Lãnh đạo đạo đức và hành vi nói của nhân viên dưới tác động trao đổi lãnh đạo - thành viên và trao quyền

INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
LÃNH ĐẠO ĐẠO ĐỨC VÀ HÀNH VI NÓI CỦA NHÂN VIÊN DƢỚI TÁC  
ĐỘNG TRAO ĐỔI LÃNH ĐẠO - THÀNH VIÊN VÀ TRAO QUYỀN  
Nguyễn Thị Trang Nhung,  
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội  
Tóm tắt:  
Mục đ ch của bài báo này là kiểm tra ảnh hưởng của lãnh đạo đạo đức và trao đổi lãnh  
đạo-thành viên lên hành vi nói của nhân viên và vai trò điều tiết của hoạt động trao quyền cho  
nhân viên. Dữ liệu được lựa chọn từ 718 nhân viên làm việc toàn thời gian tại các doanh nghiệp  
vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam thông qua bảng hỏi với sự kết hợp các biến: lãnh  
đạo đao đức, trao đổi lãnh đạo-thành viên, hành vi nói của nhân viên và trao quyền cho nhân  
viên. Phân t ch tương quan và hồi quy được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các biến lên  
nhau. Kết quả cho thấy có mối liên hệ mạnh mẽ, tích cực và có ý nghĩa giữa lãnh đạo đạo đức,  
trao đổi lãnh đạo-thành viên, trao quyền cho nhân viên và hành vi nói của nhân viên. Hơn nữa,  
kết quả hồi quy ch  ra rằng hiệu quả tương tác của việc trao quyền cho nhân viên là có giữa trao  
đổi lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên. Nghiên cứu hiện tại cung cấp một gợi ý  
quan trọng cho các tổ chức về tầm quan trọng của lãnh đạo đạo đức để tăng cường hành vi nói  
của nhân viên thông qua trao đổi lãnh đạo-thành viên và trao quyền cho nhân viên. Tổ chức cần  
phải thừa nhận tầm quan trọng của hành vi lãnh đạo đạo đức đối với việc đào tạo và nâng cao  
hành vi đạo đức của người lãnh đạo để tối đa hóa hành vi nói của nhân viên đối với hiệu quả  
của tổ chức.  
Từ khóa: Lãnh đạo đạo đức, Trao đổi lãnh đạo - thành viên, hành vi nói, trao quyền  
THE EFFECT OF LEADER-MEMBER EXCHANGE VÀ EMPOWERMENT ON THE  
RELATIONSHIP BETWEEN ETHICAL LEADERSHIP VÀ EMPLOYEE VOICE  
BEHAVIOR  
Abstract:  
The purpose of this paper is to examine the mediating effect of leader-member exchange  
và the moderating effect of employee empowerment on the relationship between ethical  
leadership và employee voice behavior. Data collected from 718 full time working employees via  
questionnaires, incorporating ethical leadership, leader-member exchange, employee voice  
behavior và employee empowerment. Correlation và regression analysis was to examine the  
relationship, association và effect of the variables on each other. Results indicated a strong,  
392  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
positive và significant association between ethical leadership, leader-member exchange và  
employee empowerment và employee voice behavior. Further regression results specify that  
ethical leadership, leader-member exchange và employee empowerment effect employee voice  
behavior positively và significantly. Results point out that interactive effect of employee  
empowerment is there in between leader-member exchange và employee voice behavior. Current  
study provides a new aspect to focus for the organizations that is importance of ethical  
leadership to enhance employee voice behavior through leader-member exchange và employee  
empowerment. Organization needs to acknowledge the significance of ethical leadership  
behavior to training và enhancing ethical behavior of leader in order to maximize employee  
voice behavior for organization efficiency.  
Keyword: Ethical leadership, Leader-member exchange, employee voice behavior,  
employee empowerment  
1. Giới thiệu  
Lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý. Lãnh đạo chiếm được sự  
quan tâm nghiên cứu của cả các nhà nghiên cứu cũng như các học giả. Gần đây, lãnh đạo được  
coi là có ý nghĩa liên quan đến các vấn đề đạo đức với các vụ bê bối đạo đức gây xôn xao dư  
luận. Brown và cộng sự (2005) cũng đã nhấn mạnh chủ đề này thông qua việc khám phá thuật  
ngữ lãnh đạo đạo đức và ảnh hưởng của nó lên hành vi của nhân viên. Tuy nhiên, mặc dù nghiên  
cứu về lãnh đạo đạo đức là quan trọng, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều giới hạn. Nguyên nhân có  
thể nằm ở sự khó khăn liên quan đến nghiên cứu lãnh đạo đạo đức trong bối cảnh cụ thể. Nghiên  
cứu này sử dụng một thiết kế thực nghiệm để khám phá tác động của lãnh đạo đạo đức và trao  
đổi lãnh đạo-thành viên đối với hành vi nói của nhân viên dưới tác động điều tiết của việc trao  
quyền cho nhân viên.  
Theo Walumbwa và cộng sự (2011), lãnh đạo đạo đức có mức độ ảnh hưởng khác nhau  
đến các quá trình. Những quá trình này bao gồm trao đổi lãnh đạo-thành viên (Treviño và cộng  
sự 2006), trao quyền (Hassan và cộng sự 2013), hiệu suất công việc (Piccolo và cộng sự 2010).  
Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu đã phác họa ảnh hưởng của lãnh đạo đạo đức lên hành vi của nhân  
viên, tuy nhiên rất ít trong số đó nghiên cứu quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa lãnh đạo đạo đức  
và hành vi nói của nhân viên. Hơn nữa, tương đối ít nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng hỗn hợp gián  
tiếp và điều tiết trong mối quan hệ này.  
Do đó nghiên cứu hiện tại kiểm tra quy trình mà lãnh đạo đạo đức ảnh hưởng đến hành vi  
nói của nhân viên thông qua việc phát triển hai cơ chế và kiểm tra mối quan hệ giữa cả trung  
gian và điều tiết để gia tăng hiểu biết về quan hệ phức tạp giữa lãnh đạo đạo đức và hành vi nói.  
Tác giả đề xuất rằng tác động của lãnh đạo đạo đức đối với hành vi nói của cấp dưới được thực  
hiện thông qua 2 cơ chế: vai trò trung gian của trao đổi lãnh đạo-thành viên và vai trò điều tiết  
của trao quyền cho nhân viên.  
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của lãnh đạo đạo đức đối với hành vi nói của nhân  
viên tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam. Lĩnh vực dịch vụ  
được lựa chọn vì sự tăng trưởng bền vững trong thập kỷ qua. Các công ty dịch vụ Việt Nam đã  
393  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
có sự đóng góp đáng kể trong sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế với tỷ lệ cao  
trong tổng sản lượng công nghiệp. Các công ty dịch vụ cũng đóng góp đáng kể vào GDP  
của Việt Nam.  
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu hiện tại đã chuyển tiếp một mô hình tích hợp kiểm tra vai  
trò của lãnh đạo đạo đức trong việc thúc đẩy hành vi nói của nhân viên và trung gian thông qua  
trao đổi lãnh đạo-thành viên. Mô hình này cũng xem xét vai trò điều tiết của trao quyền cho nhân  
viên trong mối quan hệ giữa trao đổi giữa lãnh đạo thành viên và hành vi nói của nhân viên. Do  
đó, nghiên cứu này đóng góp vào tổng quan về lãnh đạo đạo đức, trao đổi lãnh đạo-thành viên,  
hành vi nói của nhân viên và trao quyền cho nhân viên bằng cách làm rõ và nhấn mạnh tầm quan  
trọng của lãnh đạo đạo đức trong việc thúc đẩy hành vi nói của nhân viên thông qua thúc đẩy  
mối quan hệ giữa lãnh đạo và thành viên.  
2. Lý thuyết nền tảng và Giả thuyết  
2.1. Lãnh đạo đạo đức và trao đổi lãnh đạo-thành viên  
Theo Brown và cộng sự (2005), lãnh đạo đạo đức được định nghĩa như “thứ phản ánh  
một hệ giá trị nảy sinh ra từ một thế giới quan nhất quán, dựa trên sự bình đẳng, công lý, các  
nhu cầu và quyền của người khác cũng như của bản thân, một ý thức về những trách nhiệm  
ràng buộc đối với người khác và với xã hội, và những nhu cầu và chuẩn mực chính đáng của  
xã hội”. Hành vi đạo đức của lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng hành vi và  
thái độ của nhân viên (Brown và cộng sự 2005). Bên cạnh đó, trao đổi lãnh đạo-thành viên  
cũng được định nghĩa bởi Graen vả Scandura (1987) như là chất lượng của sự trao đổi giữa  
một nhà lãnh đạo và một nhân viên. Những sự trao đổi này được diễn ra một cách liên tục.  
Thuyết trao đổi lãnh đạo-thành viên luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc trong nghiên cứu  
khoa học tổ chức (Nahrgang và cộng sự 2009). Trao đổi lãnh đạo-thành viên được dựa trên  
cấp độ hỗ trợ cảm xúc và trao đổi về nguồn lực có giá trị giữa một nhân viên và quản lý trực  
tiếp của họ (Walumbwa và cộng sự 2011).  
Lãnh đạo đạo đức có thể thúc đẩy để gia tăng chất lượng trao đổi giữa lãnh đạo và nhân  
viên của họ thông qua một vài cách. Thứ nhất, lãnh đạo đạo đức những người có đạo đức, đáng  
tin cậy và trung thực. Họ là những người ra quyết định có nguyên tắc, và là người quan tâm  
nhiều hơn đến lợi ích của nhân viên, tổ chức và xã hội (Brown và Treviño, 2006). Thứ hai, nhân  
viên cảm thấy rằng các nhà lãnh đạo cam kết với họ khi họ nhận thấy các nhà lãnh đạo chăm sóc  
và chú trọng lợi ích của nhân viên. Như một hệ quả, lãnh đạo đạo đức gia tăng chất lượng cao sự  
trao đổi lãnh đạo-thành viên. Vì vậy, tác giả kỳ vọng rằng có một mối quan hệ tích cực giữa lãnh  
đạo đạo đức và trao đổi lãnh đạo-thành viên.  
Giả thuyết 1. Có một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa lãnh đạo đạo đức và trao  
đổi lãnh đạo-thành viên.  
