Ca dao về tình yêu đôi lứa từ góc nhìn văn hóa

TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
VIETNAMESE FOLK SONGS OF LOVE FROM CULTURAL PERSPECTIVE  
Ngo Thi Thanh Quy*, Nguyen Minh Anh  
TNU - University of Education  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Vietnamese folk songs are not only beautiful words or ideas of the folk,  
but also contain lessons about the culture and behavior of ancestors  
passed down from generation to generation. The purpose of this study is  
to confirm the originality of ideas, content and art of folk songs when  
from a cultural perspective. In what aspects is the value of cultural  
beauty expressed in folk songs? How do young people properly  
perceive the meaning of love and life, behavior in love as well as in  
marriage and family life? With an interdisciplinary approach to  
literature - culture - education, the article aims to outline the lessons of  
cultural behavior in folk songs and orient students to inherit and  
promote the beauties of culture and tradition. Culture is like a quiet  
source of water, imbued in each folk song. Young people can only  
progress and be steady in life when they stand on the basis of beautiful  
core values.  
Received:  
Revised:  
12/7/2021  
09/8/2021  
09/8/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Folk songs  
Value  
Lessons  
Cultural behavior  
Students  
CA DAO VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA  
Ngô Thị Thanh Quý*, Nguyễn Minh Anh  
Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 12/7/2021  
Ngày hoàn thiện: 09/8/2021  
Ngày đăng: 09/8/2021  
TÓM TẮT  
Ca dao Việt Nam không chỉ là những lời hay ý đẹp của dân gian mà ca  
dao còn hàm chứa những bài học về văn hóa ứng xử của cha ông được  
trao truyền từ đời này qua đời khác. Mục đích của nghiên cứu này  
nhằm khẳng định nét độc đáo về tư tưởng, nội dung, nghệ thuật của ca  
dao về chủ đề tình yêu đôi lứa khi soi chiếu từ góc độ văn hóa. Giá trị  
của vẻ đẹp văn hóa được thể hiện ở những phương diện nào trong ca  
dao? Làm thế nào để giới trẻ nhận thức được đúng đắn về ý nghĩa của  
tình yêu và cuộc sống, về cách ứng xử trong tình yêu cũng như trong  
hôn nhân và hạnh phúc gia đình? Với cách tiếp cận liên ngành văn học  
- văn hóa - giáo dục, bài báo hướng đến khái quát những bài học ứng  
xử văn hóa trong ca dao và định hướng cho học sinh phổ thông kế  
thừa, phát huy những vẻ đẹp của văn hóa truyền thống. Những giá trị  
văn hóa của dân tộc được thể hiện trong những ứng xử rất tinh tế giữa  
con người với con người. Văn hóa như một mạch nước nguồn lặng.  
TỪ KHÓA  
Ca dao  
Giá trị  
Bài học  
Ứng xử  
Học sinh phổ thông  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
63  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
1. Giới thiệu  
Văn học là tấm gương phản chiếu văn hóa. Phương pháp nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn  
hóa ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, văn học  
trên thế giới. Trong công trình Mĩ học sáng tạo ngôn từ, tác giả M.Bakhtin xác định: “Văn học là  
một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của  
toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” [1, tr. 329]. Ở Việt Nam, khuynh hướng  
tiếp cận văn học từ văn hóa được nghiên cứu rải rác trong suốt thế kỉ XX. Nhà phê bình Hoài  
Thanh với điểm nhìn văn hóa Đông, Tây đã có những nhận định định sâu sắc trong “Thi nhân  
Việt Nam” (1941) [2]. Tác giả Trần Nho Thìn trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn  
văn hóa (2003) đã có những minh chứng cụ thể cho mối quan hệ văn học - văn hóa [3]. Tác giả  
Nguyễn Bá Thành với nghiên cứu: Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học (2004) đã đưa ra  
những quan điểm giàu ý nghĩa về văn hóa Việt [4]. Ngoài ra một số tác giả trong giáo trình, sách  
chuyên khảo đã xem tác phẩm văn học dân gian như một cấu trúc văn hóa, kí hiệu văn hóa, văn  
bản của văn hóa, họ đã có đóng góp lớn cho việc nghiên cứu văn học từ điểm nhìn văn hóa.  
