂN HÓA TRỌNG
VĂN HÓA TRỌNG
ĐỘNG (gốc du mục)
TĨNH (gốc nông nghiệp)
Đồng bằng (ẩm, thấp)
Trồng trọt
Đồng cỏ (khô, cao)
Chăn nuôi
Đặc
Địa hình
trưng
gốc
Nghề
chính
Định cư
Du cư
Lối sống
Tôn trọng, sống hòa hợp
với tự nhiên
Coi thường, tham vọng
chế ngự thiên nhiên
Ứng xử với môi
trường tự nhiên
Thiên về tổng hợp, biện
chứng (trọng quan hệ);
chủ quan, cảm tính, kinh
nghiệm
Thiên về phân tích, siêu
hình (trọng yếu tố);
khách quan, lý tính, thực
nghiệm
Lối nhận thức, tư
duy
Trọng tình, trọng đức,
trọng văn, trọng nữ
Trọng sức mạnh, trọng
tài, trọng võ, trọng nam
Tổ
Nguyên
tắc tổ
chức
cộng
đồng
chức CĐ
Linh hoạt, dân chủ, trọng
cộng đồng
Nguyên tắc, quân chủ,
Cách
trọng cá nhân
thức tổ
18
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_co_so_van_hoa_viet_nam.pdf