2.2. Trao đổi lãnh đạo-thành viên nhƣ một trung gian giữa lãnh đạo đạo đức và hành vi nói  
của nhân viên  
Theo Brown và Treviño (2006), Thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964) và thuyết học tập xã  
hội (Bandura và Walters, 1977) làm sáng tỏ lý thuyết về mối quan hệ lãnh đạo đạo đức và hành  
vi của nhân viên. Brown và cộng sự (2005) chứng minh rằng nhân viên của lãnh đạo đạo đức  
394  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
dường như nhận thấy bản thân họ nằm trong mối quan hệ trao đổi xã hội với lãnh đạo của họ bởi  
vì họ nhận được sự đối xử mang tính đạo đức và cảm thấy được tin tưởng. Khi nhân viên cảm  
thấy rằng họ được chăm sóc và được quan tâm tốt nhất bằng cả trái tim từ lãnh đạo của họ, họ  
dường như đáp lại bằng cách cải thiện hành vi nói của họ. Do đó chúng tôi phát hiện ra rằng lãnh  
đạo đạo đức dường như ảnh hưởng đến hành vi nói của nhân viên bằng cách gia tăng chất lượng  
của sự trao đổi giữa lãnh đạo và nhân viên. Và tác giả lập luận lý do lãnh đạo đạo đức dự đoán  
hành vi nói của nhân viên là bởi hành vi lãnh đạo đạo đức làm gia tăng chất lượng của sự trao  
đổi lãnh đạo-thành viên. Đổi lại, chất lượng của trao đổi lãnh đạo-thành viên cao sẽ thúc đẩy  
hành vi nói của nhân viên.  
Khái niệm nói được đình nghĩa bởi một số học giả. Theo Hirschman (1970), nói hay phát  
ngôn là ―bất kỳ nỗ lực nào đó để thay đổi thay vì thoát khỏi tình trạng khó chịu‖ (p.70). Thibaut  
và Walker (1975) định nghĩa nói như một cơ hội để trình bày ý kiến của một người trước người  
đưa ra quyết định. Nói là một loại hành vi thể hiện ra bên ngoài mà có thể chỉ ra vấn để và gợi ý  
làm cho mọi thứ tốt hơn.  
Các nghiên cứu trước đây đã tìm ra rằng tồn tại một mối quan hệ tích cực giữa trao đổi  
lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên. Những nhân viên có mối quan hệ tương đối  
cao hơn với lãnh đạo của họ có thể cảm thấy có nghĩa vụ phải đáp lại lãnh đạo của họ thông qua  
việc tham gia vào các hành vi có thể hiện bên ngoài để thực hiện các nghĩa vụ có đi có lại  
(Gerstner và Day, 1997). Như một hệ quả, những nhân viên này nhận thấy rằng lãnh đạo của họ  
đối xử với họ bằng sự tôn trọng và lòng tự trọng. Vì vậy, họ cảm thấy tăng cảm giác an toàn để  
trình bày quan điểm và mối quan tâm của họ.  
Theo đó, tác giả đề xuất giả thuyết sau:  
Giả thuyết 2. Trao đổi lãnh đạo-thành viên trung gian mối quan hệ giữa lãnh đạo đạo  
đức và hành vi nói của nhân viên.  
2.3. Trao quyền cho nhân viên và hành vi nói của nhân viên  
Theo Conger và Kanungo (1988), khái niệm trao quyền được định nghĩa là một quá trình  
nâng cao cảm giác tự hiệu quả giữa các thành viên tổ chức thông qua việc xác định các điều  
kiện thúc đẩy tình trạng không có quyền hành và thông qua việc loại bỏ chúng bằng cả thực hành  
tổ chức chính thức và kỹ thuật không chính thức cung cấp thông tin một cách hiệu quả‖ (trang  
474). Bên cạnh đó, Detert và Burris (2007) định nghĩa nói như ‗việc cung cấp thông tin một cách  
tùy ý nhằm cải thiện chức năng của tổ chức có thể thách thức và làm đảo lộn hiện trạng của tổ  
chức và người nắm giữ quyền lực của tổ chức‖ (trang 869). Hành vi nói của nhân viên là một  
trong những đặc điểm quan trọng nhất thể hiện sự tham gia của nhân viên. Michael Armstrong  
(2006) khẳng định rằng có một mục đích cụ thể khi nhân viên nói. Thứ nhất nói để thể hiện sự  
không hài lòng của cá nhân đối với quản lý hoặc tổ chức. Thứ hai việc nói của nhân viên như là  
sự thể hiện của tổ chức tập thể đối với quản lý. Thứ ba, nói góp phần vào việc ra quyết định quản  
lý, đặc biệt là về tổ chức công việc, chất lượng và năng suất. Cuối cùng, hành vi nói của nhân  
viên thể hiện sự tương hỗ của mối quan hệ chủ và nhân viên.  
Hành vi trao quyền của lãnh đạo cho nhân viên có thể sáng tạo một mội trường mà  
khuyến khích nhân viên bày tỏ ý tưởng của họ và nâng cao năng lực bản thân của nhân viên.  
395  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Nghiên cứu của Gao và cộng sự (2011) khẳng định rằng lãnh đạo trao quyền có thể điều chỉnh  
mối quan hệ giữa sự tin tưởng của nhân viên vào lãnh đạo và hành vi nói. Van Dijke và cộng sự  
(2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa lãnh đạo trao quyền và hành vi công dân tổ chức. Vì vậy,  
tác giả đưa ra giả thuyết rằng:  
Giả thuyết 3. Hành vi trao quyền của lãnh đạo có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến hành  
vi nói của nhân viên.  
2.4. Trao quyền cho nhân viên nhƣ một điều tiết giữa trao đổi lãnh đạo-thành viên và hành  
vi nói của nhân viên  
Nhiều học giả đã kiểm tra ảnh hưởng của trao đổi lãnh đạo-thành viên và trao quyền cho  
nhân viên lên hiệu quả hoạt động đầu ra của nhân viên thông qua các nghiên cứu thực nghiệm  
(Gao và cộng sự 2011; Seibert và cộng sự 2004). Mặc dù Harris và cộng sự (2009) đã kiểm tra  
ảnh hưởng có ý nghĩa của trao đổi lãnh đạo-thành viên và trao quyền lên sự hài lòng về công  
việc, hiệu suất, hành vi công dân tổ chức và doanh thu. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu có sẵn  
liên quan đến kết quả có thể xảy ra như hành vi nói của nhân viên.  