Nghiên cứu văn học dân gian nói chung và thể loại ca dao nói riêng từ điểm nhìn văn hóa sẽ giúp  
chúng ta hiểu rõ hơn những giá trị văn hóa của dân tộc và cách thức phản ánh bức tranh văn hóa  
độc đáo của cha ông. Ca dao là một trong những loại hình nghệ thuật có khả năng bao quát, chạm  
tới mạch ngầm sâu thẳm của đời sống văn hóa cũng như chiều sâu tư tưởng, tình cảm, cảm xúc  
của con người. Nghiên cứu về ca dao những ý kiến chủ yếu xoay quanh các vấn đề như sau:  
(1) Hướng nghiên cứu thi pháp nghệ thuật, biểu tượng trong ca dao có các bài viết quan trọng  
về các vấn đề như công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao [5], những thế giới  
nghệ thuật của ca dao [6]. Trong số những nghiên cứu về lĩnh vực thi pháp, tác giả Nguyễn Xuân  
Kính đã đưa ra những quan điểm mang tính tổng thuật chuyên sâu về thi pháp ca dao. Trong đó  
có những vấn đề được trình bày sâu sắc như: thể thơ, kết cấu, không gian nghệ thuật, thời gian  
nghệ thuật, các yếu tố nghệ thuật trong chỉnh thể bài ca dao [7]. Nghiên cứu của các tác giả Lê  
Thị Thắm [8], Nguyễn Thị Ngọc Điệp [9] lại hướng vào những vấn đề chi tiết như: tìm hiểu ý  
niệm đôi - cặp về chủ đề hôn nhân và gia đình trong ca dao người Việt. Vấn đề ngôn ngữ, hình  
ảnh, biểu tượng được bàn sâu trong bài viết của các tác giả Đặng Diệu Trang [10], Ngô Thị  
Thanh Quý [11]. Như vậy, hướng nghiên cứu này các tác giả chủ yếu tập trung phân tích ngôn  
ngữ, biểu tượng, thi pháp của ca dao để khẳng định nét nghệ thuật độc đáo của thể loại hay vào  
bậc nhất trong kho tàng văn học dân gian.  
(2) Hướng nghiên cứu ca dao từ góc nhìn văn hóa cũng đã mang lại những điểm nhìn mới mẻ  
cho chuyên ngành. Các tác giả thường có xu hướng đi vào những chữ “độc” trong ca dao, ví dụ  
như: chữ “nghĩa” [12], chữ “ nhịn” [13] trong văn hóa ứng xử của người Việt, từ “trúc, mai”  
trong ca dao [14]. Qua tục ngữ, ca dao ta có thể tìm hiểu công cuộc xây dựng đất nước, giữ gìn  
bản sắc văn hóa dân tộc [15]. Điều quan trọng hơn trong hướng nghiên cứu này là hầu hết các  
tác giả đều chỉ ra những vẻ đẹp của phong tục tập quán [16], những ứng xử văn hóa truyền thống  
của người Việt [17]. Đây là những nghiên cứu đã gợi mở chiều sâu của những trầm tích văn hóa  
dân tộc, tuy nhiên trong mảng ứng xử về chủ đề tình yêu đôi lứa trong ca dao chưa được đề cập  
đến nhiều.  
(3) Hướng nghiên cứu về chủ đề ca dao và vấn đề bồi đắp tâm hồn thế hệ trẻ cũng đã được các  
tác giả khẳng định qua những nghiên cứu. Tìm trong kho tàng ca dao họ thấy được những bài học  
sâu sắc về Nhân - Trí - Dũng [18]. Các tác giả đã khẳng định ca dao, tục ngữ góp phần quan  
trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc [19]; giáo dục giá trị đạo đức, nhân văn [20];  
giáo dục văn hóa ứng xử cho các thế hệ người Việt [21]. Như vậy, nghiên cứu ca dao về chủ đề  
tình yêu đôi lứa từ góc nhìn văn hóa vẫn còn có những khoảng trống cần bổ sung. Vì vậy, trên cơ  
sở của những người đi trước bài báo này sẽ phân tích những giá trị của vẻ đẹp văn hóa được thể  
hiện trong ca dao về chủ đề tình yêu đôi lứa và gợi mở cho học sinh phổ thông những bài học về  
văn hóa ứng xử trong tình yêu qua ca dao người Việt.  
64  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Nhằm đạt được mục đích đặt ra, bài báo xử lí các vấn đề theo hướng tiếp cận liên ngành: văn  
học - văn hóa - giáo dục. Trước hết chúng tôi tiến hành khảo sát thống kê, phân loại tư liệu trong  
cuốn Kho tàng ca dao người Việt [22]. Chúng tôi đã khảo sát 2225 câu trong đó có 1689 câu ca  
dao viết về tình yêu đôi lứa. Qua kết quả thống kê, phân loại chúng tôi rút ra những kết luận  
khách quan, chính xác và khoa học.  
3. Nội dung  
3.1. Những giá trị văn hóa trong ca dao viết về tình yêu lứa đôi  
Văn hóa ứng xử là một nét đẹp trong đời sống của con người Việt Nam. Nét đẹp trong văn  
hoá ứng xử được cha ông ta lưu giữ, trao truyền từ đời này sang đời khác. Ngày nay, mặc dù xã  
hội đã có nhiều thay đổi nhưng giao tiếp ứng xử vẫn giữ được tầm quan trọng đặc biệt. Nó tạo  
nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo đức trong gia đình, cộng đồng dân cư, trong tình  
bạn, tình yêu, trong nhà trường, trong cả các mối quan hệ kinh tế - chính trị - ngoại giao. Nó là  
chìa khóa để mở ra quan hệ hợp tác, làm cho cuộc sống văn minh và tiến bộ, phát triển. Văn hóa  
ứng xử trong tình yêu, hạnh phúc được thể hiện qua ca dao là những bài học làm người sâu sắc  
đối với các thế hệ người Việt, đặc biệt có ý nghĩa đối với những người trẻ. Ca dao là tài sản tinh  
thần vô giá của con người Việt Nam. Cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về ca dao từ những  
điểm nhìn khác nhau như thiên nhiên trong ca dao, phong tục tập quán trong ca dao,.. nhưng quan  
trọng nhất vẫn là con người văn hóa trong ca dao. Trong tiến trình của sự phát triển xã hội, con  
người luôn tồn tại với hai vai trò: vừa là chủ thể của sản xuất vừa là đối tượng của sự phát triển.  
