Kết hợp mô hình arima và support vector machine để dự báo tại công ty dịch vụ trực tuyến cộng đồng việ

Kỷ yếu Hội nghị KHCN Quốc gia lần thứ XI về Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng Công nghệ thông tin (FAIR); Hà Nội, ngày 09-10/8/2018  
DOI: 10.15625/vap.2018.00030  
KẾT HỢP MÔ HÌNH ARIMA VÀ SUPPORT VECTOR MACHINE ĐỂ  
DỰ BÁO TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ TRỰC TUYẾN CỘNG ĐỒNG VIỆT  
Nguyễn Đình Thuận 1, Hồ Công Hoài2  
1,2, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, ĐHQG-TPHCM  
TÓM TẮT: Các kết quả về mô hình chuỗi thời gian và dự báo có nhiều ứng dụng quan trọng trong thực tế. Vì vậy, trong những năm  
gần đầy, nhiều tác giả nghiên cứu và có nhiều kết quả dự báo về vấn đề này. Nhiều mô hình đã được đề xuất trong để nâng cao tính  
chính xác và hiệu quả của dự báo trong mô hình chuỗi thời gian. Bài báo này trình bày về phương pháp dự báo dữ liệu chuỗi thời  
gian bằng cách kết hợp giữa mô hình ARIMA (Auto Regression Integrated Move Average) với Support Vector Machine (SVM),  
mạng Neural, giải thuật di. Các mô hình kết hợp này được đánh giá, so sánh với tập dữ liệu tại Công ty Dịch vụ Trực tuyến Cộng  
đồng Việt.  
Từ khóa: Time series, ARIMA, SVM, Neural Network.  
I. GIỚI THIỆU  
Chuỗi thời gian (time series) là một tập hợp các điểm dữ liệu (data points) hay các điểm quan sát (observations)  
được thu thập và sắp xếp theo thứ tự thời gian. Trong Toán học chuỗi thời gian được định nghĩa là một tập các vector  
z(t), t = 0, 1, 2,…với t là các thời điểm thu thập dữ liệu. Biến z(t) được xem như là một biến ngẫu nhiên [1].  
Chuỗi thời gian thường chịu ảnh hưởng hoặc bị tác động từ 4 yếu tố hay thành phần chính là: xu hướng (trend),  
chu kỳ (cyclical), mùa (seasonal) và khác thường (irregular) [1].  
Dựa trên sự tác động của 4 thành phần trên mà có hai loại mô hình được sử dụng cho chuỗi thời gian, đó là mô  
hình nhân (Multiplicative model) và mô hình cộng (Additive model).  
- Mô hình nhân: Y(t) = T(t) * S(t) * C(t) * I(t).  
- Mô hình cộng: Y(t) = T(t) + S(t) + C(t) + I(t).  
Với Y(t) là các điểm dữ liệu, T(t), S(t), C(t) và I(t) lần lượt là các thành phần xu hướng, mùa, chu kỳ, khác  
thường của chuỗi thời gian.  
Bài toán về khai thác dữ liệu dựa trên chuỗi thời gian đã và đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Việc  
kết hợp nhiều phương pháp khai thác dữ liệu đã có đã mang lại những kết quả tích cực khi các phương pháp khai thác  
dữ liệu kết hợp đã phát huy được phần nào những ưu điểm cũng như khắc phục được một số hạn chế của từng phương  
pháp khai thác dữ liệu đơn lẻ. Bài báo này nghiên cứu về các mô hình dự báo dữ liệu chuỗi thời gian, đặc biệt là các  
mô hình ARIMA, thuật giải SVM, mạng Neural và phương pháp kết hợp mô hình ARIMA, SVM, mạng Neural trong  
dự báo dữ liệu chuỗi thời gian.  
II. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Trong những năm gần đây nhiều mô hình, phương pháp được đề xuất để cải thiện kết quả, tăng độ chính xác  
cho dự báo dữ liệu chuỗi thời gian nhưng nhìn chung các mô hình, phương pháp dự báo dữ liệu chuỗi thời gian tập  