Trao quyền kinh nghiệm cho nhân viên từ quản lý cấp cao ảnh hưởng đến mối quan hệ  
giữa trao đổi lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên như thế nào? Khi nhân viên được  
trao quyền, họ có thể chia sẻ thông tin và mở ra đường dây liên kểt. Mối quan hệ tin cậy giữa  
lãnh đạo và nhân viên được tăng lên khi nhân viên được phép tham gia vào việc ra quyết định.  
Hơn nữa. mối quan hệ giữa trao đổi lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên là tích cực  
khi họ có động lực bày tỏ quan điểm của họ. Mặt khác, việc chia sẻ thông tin và trao đổi tài  
nguyên có thể sẽ kém hiệu quả hơn khi khả năng trao quyền thấp (Cropanzano và Mitchell,  
2005). Vì vậy, mối quan hệ giữa trao đổi lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên là  
mạnh mẽ khi kinh nghiệm của nhân viên ở cấp độ cao của việc được trao quyền.  
Giả thuyết 4.Trao quyền cho nhân viên điều tiết tích cực mối quan hệ giữa trao đổi lãnh  
đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên. Mối quan hệ này sẽ mạnh mẽ hơn đối với những  
nhân viên có cấp độ cao hơn về việc được trao quyền so với những nhân viên có cấp độ thấp về  
trao quyền.  
Trao quyền  
Lãnh đạo đạo  
đức  
Trao đổi lãnh đạo-  
Hành vi nói  
thành viên  
Hình 1. Mô hình lý thuyết  
396  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
3. Phƣơng pháp  
a. Đối tƣợng tham gia khảo sát  
Người tham gia khảo sát là 718 nhân viên làm việc toàn thời gian trong các doanh nghiệp  
vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam. Dữ liệu được lựa chọn thông qua mẫu thuận  
tiện. Dữ liệu được điền để thể hiện sự nhận thức của nhân viên. Thông tin người tham gia được  
đảm bảo về tính bảo mật.  
Tỷ lệ phản hồi là 47.87% từ tổng số 1500 phiếu được phát ra (718 phiếu hoàn thiện và có  
thể sử dụng). Nhân viên nữ chiếm 53.8% trong tổng số mẫu. Độ tuổi người tham gia dao động  
trong khoảng từ 23 tới 55 tuổi với dưới 25 tuổi chiếm 15.3 %, 26-35 tuổi chiếm 44.8%, 36-45  
tuổi chiếm 28.4%, và trên 46 tuổi chiếm 11.4%. Hơn 82% người phản hồi đã hoàn thành chương  
trình cao đẳng và đại học và sau đại học. Nhân viên có thời gian gắn bó với công việc từ 0.5 đến  
14 năm với dưới 1 năm chiếm 16%, 1-5 năm chiếm 42.3 %, 5-10 năm chiếm 30.6% và trên 10  
năm chiếm 11%.  
b. Thang đo  
Các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu này vì hai lý do. Thứ nhất, những thang đo  
này có độ tin cậy cao dựa trên những nghiên cứu của các học giả trước đây. Thứ hai, việc khám  
phá các hành vi và thái độ của nhân viên thông qua những thang đo này có liên quan đến nghiên  
cứu hiện tại.  
Lãnh đạo đạo đức được đo lường thông qua 10 biến quan sát được phát triển bời Brown  
và cộng sự (2005). Độ tin cậy Cronbach alpha cho thang đo này là 0.897. Trao đổi lãnh đạo-  
thành viên được đo lường với 7 biến quan sát được đề xuất bởi (Scandura và Graen, 1984) với  
độ tin cậy cronbach alpha 0.909. Trao quyền cho nhân viên được đo lường bởi 4 biến quan sát từ  
nghiên cứu của Baird và cộng sự (2017) với độ tin cậy cronbach alpha là 0.961. Hành vi nói của  
nhân viên được đo lường bởi 6 biến quan sát được phát triển từ nghiên cứu của (Van Dyne và  
LePine, 1998), với độ tin cậy cronbach alpha là 0.855. Tất cả các cấu trúc được đánh giá dựa trên  
thang đo Likert 5 điểm để giảm độ phức tạp giữa các thang đo.  
4. Kết quả  
4.1. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)  
Bảng 1. Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tương quan và độ tin cậy  
Trung Độ lệch  
1
2
3
4
bình  
chuẩn  
1
2
Lãnh đạo đạo đức  
3.91  
0.58  
0.707  
Trao đổi lãnh đạo-thành 3.71  
0.58  
.472**  
0.768  
viên  
3
4
Trao quyền  
3.43  
3.77  
1.12  
0.61  
.314**  
.424**  
.185**  
.533**  
0.929  
Hành vi nói  
.160**  
0.711  
Note: ** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).  