Đối với văn hóa, con người vừa chủ động tạo ra văn hóa, đồng thời con người cũng là một phần  
của văn hóa, chịu sự tác động của văn hóa. Con người văn hóa trong ca dao thể hiện nếp cảm,  
nếp nghĩ, cách ứng xử trong cuộc sống thường ngày, cách ứng xử trong tình yêu, hạnh phúc, khổ  
đau, bất hạnh. Họ hiện lên trong những phong tục tập quán, trong bề sâu văn hóa tâm linh. Họ  
tiêu biểu cho những tính cách văn hóa của dân tộc. Bài báo này đề cập đến những giá trị văn hóa  
và những bài học ứng xử trong tình yêu lứa đôi thể hiện qua ca dao. Những vần ca dao luôn dạy  
con người biết sống, biết yêu và kiêu hãnh trong tình yêu. Tình yêu đôi lứa được thể hiện ở nhiều  
cung bậc khác nhau và cách biểu lộ thì cũng mỗi người mỗi khác. Ca dao viết về tình yêu với tất  
cả những cung bậc, từ những rung động nhẹ nhàng đến lời tỏ tình tha thiết, từ nỗi nhớ nhung đến  
khát khao gắn bó, từ tình yêu lãng mạn với những kỉ niệm ngọt ngào và có cả những tình yêu  
nghiệt ngã trong sự đối mặt với những lễ giáo, định kiến xã hội,... Tất cả đều là bản đàn nhiều  
cung bậc và cũng hàm chứa nhiều giá trị nhân cách văn hóa của con người Việt Nam mà người  
trẻ rất cần tiếp nối, phát huy.  
3.2. Ứng xử văn hóa trong những lời tỏ tình  
Nếu tình yêu là một hành trình chinh phục thì lời tỏ tình là khúc dạo đầu thật khó khăn. Ca  
dao có muôn vàn cách nói chạm tới sâu thẳm trái tim con người. Nói làm sao cho người mình  
thương hiểu được tình cảm bấy lâu ẩn chứa trong lòng. Ca dao bắt nguồn từ đời sống. Tình yêu  
của nam thanh, nữ tú làng quê gắn liền với đồng ruộng, luống cày, con trâu, cây đa, giếng nước,  
luỹ tre, sân đình. Tình yêu nam nữ cũng hiện lên phong phú đa dạng và đầy màu sắc, mang nhiều  
cung bậc tình cảm khác nhau: buồn vui, thương nhớ, tương tư, dỗi hờn,… Không gian, thời gian  
họ gặp gỡ thường diễn ra vào những dịp lễ hội, đình đám nhưng thuận lợi, phổ biến nhất là khi họ  
gặp nhau trong công việc đồng áng, ngày mùa. Vì thế, khi họ thổ lộ nỗi niềm trong những câu ca,  
thì những tâm tình ấy thường gắn liền với không gian ruộng vườn: Cô kia áo trắng lòa lòa/ Lại  
đây đập đất, trồng cà với anh/ Bao giờ cà chín, cà xanh/ Anh cho một quả để dành mớm con. Còn  
đây là lời tỏ tình rất dễ thương của chàng trai: Tóc ngang lưng vừa chừng em búi/ Để chi dài bối  
rối dạ anh. Cách nói của chàng trai thật hồn nhiên, thành thật và dễ thương. Anh nói như van xin,  
khẩn cầu cô gái hãy búi tóc lên cao đừng để tóc “chấm ngang lưng” khiến lòng anh khổ não, “bối  
65  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
rối”… Nhưng thật ra đó lại là một lời trách đáng yêu, một cách trách khéo léo, trách để mà khen  
và để thổ lộ tình yêu, để giãi bày tâm sự cùng cô gái. “Nhiều câu có lối nói tưởng như không biết  
gì mà vẫn thấy hay… đâu phải là chuyện yêu cầu búi tóc vì tóc khi đã được búi lên, chắc gì đã  
khiến anh hết bối rối, bâng khuâng” (Hoài Thanh). Một nét văn hoá của dân tộc Việt Nam thoáng  
hiện lên trong bài ca dao trên ở mái tóc dài của người thiếu nữ. “Hàm răng mái tóc là góc con  
người”- chính vì lẽ đó, nét dịu dàng, yểu điệu, thướt tha của người con gái trở nên đẹp hơn bao  
giờ hết nhờ mái tóc dài đen nhánh, óng ả. Người thiếu nữ duyên dáng với mái tóc đuôi gà: Một  
thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên. Trong quan niệm thẩm mĩ của người  
Việt Nam, cái đẹp hình thức phải luôn đi liền với vẻ đẹp của tâm hồn, nội tâm. Chăm chỉ, giỏi  
vun vén gia đình, các cô gái sẽ là điểm tựa vững chắc cho các chàng trai dùi mài kinh sử. Mô  
hình: Gái thì giữ việc cửa nhà/ Trai thì thi đỗ cả ba khoa liền là ước mơ của biết bao cô gái. Anh  
về đi học cho ngoan/ Để em cửi vải kiếm quan tiền dài.  