The values of square root of AVE for discriminant validity are in parentheses along the  
diagonal  
397  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Bảng 1 thể hiện mối tương quan và các thống kê mô tả khác. Kết quả cho thấy mối tương  
quan đáng kể và tích cực giữa lãnh đạo đạo đức và trao đổi lãnh đạo-thành viên, lãnh đạo đạo  
đức và trao quyền cho nhân viên, lãnh đạo đạo đức và hành vi nói của nhân viên, trao đổi lãnh  
đạo-thành viên và trao quyền cho nhân viên và hành vi nói của nhân viên. Bảng 2 cho thấy kết  
quả của CFA đã vượt qua các tiêu chí phù hợp tốt theo gợi ý của (Bentler và Bonett, 1980). Họ  
cho rằng χ2/df không nên vượt quá 3 (trong nghiên cứu này là 2.870), trong khi giá trị cho NFI  
và CFI phải bằng hoặc lớn hơn 0,1 cho giá trị phù hợp tốt (NFI=0.928, CFI=0.952). Liên quan  
đến giá trị GFI và AGFI, (Scott và cộng sự 1994) và (Seyal và cộng sự 2002) đề xuất các giá trị  
này phải trên 0.8 để đảm bảo độ phù hợp tốt cho mô hình (GFI=0.917, AGFI=0.900). RMSEA  
không nên vượt quá 5 cho độ phù hợp tốt của môi hình nghiên cứu. Vì vậy, mô hình lý thuyết  
cung cấp một sụ phù hợp cho nghiên cứu này.  
Bảng 2. Bảng chỉ số phù hợp của mô hình  
CFA goodness of fit indices  
Chi-square  
Chi-square [χ2]  
Absolute Fit measures  
901.229 Goodness of fit index [GFI]  
0.917  
Degree of freedom [df]  
Chi-square/df [χ2/df ]  
Incremental Fit Indices  
Normed fit index [NFI]  
Comparative fit index [CFI]  
Relative fit index [RFI]  
314  
Adjusted Goodness of fit index 0.900  
2.870  
[AGFI]  
0.047  
Root mean square of error of  
approximation [RMSEA]  
90 percent confidence interval for  
RMSEA  
0.928  
0.952  
0.919  
(0.040-0.045)  
0.027  
Tucker-Lewis  
indices [TLI]  
Coefficient 0.946  
Root mean squared residual [RMR]  
Normed χ2  
Tác giả kiểm tra hệ số tải, phương sai trung bình trích xuất (AVE) và độ tin cậy tổng hợp  
(CR) để đánh giá tính hợp lệ hội tụ của các biến. Các kết quả được thể hiện rõ trong bảng 3. Tất  
các các giá trị độ tin cậy tổng hợp nằm trong khoảng từ 0.858 đến 0.962 đảm bảo cao hơn mức  
tối thiểu cho giá trị CR theo đề xuất của (Bagozzi và Yi, 1988), trong khi đó giá trị AVE phân bố  
từ 0.500 tới 0.863 vượt qua ngưỡng 0.5 (Fornell và Larcker, 1981). Mặt khác, theo bảng 3, tất  
các các hệ số tải được tìm thấy ở mức ý nghĩa 0.001 level (tất cả các giá trị đều trên 0.603). Vì  
vậy các tải trọng cung cấp một đóng góp đáng kể cho mỗi cấu trúc thang đo. Và cũng chính vì  
thế không có vấn đề nào liên quan đến giá trị hội tụ trong các thang đo. Hơn nữa. tất cả các giá  
trị Cronbach‘s alpha đều trên 0.7, thể hiện tính nhất quán và hiệu lực nội bộ cao của các biến.  
Để kiểm tra tính hợp lệ của thang đo (the discriminant validity), căn bậc hai của phương  
sai trung bình trích xuất (the square root of the AVE) được so sánh với các giá trị tương quan của  
các biến với nhau. (Chin và cộng sự 2003) gợi ý rằng căn bậc hai của AVE của mỗi biến tiềm ẩn  
nên lớn hơn tương quan biến đó so với biến khác. Như được thể hiện trong bảng 1, giá trị căn  
bậc hai AVE của mỗi cấu trúc tiềm ẩn là lớn hơn tương quan biến của chính nó với biến khác.  
Ngoài ra, kiểm tra nhân tố đơn của Harman (Harman`s single-factor test) được tiến hành  
để kiểm tra độ lệch chung (the common method bias). Phương sai cao nhất được giải thích cho  
398  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
cả bốn biến là 31.345%, cho thấy không có sai lệch phương thức chung nào trong kết quả nghiên  
cứu của tác giả. (Podsakoff và Organ, 2016).  
Bảng 3. Độ tin cậy tổng thể và hệ số tải  
Factor  
AS  
V
Cronb  
T
Constructs  
AVE  
MSV  
CR  
loading  
s
ach α  
value  
0.500  
0.270 0.897  
0.909  
1 Lãnh đạo đạo đức  
EL1  
0.715  
0.668  
0.696  
0.751  
0.748  
0.709  
0.657  
0.672  
0.690  
0.758  
f.p.  
EL2  
16.173  
18.267  
18.824  
18.839  
18.757  
15.078  
15.796  
17.930  
16.411  
EL3  
EL4  
EL5  
EL6  
EL7  
EL8  
EL9  
EL10  
0.589  
0.333 0.909  
0.909  
Trao đổi lãnh đạo-thành  
0.758  
0.795  
0.791  
0.707  
0.720  
0.788  
0.808  
f.p.  
viên  
LMX1  
21.950  
21.814  
19.206  
19.618  
21.719  
22.333  
LMX2  
LMX3  
LMX4  
LMX5  
LMX6  
LMX7  
0.863  
0.505  
0.118 0.961  
0.333 0.855  
0.962  
0.858  
Trao quyền cho nhân viên  
EE1  
0.928  
0.946  
0.929  
0.912  
f.p.  
EE2  
46.864  
50.236  
50.233  
EE3  
EE4  
Hành vi nói của nhân viên  
EVB1  
EVB2  
EVB3  
EVB4  
EVB5  
EVB6  
0.651  
0.804  
0.820  
0.642  
0.715  
0.603  
f.p.  
17.762  
18.008  
14.856  
16.242  
14.083  
Note: AVE=Average variance extracted; MSV=Maximum shared variance; ASV=Average  
shared variance; CR=Composite reliability; f.p.=Fixed parameter  
399  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
.
Kiểm định giả thuyết  
Để kiểm tra các giả thuyết, SPSS phiên bản 22 đã được sử dụng để tiến hành phân tích  
hồi quy phân cấp. Kết quả được trình bày trong Bảng 4. Để tiến hành kiểm tra, các biến nhân  
khẩu học (tuổi, giới tính, học thức và kinh nghiệm làm việc) được sử dụng như biến kiểm soát để  
giảm ảnh hưởng của nó đối với hành vi nói của nhân viên. Kết quả cho ảnh hưởng trực tiếp (Mô  
hình 1) của lãnh đạo đạo đức lên trao đổi lãnh đạo-thành viên (B= 0.350, p<0.001) thể hiện sự  
kết nối tích cực và ý nghĩa giữa hai cấu trúc hành vi này. Vì vậy H1 được chấp nhận. Bên cạnh  
đó, ảnh hưởng trực tiếp của trao quyền cho nhân viên lên hành vi nói của nhân viên là không có  
ý nghĩa. Do vậy, H3 không được chấp nhận. Cho mô hình biến trung gian, (Mô hình 2), có tồn  
tại một mối quan hệ tích cực giữa lãnh đạo đạo đức và hành vi nói của nhân viên (B=0.146,  
p<0.001); lãnh đạo đạo đức và trao đổi lãnh đạo-thành viên (B=0.350, p<0.001); trao đổi lãnh  
đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên (B=0.215, p<0.001). Sau khi đặt trao đổi lãnh đạo-  
thành viên vào mô hình như một biến trung gian, ảnh hưởng của lãnh đạo đạo đức lên hành vi  
nói của nhân viên giảm (B=0.081, p<0.001). Điều đó thể hiện rằng trao đổi lãnh đạo-thành viên  
ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa lãnh đạo đạo đức và hành vi nói của nhân viên như một trung  
gian hòa giải. Vì vậy, H2 được chấp nhận một phần bởi vì lãnh đạo đạo đức ảnh hưởng trực tiếp  
cũng như thông qua trao đổi lãnh đạo-thành viên (Baron và Kenny, 1986) (Xem hình 1).  
Bảng 4. Kết quả phân tích hồi quy phân cấp cho cá c mối quan hệ Giả thuyết  
Trao đổi lãnh đạo-  
Hành vi nói của nhân viên  
thành viên  
Biến phụ  
Mô hình 3  
Mô hình 1  
Mô hình 2  
thuộc  
Bƣớc  
3.2  
Bƣớc  
1.1  
Bƣớc  
Bƣớc  
Bƣớc Bƣớc  
Bƣớc  
Bƣớc  
3.1  
1.2  
2.1  
2.2  
2.3  
2.4  
Biến điều tiết  
Tuổi  
0.187*** 0.149**  
0.153*** 0.161*** 0.111  
0.057 0.053 0.195  
0.258*** 0.132*** 0.339  
0.336  
0.321  
0.115  
0.193  
0.287  
0.293  
0.085  
0.183  
0.262  
0.296** 0.320* 0.316*  
*
**  
**  
Giới tính  
Kinh nghiệm  
Học vấn  
0.078*  
0.115* 0.107*  
**  
**  
0.182**  
*
0.192* 0.199*  
0.284**  
*
**  
**  
0.287* 0.298*  
**  
**  
Biến độc lập  
Lãnh đạo đạo  
đức (EL)  
0.350***  
0.146* 0.081  
**  
0.145* 0.152*  
**  
**  
Biến trung gian  
0.185* 0.215**  
400  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Trao đổi lãnh đạo-  
Hành vi nói của nhân viên  
thành viên  
Biến phụ  
thuộc  
Mô hình 3  
Bƣớc  
Mô hình 1  
Mô hình 2  
Bƣớc  
1.1  
Bƣớc  
Bƣớc  
Bƣớc Bƣớc  
Bƣớc  
Bƣớc  
3.2  
1.2  
2.1  
2.2  
2.3  
2.4  
3.1  
**  
*
Trao đổi lãnh  
đạo-thành viên  
Biến điều tiết  
0.004  
-0.003  
Trao quyền (EE)  
Cụm tương tác  
EL*EE  
0.114*  
**  
54.312** 106.332* 277.263* 33.024 46.183 257.77 16.505  
25.198  
F-value  
***  
*
**  
**  
***  
***  
***  
8***  
0.639  
0.635  
0.013  
R2  
0.234  
0.229  
0.234  
0.333  
0.328  
0.100  
0.609  
0.606  
0.609  
0.626  
0.623  
0.017  
0.649  
0.646  
0.023  
0.644  
0.642  
0.035  
0.626  
0.623  
0.017  
Adjusted R2  
Change R2  
Note: *** p-value <0.001; **p-value <0.01; *p-value <0.05.  