Với mong muốn lấy được người mình yêu, các chàng trai thường sử dụng lối nói bóng bẩy,  
hoa mỹ, với niềm khát khao cháy bỏng trong tình yêu bằng mô tuýp quen thuộc: “ước gì…để  
cho…”: Ước gì anh hóa ra hoa/ Để em nâng lấy rồi mà cài khăn/ Ước gì anh hóa ra khăn/ Để cho  
em đắp, em lăn, em nằm/ Ước gì anh hóa ra gương/ Để cho em cứ ngày thường em soi/ Ước gì  
anh hóa ra cơi/ Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng. Hàng loạt những vật biểu trưng mang tính  
chất sánh đôi được kết hợp nhuần nhuyễn tạo nên sự hòa hợp trọn vẹn và toàn mỹ: hoa - cài khăn,  
chăn - đắp, gương - soi, cơi - cau tươi, cơi - trầu vàng. Đây đều là những đồ vật quen thuộc trong  
không gian văn hoá của người Việt. Từ xưa, trầu cau đã là vật phẩm khởi đầu các lễ nghĩa của  
dân tộc Việt Nam. Tục ăn trầu trở thành một nếp sống đẹp, từ việc tế tự, tang lễ, cưới xin, việc  
vui mừng, việc gì nhân dân ta cũng lấy miếng trầu làm trọng, “Miếng trầu là đầu câu chuyện”.  
Họ mượn trầu cau để ướm lời, thử ý “Tiện đây mời một miếng trầu/ Gọi là nghĩa cả về sau mời  
chào”. Đôi khi chàng trai cũng không dám mạnh dạn bộc bạch tình cảm một cách trực tiếp, cho  
nên cách nói vòng vo lại trở nên hữu hiệu và phù hợp hơn với ngữ cảnh tỏ tình, ví như: Đường xa  
thì thật là xa/ Mượn mình làm mối cho ta một người/ Một người mười chín, đôi mươi/ Một người  
vừa đẹp, vừa tươi như mình. Cách xưng hô “mình” - “ ta” vừa đủ khéo léo để người nghe không  
cảm thấy ngượng ngùng, vừa đủ ngọt ngào nhưng lại không “ảo”, vừa đủ ẩn ý mà vẫn dễ hiểu, vừa  
đủ khoảng cách để gần mà xa. Đó là một cách xưng hô rất “riêng”, tinh tế của người Việt Nam.  
Ca dao về tình yêu đôi lứa vô cùng phong phú, ngoài những lời tỏ tình “đơn phương” từ phía  
chàng trai hoặc cô gái thì kho tàng ca dao còn là những lời đối đáp kín đáo, tế nhị: Đêm trăng  
thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?/ Đan sàng thiếp cũng xin vâng/ Tre  
vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng? Mặc dù khi hát đối đáp thường có đông người dự nhưng chàng  
trai vẫn tưởng tượng ra khung cảnh như chỉ có hai người. Vậy là, anh đã chọn “đêm trăng thanh”  
để ngỏ lời cùng cô gái. Quả thật, câu hỏi của chàng trai sao mà đẹp, vừa rõ ràng nhưng lại rất  
thẳng thắn. Đây là lời tỏ tình nghiêm túc chứ không phải là một sự tán tỉnh, bông đùa. Nhằm đáp  
lại tấm chân tình của chàng trai, cô gái hồi âm bằng câu trả lời rất đỗi chân thành và rất có duyên,  
hài hòa với ý tứ mà chàng trai đã hỏi: Đan sàng thiếp cũng xin vâng/ Tre vừa đủ lá, non chăng  
hỡi chàng? Cô gái không chỉ ngỏ lời đồng ý một cách lịch sự mà còn biết cách chất vấn, hỏi lại  
chàng trai để chứng minh và khẳng định cho sự đồng ý ấy. Do đó, câu trả lời của cô gái rất có  
duyên, chủ động và phần nào còn mang tính chất “tấn công” đối phương. Là cư dân của nền văn  
hóa nông nghiệp lúa nước, lời ăn tiếng nói của người Việt gắn liền với môi trường lao động,  
những yếu tố đó đã tạo nên những câu ca dao chân thực, giản dị thể hiện được tâm hồn mộc mạc  
mà tràn ngập những yêu thương của con người Việt Nam.  
Tóm lại, những bài ca dao tỏ tình mãi sẽ là những bông hoa đẹp trong vườn hoa tình yêu muôn  
sắc ngàn hương. Nó sẽ còn tiếp tục làm rung động hàng triệu trái tim của người Việt Nam - những  
người luôn trân trọng, nâng niu và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Nơi  
giếng nước, gốc đa, sân đình, bờ tre khóm trúc... cùng với những đêm hội hát giao duyên, đốiđáp là  
nơi hẹn hò, nảy nở bao mối tình đẹp của trai gái làng quê. Ca dao đã ghi lại những cung bậc tình  
cảm trong những cảnh huống nảy sinh tình cảm lứa đôi. Những buổi cày cấy, gặt hái, tát nước, làm  
66  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
cỏ nhổ mạ, trên bến dưới thuyền giữa mênh mông sóng nước... Đó không chỉ là không gian lao  
động mà còn là nơi lưu giữ những trầm tích văn hoá lắng sâu trong ứng xử của người Việt.  
3.3. Ứng xử văn hóa trong nỗi nhớ niềm thương  
Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ. Mỗi trái tim yêu lại có cách biểu đạt riêng tiếng lòng  
mình. Mỗi bài ca dao đều ngân rung những nốt nhạc diệu kì của cảm xúc trong giai điệu bất tận  
của tình yêu cuộc sống. Những cung bậc của nỗi nhớ được khắc hoạ trong ca dao có khi là sự  
khắc khoải trong xa cách, những lo lắng buồn phiền khi nhớ nhung, chia li. Yêu nhau, người ta  
nhớ nhau mọi lúc mọi nơi: Bốn mùa xuân - hạ - thu - đông/ Thiếp ngồi dệt vải những trông bóng  
chàng/ Dừa xanh trên bến Tam Quan/ Dừa bao nhiêu trái trông chàng bấy nhiêu. Cặp từ chỉ số  
lượng không hạn định diễn tả rất thành công nỗi nhớ nhung vô hạn của “thiếp’’ khi xa “chàng”.  
Hình ảnh người con gái hiện ra dịu dàng, đằm thắm, luôn biết hi sinh, nhẫn nhịn. Trong xã hội  
phong kiến, người phụ nữ không có tiếng nói, không có quyền đòi hỏi cho hạnh phúc cá nhân của  
mình. Cũng vì thế mà khi nhớ người yêu, họ chỉ có thể bày tỏ tiếng lòng qua những câu hát đầy  
ắp nhớ thương, chất chứa tâm sự: Nhớ ai em những khóc thầm/ Hai hàng nước mắt đầm đầm như  
mưa/ Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ/ Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai? Lối nói thậm xưng với đại từ  
phiếm chỉ đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật độc đáo trong ca dao. Cùng với câu hỏi tu từ và  
điệp từ, bài ca dao rất thành công khi diễn tả tinh tế tâm trạng nhớ mong, lo lắng, ước muốn gắn  
bó lứa đôi. Nhớ người yêu, người ta nhớ tới những nét duyên dáng đáng yêu của người thương:  
Mình về có nhớ ta chăng?Ta về ta nhớ hàm răng mình cười. Có lẽ đó chính là hàm răng đen nhức  
hạt na, kín đáo như trong “nụ cười như thể hoa ngâu’’ đã hớp hồn kẻ tình si. Trong ca dao phản  
ánh tục nhuộm răng và hàm răng đen của người phụ nữ được ca ngợi tôn vinh như một nét đẹp  
văn hóa độc đáo. Răng đen là nét đẹp đáng yêu được xếp vào hàng thứ tư trong cái duyên của  
người con gái qua bài “Mười thương”: Răng đen ai nhuộm cho mình/ Cho duyên mình đẹp, cho  
tình anh say? Đó chính là vẻ đẹp văn hóa một thời của dân tộc. Nhớ thương, lo lắng, ước muốn  
khôn nguôi, tình cảm nồng nàn đằm thắm nhưng cách diễn đạt sao mà ý nhị: Khăn thương nhớ ai/  
Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn vắt lên vai/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn chùi nước  
mắt/ Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt?Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên/ Đêm qua,  
em những lo phiền/ Lo vì một nỗi không yên mọi bề. Nhớ thương trong bài ca dao trở nên có  
cung bậc, sắc điệu qua những biểu tượng nghệ thuật quen thuộc mà gợi cảm. Người con gái  
mượn chiếc khăn, nhờ ngọn đèn nói hộ tâm trạng mình. Trong hệ thống biểu tượng ấy, chiếc  
khăn được nhắc đến đầu tiên. Chiếc khăn phải chăng là kỉ vật của đôi lứa gặp gỡ? Theo thể cách  
vắt dòng, nỗi thương nhớ được lặp lại trong những điệp khúc. Chiếc khăn trong nghệ thuật nhân  
hóa đã thay lời người mang khăn, nâng niu gìn giữ khăn mà thổ lộ nỗi niềm. Kín đáo mà vẫn rất  
mãnh liệt. Nếu như nửa đầu bài ca là nỗi nhớ dâng đầy trong không gian thì hình ảnh ngọn đèn  
trong đêm không tắt lại khắc họa thêm một chiều thời gian nữa để nỗi nhớ hiển hiện đằng đẵng:  
“Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt”. Nỗi nhớ trong tình yêu có sức mạnh chi phối thật lớn.  