Để kiểm tra ảnh hưởng điều tiết, tác giả sử dụng kỹ thuật được gợi ý bởi (Muller và cộng  
sự 2005). Đầu tiên, biến kiểm soát được hồi quy hướng tới biến đẩu ra, sau đó là trao đổi lãnh  
đạo-thành viên và trao quyền cho nhân viên (Mô hình 3). Cuối cùng các giá trị chuẩn hóa của  
cụm tương tác (Trao đổi lãnh đạo-thành viên*trao quyền) được hồi quy hướng tới hành vi nói của  
nhân viên và được kiểm soát bởi các biến nhân khẩu học. Kết quả dương và có ý nghĩa thể hiện  
rằng việc trao quyền cho nhân viên mạnh mẽ tác động lên mối quan hệ tích cực giữa trao đổi  
lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên (B=0.114, p<0.001). Do đó, H4 được thể hiện  
đúng như trong hình 2. Kết quả này nhấn mạnh rằng khi trao quyền cho nhân viên tăng lên, trao  
đổi lãnh đạo-thành viên đóng vai trò mạnh mẽ hơn trong việc kích thích hành vi nói của nhân  
viên. Sự đánh giá có ý nghĩa cho R2 cho thấy tác động bổ sung của lãnh đạo đạo đức, trao đổi  
lãnh đạo-thành viên, và trao quyền cho nhân viên đối với kết quả cuối cùng (hành vi nói của  
nhân viên).  
401  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
5
4.5  
4
Moderator  
3.5  
3
Low Empowerment  
2.5  
2
High Empowerment  
1.5  
1
Low LMX  
High LMX  
Hình 2. Ảnh hưởng điều tiết của trao quyền cho nhân viên lên mối quan hệ giữa trao đổi lãnh  
đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên  
5. Thảo luận  
Bài báo này bao gồm hành vi lãnh đạo đạo đức ảnh hưởng lên hành vi nói của nhân viên  
thông qua trao đổi lãnh đạo-thành viên; trao quyền cho nhân viên đóng vai trò điều tiết mối quan  
hệ giữa trao đổi lãnh đạo-thành viên và hành vi nói của nhân viên.  
Đầu tiên, hành vi lãnh đạo đạo đức có thể tạo ra một môi trường nơi mà nhân viên có thể  
có cảm giác mạnh mè về trách nhiệm, sự tự chủ, nhiều thông tin và phản hồi hơn. Đặc biệt, hành  
vi lãnh đạo đạo đức cung cấp phản hồi tích cực, khuyến khích nhân viên đưa ra các ý tưởng và  
phát triển kỹ năng nghề nghiệp.  
Thứ hai, trao đổi lãnh đạo-thành viên đề cập đến niềm tin của cá nhân trong việc kiên trì  
giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn. Trao đổi lãnh đạo-thành viên thúc đẩy hành vi của nhân  
viên. Trao đổi lãnh đạo-thành viên cao sẽ tạo ra sự tự tin đủ để củng cố tiếng nói của nhân viên.  
Trao quyền cho nhân viên có thể thể hiện niềm tin giữa lãnh đạo dành cho nhân viên cái  
mà mạnh mẽ làm tăng hành vi nói của nhân viên. Nhân viên sẽ coi việc trao quyền như một thứ  
thể hiện năng lực tuyệt vời của họ. Và sau đó dường như họ sẽ cố gắng hơn nữa để nhận được sự  
tin tưởng của lãnh đạo.  
6. Giới hạn và phƣơng hƣớng nghiên cứu tiếp theo  
Nghiên cứu hiện tại được thực hiện trên cơ sở lấy mẫu thuận tiện, các nghiên cứ sau này  
có thể bao gồm việc lấy mẫu xác suất. Dữ liệu chủ yếu được thu thập từ các doanh nghiệp vừa và  
nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam. Trong tương lai, các lĩnh vực khác có thể được khai thác  
để kiểm tra xem phương sai của ngành trong kết quả nghiên cứu có hiệu lực hay không có hiệu  
lực. Các câu hỏi được trả lời bởi nhân viên bởi vì chúng đại diện cho nhận thức của cấp dưới.  
402  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Trong tương lai, có thể đánh giá hành vi nói của nhân viên bởi người quản lý trực tiếp để tránh  
xảy ra sai lệch phương pháp chung. Mặt khác, các nhân viên được thu thập mẫu trong nghiên  
cứu này thuộc về các công ty dịch vụ tại Việt Nam. Do đó, những phát hiện được trình bày có  
thể không phù hợp với bối cảnh những tổ chức thuộc loại khác. Do đó nghiên cứu trong tương  
lai có hể xem xét việc thu thập dữ liệu từ các lĩnh vực khác nhau để khẳng định và khái quát kết  
quả của nghiên cứu này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bagozzi, R.P., Yi, Y., 1988. On the evaluation of structural equation models. J. Acad. Mark.  
2. Baird, K., Su, S., Munir, R., 2017. The relationship between the enabling use of controls,  
employee  
empowerment,  
and  
performance.  
Pers.  
Rev.  
47,  
257–274.  
3. Bandura, A., Walters, R.H., 1977. Social learning theory. Prentice-hall Englewood Cliffs, NJ.  
4. Baron, R.M., Kenny, D.A., 1986. The moderator-mediator variable distinction in social  
psychological research: conceptual, strategic, and statistical considerations. J. Pers. Soc.  
Psychol. 51, 1173–1182.  
5. Bentler, P.M., Bonett, D.G., 1980. Significance tests and goodness of fit in the analysis of  
covariance structures. Psychol. Bull. 88, 588–606. https://doi.org/10.1037/0033-  
2909.88.3.588  
6. Blau, P.M., 1964. Exchange and Power in Social Life. Transaction Publishers.  
7. Brown, M.E., Treviño, L.K., 2006. Ethical leadership: A review and future directions.  
Leadersh. Q., The Leadership Quarterly Yearly Review of Leadership 17, 595–616.  