Nỗi nhớ biểu hiện ra bên ngoài nhờ khăn, đèn, rồi lặn vào bên trong qua ánh mắt người nhung  
nhớ. Nhưng trong cách nói “Mắt ngủ không yên” dường như đã thấp thoáng những da diết, khắc  
khoải đan xen của một sắc diện tâm trạng khác không chỉ còn là nỗi nhớ. Thì đây, câu kết đã hé  
mở điều đó với người đọc:“Đêm qua em những lo phiền - lo vì một nỗi không yên một bề”. Hóa  
ra không chỉ có nhớ. Còn là phấp phỏng lo phiền “không yên một bề” nữa. Nhưng “không yên  
một bề” - “một bề” lo lắng dằng dặc ấy là gì đằng sau sự nhớ thương mãnh liệt kia? Có lẽ đó là  
cái “một bề” của những phấp phỏng về tương lai hạnh phúc lứa đôi. “Khăn thương nhớ ai?”/  
“Đèn thương nhớ ai?”, “Mắt thương nhớ ai?” - nhưng liệu có ai đang thương nhớ đến mất ăn mất  
ngủ, đến ngẩn ngơ ngơ ngẩn như mình không? Và từ yêu đương, gửi trao, thương nhớ, đến “Ước  
gì ta ở một nhà” là cả một khoảng cách. Thân phận phụ thuộc, khó có thể tự quyết định cuộc đời  
mình trong xã hội xưa, những ràng buộc khắt khe tỏa chiết tình yêu hạnh phúc tự do, những nỗi  
lo lắng thể hiện “Thương anh chẳng dám nói ra/ Sợ mẹ bằng đất sợ cha bằng trời” nhưng sợ nhất  
vẫn là “sợ vầng mây bạc giữa trời mau tan”, đó phải chăng là “một bề” lo lắng trong tâm hồn  
67  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
người con gái? Tiếng tơ lòng của người nghệ sĩ làng quê về yêu thương tình nghĩa đã cất lên như  
vậy đó. Thương nhớ không lửng lơ. Thương nhớ cứ muốn neo đậu vào khát vọng về một mái ấm  
sum họp và tình nghĩa muối mặn, gừng cay. Đó là điều làm nên cảm nhận sâu sắc của người đọc  
về tiếng nói trữ tình trong ca dao. Chiếc khăn, ngọn đèn và đôi mắt thương nhớ, những biểu  
tượng truyền thống ấy cứ thế mà thấm vào tâm hồn của biết bao thế hệ người Việt, chúng ta còn  
thấp thoáng nhận ra điều đó trong những tiếng thơ hiện đại: “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh/  
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây/ Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh/ Sưởi ấm lòng chiến  
sĩ giữa ngàn cây” (Nguyễn Đình Thi). Viết về nỗi nhớ thầm lặng trong ca dao, văn hóa ứng xử  
tinh tế của người xưa, không thể không nhắc đến: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ  
khăng khăng đợi thuyền”. Câu ca dao đã thể hiện sâu sắc nỗi nhớ thương đợi chờ, tấm lòng son  
sắt thuỷ chung của người phụ nữ. Bến ấy vững chãi trước bão dông cuộc đời, câu ca biểu lộ niềm  
tin và hi vọng vào một ngày mai, thuyền sẽ trở lại bến, bến sẽ gặp lại thuyền, đôi lứa sẽ được  
đoàn tụ yên vui hạnh phúc. Thuyền và bến là hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp nhân văn, thể  
hiện một cách độc đáo cảm hứng nhân đạo về tình yêu đôi lứa, khát vọng được sống trong sum  
họp yên vui của hạnh phúc lứa đôi. Những bài ca dao nói về tình yêu, về nỗi nhớ thật khó mà kể  
xiết, trong đó có nhiều bài đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và nội dung. Có lẽ chỉ tình yêu với  
những rung cảm mãnh liệt, bất tận mới giúp nghệ sĩ dân gian sáng tạo được những vần thơ trữ  
tình tuyệt bút sống mãi với thời gian.  
3.4. Ứng xử văn hóa trong sự trách móc, giận hờn  
Tình yêu đẹp diệu kì nhưng không phải tất cả đều đơm hoa kết trái. Những khổ đau hận tình  
cũng muôn cay nghìn đắng, đều in dấu trong ca dao. a) Khi bị ép duyên, trái duyên. Những con  
người văn hóa trong ca dao đã ứng xử thế nào? Giáo lí phong kiến khắc nghiệt xưa kia đã khiến  
không ít những số phận bị đẩy vào hoàn cảnh cuộc sống đau khổ, bất hạnh vì sự ép buộc cưỡng  
hôn của gia đình hoặc do sự phân cách giàu nghèo. Những quan niệm “môn đăng hộ đối”, “cha  
mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã chi phối mạnh mẽ tới cuộc sống của đôi lứa yêu nhau, trong đó phụ  
nữ là người phải chịu nhiều đắng cay, thiệt thòi nhất. Trong cảnh ngộ đó họ bộc bạch lòng mình  
trong những tiếng than. Cay đắng mà sâu sắc, chia lìa mà vẫn thương tiếc khôn nguôi: “Rau sam  
ngắt ngọn còn tươi/ Những nơi em định thì trời không xe/ Những nơi chết rấp bụi tre/ Nhân  
duyên chẳng định giời xe tôi vào. b) Khi bị phụ tình họ phản ứng ra sao? Hạnh phúc của con  
người là yêu và được yêu, nhưng lòng người là thứ khó lường. Từ xưa đến nay, không ít những  
tình yêu tan vỡ do sự phụ bạc. Nhất là trong xã hội xưa, khi người đàn ông được phép “năm thê  
bảy thiếp” thì tình duyên của người phụ nữ càng mong manh. Trong hoàn cảnh ấy họ chỉ biết trao  
gửi nỗi niềm trong những lời ca dao: Đêm năm canh nghe con dế thốt/ Ngày sáu khắc lần đốt  
ngón tay/ Hỡi ai duyên cớ ai bầy: Duyên trăm năm lại bỏ, nghĩa một ngày lại theo? Thơ với  
người là một, ngôn ngữ và tấm lòng là một. Trong ca dao sáng lên những nhân cách văn hóa  
không ghen tuông mù quáng, không chì chiết, ngấm ngầm. Họ lặng lẽ giấu nỗi đau, mạnh mẽ  
vượt qua: “Em tưởng nước giếng sâu/ Em nối sợi gầu dài/ Ai ngờ giếng cạn/ Em tiếc hoài sợi  
dây”. c) Khi bị lỡ duyên - nuối tiếc. Tuổi xuân của người con gái thật ngắn ngủi, thời gian “như  
bóng câu qua cửa sổ”, qua tuổi “còn duyên”, số phận của họ thật bẽ bàng “Còn duyên kẻ đón  
người đưa/Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng/ Còn duyên đóng cửa kén chồng/ Hết duyên ngồi  
gốc cây hồng lượm hoa”. Yêu nhau không lấy được nhau, những tình cảm nảy nở muộn màng khi  
số phận đã an bài như “chim vào lồng”, “cá căn câu”. Tất cả chỉ còn lại trong nỗi niềm nuối tiếc.  
Những lời nhớ thương trách móc, giận hờn, khi thì nặng chịch, khi thì nhẹ nhàng, lúc xót xa, lúc  
lại vu vơ, song tất cả đều đầy ắp nỗi niềm, nồng đượm một tình yêu. Bởi người Việt là vậy -  
trọng tình và nặng tình. Giận thì giận… mà thương lại càng thương! Trong toàn bộ ca dao Việt  
Nam, mảng ca dao viết về tình yêu có một số lượng lớn. Có thể thấy những bài ca dao trữ tình  
trong tình yêu, hôn nhân, dù hạnh phúc, hay đau khổ thì những ứng xử có văn hoá của người Việt  
bao giờ cũng lấy tình làm trọng, lấy nghĩa làm đầu. Tình hết nhưng nghĩa còn, điều đó tạo ra mối  
quan hệ bền chặt, gắn bó, thiêng liêng và sâu sắc.  
68  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
4. Kết luận  
Qua ca dao ta có thể nhận ra “gương mặt văn hóa” trong đời sống tình cảm lứa đôi của cha  
ông. Những câu hò lời hẹn, những thử thách thông minh dí dỏm, những trao lời gửi ý tinh tế của  
cha ông đã được nâng lên thành nghệ thuật giao tiếp. Tìm trong ca dao ta thấy vẻ đẹp văn hóa  
ứng xử tinh tế, chân thành của người xưa, tình yêu của họ bao giờ cũng thuỷ chung, trước sau  
như một. Tình yêu trong ca dao đôi khi ngần ngại, e thẹn, nhưng cũng có lúc mãnh liệt hồ hởi,  
tha thiết. Tình yêu trong ca dao không chấp nhận sự ích kỉ, giả dối mà là những tình cảm tươi  
sáng, thuần khiết. Dù là tiếng yêu trong đau khổ, bất hạnh họ vẫn luôn đấu tranh để đến cái đích:  
được tự do lựa chọn, được yêu bằng trái tim được cùng nhau san cay, sẻ đắng chia ngọt sẻ bùi,  
sống trọn nghĩa của mối tình gừng cay, muối mặn. Những tình cảm trong ca dao sẽ giúp chúng ta  
nhìn nhận lại chính mình về tình yêu và cuộc sống để hạnh phúc chín trong tay. Văn hoá ứng xử  
trong tình yêu thể hiện ở ca dao giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tâm hồn người Việt để sống cho  
xứng đáng. Tình yêu, hạnh phúc chính là cảm xúc, xuất phát từ trực cảm. Cảm xúc đó không ở  
đâu xa mà chính trong những suy nghĩ, rung cảm, sự tin tưởng của một người hướng về người  
khác. Đằng sau hành động hay cử chỉ là sự lắng nghe, dõi theo bằng cả tình cảm và sự tinh tế. Tất  
cả những điều đó làm nên vẻ đẹp văn hóa truyền thống, một vẻ đẹp vốn có trong tình yêu của thế  
hệ trước. Dù ở thời đại nào, có thực dụng tới đâu thì giá trị, sự lãng mạn trong tình yêu không thể  
mất đi. Việc giáo dục cho giới trẻ nhận biết đâu là tình yêu đích thực, đâu là sự cảm mến để khi  
bước vào đời họ trở thành những cặp đôi biết yêu thương, chăm sóc xây dựng gia đình hạnh  
phúc, để tế bào của xã hội phát triển, bền vững.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] M. Bakhtin, Aesthetics of Verbal Art. Moscow: Art Publishing House, p. 329, 1989.  