8. Brown, M.E., Treviño, L.K., Harrison, D.A., 2005 Ethical leadership: A social learning  
perspective for construct development and testing. Organ. Behav. Hum. Decis. Process. 97,  
9. Chin, W.W., Marcolin, B.L., Newsted, P.R., 2003. A Partial Least Squares Latent Variable  
Modeling Approach for Measuring Interaction Effects: Results from a Monte Carlo  
Simulation Study and an Electronic-Mail Emotion/Adoption Study. Inf. Syst. Res. 14, 189–  
10. Conger, J.A., Kanungo, R.N., 1988. The empowerment process: Integrating theory and  
practice. Acad. Manage. Rev. 13, 471–482.  
403  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
11. Cropanzano, R., Mitchell, M.S., 2005. Social exchange theory: An interdisciplinary review.  
J. Manag. 31, 874–900.  
12. Detert, J.R., Burris, E.R., 2007. Leadership behavior and employee voice: Is the door really  
open? Acad. Manage. J. 50, 869–884.  
13. Fornell, C., Larcker, D.F., 1981. Evaluating Structural Equation Models with Unobservable  
Variables and Measurement Error. J. Mark. Res. 18, 39–50. https://doi.org/10.2307/3151312  
14. Gao, L., Janssen, O., Shi, K., 2011. Leader trust and employee voice: The moderating role  
of empowering leader behaviors. Leadersh. Q. 22, 787–798.  
15. Gerstner, C.R., Day, D.V., 1997. Meta-Analytic review of leader–member exchange theory:  
Correlates and construct issues. J. Appl. Psychol. 82, 827.  
16. Graen, G.B., Scandura, T.A., 1987. Toward a psychology of dyadic organizing. Res. Organ.  
Behav.  
17. Harris, K.J., Wheeler, A.R., Kacmar, K.M., 2009. Leader–member exchange and  
empowerment: Direct and interactive effects on job satisfaction, turnover intentions, and  
performance. Leadersh. Q. 20, 371–382.  
18. Hassan, S., Mahsud, R., Yukl, G., Prussia, G.E., 2013. Ethical and empowering leadership  
and  
leader  
effectiveness.  
J.  
Manag.  
Psychol.  
28,  
133–146.  
19. Hirschman, A.O., 1970. Exit, voice, and loyalty: Responses to decline in firms,  
organizations, and states. Harvard university press.  
20. Muller, D., Judd, C.M., Yzerbyt, V.Y., 2005. When moderation is mediated and mediation  
is moderated. J. Pers. Soc. Psychol. 89, 852–863. https://doi.org/10.1037/0022-  
3514.89.6.852  
21. Nahrgang, J.D., Morgeson, F.P., Ilies, R., 2009. The development of leader–member  
exchanges: Exploring how personality and performance influence leader and member  
relationships over time. Organ. Behav. Hum. Decis. Process. 108, 256–266.  
22. Piccolo Ronald F., Greenbaum Rebecca, Hartog Deanne N. den, Folger Robert, 2010. The  
relationship between ethical leadership and core job characteristics. J. Organ. Behav. 31,  
23. Podsakoff, P.M., Organ, D.W., 2016. Self-Reports in Organizational Research: Problems  
24. Scandura, T.A., Graen, G.B., 1984. Moderating effects of initial leader-member exchange  
status on the effects of a leadership intervention. J. Appl. Psychol. 69, 428–436.  
404  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
25. Scott, J., Konsynski, B., Blanning, R., King, D., 1994. The Measurement of Information  
Systems Effectiveness: Evaluating a Measuring Instrument.  
26. Seibert, S.E., Silver, S.R., Randolph, W.A., 2004. Taking empowerment to the next level: A  
multiple-level model of empowerment, performance, and satisfaction. Acad. Manage. J. 47,  
332–349.  
27. Seyal, A.H., Rahman, M.N.A., Rahim, M.M., 2002. Determinants of academic use of the  
Internet:  
A
structural equation model. Behav. Inf. Technol. 21, 71–86.  
28. Thibaut, J.W., Walker, L., 1975. Procedural justice: A psychological analysis. L. Erlbaum  
Associates.  
29. Van Dijke, M., De Cremer, D., Mayer, D.M., Van Quaquebeke, N., 2012. When does  
procedural fairness promote organizational citizenship behavior? Integrating empowering  
leadership types in relational justice models. Organ. Behav. Hum. Decis. Process. 117, 235–  
248.  
30. Van Dyne, L., LePine, J.A., 1998. Helping and Voice Extra-Role Behaviors: Evidence of  
Construct  
and  
Predictive  
Validity.  
Acad.  
Manage.  
J.  
41,  
108–119.  
31. Walumbwa, F.O., Mayer, D.M., Wang, P., Wang, H., Workman, K., Christensen, A.L.,  
2011. Linking ethical leadership to employee performance: The roles of leader–member  
exchange, self-efficacy, and organizational identification. Organ. Behav. Hum. Decis.  
405  
pdf 14 trang Thùy Anh 16160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lãnh đạo đạo đức và hành vi nói của nhân viên dưới tác động trao đổi lãnh đạo - thành viên và trao quyền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflanh_dao_dao_duc_va_hanh_vi_noi_cua_nhan_vien_duoi_tac_dong.pdf