[2] H. Thanh and H. Chan, Vietnamese poets. Vietnam Literature Publishing House (in Vietnamese),  
Hanoi, 1915.  
[3] B. T. Nguyen, Vietnamese indentity through literary exchange. Vietnam Education Publishing House  
(in Vietnamese), Hanoi, 2006.  
[4] N. T. Tran, Vietnamese medieval literature from a cultural perspective. Vietnam Education Publishing  
House (in Vietnamese), Hanoi, 1998.  
[5] M. N. Bui, “Traditional formula and structural characteristics of folk songs,” (in Vietnamese), Journal  
of Literature, vol. 1, pp. 21-26, 1997.  
[6] T. Y. Pham, The worlds of folk art. VietnamEducation Publishing House (in Vietnamese), Hanoi, 1998.  
[7] X. K. Nguyen, Poetry of folk songs. National University Publishing House (in Vietnamese), Hanoi, 2006.  
[8] T. T. Le, “The concept of couple in Vietnamese folk songs about marriage and family,” (in  
Vietnamese), Journal of Language and Life, vol. 1, pp. 64-67, 2009.  
[9] D. T. Dang, “Nature with the metaphorical and symbolic world in folk songs,” (in Vietnamese),  
Journal of Folklore, vol. 1, pp. 15-23, 2006.  
[10] T. N. D. Nguyen, “The symbolic world of double waves in Vietnamese folk songs,” (in Vietnamese),  
Journal of Folklore, vol. 3, pp. 53-58, 2011.  
[11] T. T. Q. Ngo, “Reading comprehension of languages and images in Vietnamese folk songs,” (in  
Vietnamese), Journal of Literary Research, vol. 6, pp. 17-22, 2020.  
[12] D. Ha, “From the word “gratitude” in folk songs, finding a behavior in the cultural tradition of the  
Vietnamese people,” (in Vietnamese), Journal of Language, vol. 12, p. 58, 2006.  
[13] T. N. G. Tran, “Meaning of the word “forbearance” in Vietnamese and in Vietnamese behavioral  
culture,” (in Vietnamese), Journal of Language, vol. 6, pp.71-74, 2004.  
[14] X. K. Nguyen, “The meaning of the two words “truc” and “mai” in scholarly literature and in folk  
songs,” (in Vietnamese), Journal of Folklore, vol. 4, pp. 22-29, 1987.  
[15] X. K. Nguyen, “Through proverbs and folk songs in Hanoi, learn about the nation's construction and  
preservation of national cultural identity,” (in Vietnamese), Journal of Folklore, vol. 3, pp. 57-67, 1983.  
[16] V. L. Pham, Proverbs and folk songs reflecting Vietnamese customs. University of Social Sciences  
and Humanities Publishing House, Hanoi, 2000.  
[17] T. A. Tran, Traditional behavior with nature and society of Vietnamese people in the Northern Delta  
through folk songs and proverbs. Lao Dong Publishing House (in Vietnamese), 2011.  
69  
TNU Journal of Science and Technology  
226(12): 63 - 70  
[18] X. L. Nguyen, “Folk literature with fostering the national soul for the young generation,” (in  
Vietnamese), Journal of Folklore, vol. 3, pp. 73-82, 1998.  
[19] K. L. Tran, “Contribution to preserving the national cultural identity in the teaching and learning of  
folklore in high schools,” (in Vietnamese), Journal of Folklore, vol. 1, pp. 64-75, 2002.  
[20] D. T. Ta, “Proverbs, folk songs and lullabies with the education of moral and humanistic values,” (in  
Vietnamese), Journal of Folklore, vol. 1, pp. 23-30, 1998.  
[21] T. T. Q. Ngo and T. H. Nguyen, “Educating culture and behavior for high school studen ts through  
Vietnamese folk songs and proverbs,” (in Vietnamese), Journal of literary and artistic criticism, vol.  
6, pp. 80-87, 2018.  
[22] X. K. Nguyen and D. P. Nhat, Treasure of Vietnamese folk songs. National Center for Social Sciences  
and Humanities, Institute of Folklore Research, EastWest Cultural and Language Center, Culture-  
information (in Vietnamese), 2001.  
70  
pdf 8 trang Thùy Anh 13881 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ca dao về tình yêu đôi lứa từ góc nhìn văn hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfca_dao_ve_tinh_yeu_doi_lua_tu_goc_nhin_van_hoa.pdf