trung vào các hướng nghiên cứu chính là:  
- Các mô hình dự báo dựa trên các mô hình xác suất, thống kê như mô hình hồi quy (Auto Regression - AR) [2,  
3], mô hình trung bình động (Moving Average - MA) [2, 3], mô hình tự hồi quy và trung bình động (Auto Regression  
Move Average - ARMA), mô hình tự hồi quy kết hợp với trung bình động (Auto Regression Integrated Move Average)  
[1, 2]. Ngoài ra còn các mô hình là biến thể của các mô hình trên để phù hợp với đặc điểm của từng loại dữ liệu như  
mô hình SARIMA (Seasonal Auto Regression Integrated Move Average) [1, 2, 3].  
- Hướng nghiên cứu thứ hai trong khai thác dữ liệu là hướng nghiên cứu tập trung vào các mô hình máy học  
(Machine Learning) như mô hình mạng neural (Neural Network) [4], thuật giải SVM (Support Vector Machine), thuật  
giải di truyền (Genetic Algorithm - GA) và các biến thể của các mô hình trên như SANN (Seasonal Artificial Neural  
Networks) [1].  
- Một hướng nghiên cứu khác có nền tảng dựa trên lý thuyết logic mờ của Lotfi Zadeh, đó là các phương pháp  
dự báo trên chuỗi thời gian mờ [4, 5].  
- Trong những nắm gần đây, hướng nghiên cứu kết hợp các mô hình dự báo dữ liệu chuỗi thời gian đang được  
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu là các mô hình kết hợp ARIMA và mạng neural [6], hay kết hợp  
mô hình ARIMA với thuật giải SVM, mô hình ARIMA mờ [7],…  
226  
KẾT HỢP MÔ HÌNH ARIMA VÀ SUPPORT VECTOR MACHINE ĐỂ DỰ BÁO TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ…  
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP TRONG DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN  
3.1. Kết hợp ARIMA và mạng Neural  
Cả mô hình ARIMA và mô hình mạng neural đều là những mô hình phù hợp để dự báo dữ liệu chuỗi thời gian.  
Tuy nhiên mỗi mô hình lại chỉ phù hợp với một số dạng dữ liệu đặc thù, như mô hình ARIMA phù hợp với dự báo dữ  
liệu chuỗi thời gian dạng tuyến tính, còn mô hình mạng neural lại phù hợp với dự báo dữ liệu chuỗi thời gian dạng phi  
tuyến tính. Do đó mà mô hình kết hợp giữa ARIMA và mạng neural có thể giúp tăng độ chính xác của dự báo trong  
thực tế.  
Ý tưởng của mô hình này dựa trên việc xem xét dữ liệu chuỗi thời gian là sự kết hợp giữa hai thành phần tuyến  
tính và phi tuyến tính và hai thành phần này được ước lượng thông qua dữ liệu [6].  
          
 
 
 
Trong đó:  
yt là giá trị của chuỗi thời gian;  
Lt là thành phần tuyến tính (linear component);  
Nt là thành phần phu tuyến tính (nonlinear component).  
Để dự báo giá trị của chuỗi thời gian, đầu tiên mô hình kết hợp ARIMA và mạng neural sử dụng mô hình  
ARIMA để dự báo cho thành phần tuyến tính. Mô hình kết hợp ARIMA và mạng neural thực hiện hai bước để dự báo  
giá trị của chuỗi thời gian.  
+ Bước 1: Dự báo thành phần tuyến tính của chuỗi thời gian bằng mô hình ARIMA.  
+ Bước 2: Dự báo thành phần phi tuyến tính của chuỗi thời gian bằng mô hình mạng neural.  
3.2. Mô hình ARIMA mờ  
Đối với mô hình ARIMA thường thì dữ liệu chuỗi thời gian dùng để xây dựng mô hình phải có tối thiểu 50  
điểm dữ liệu và mô hình ARIMA chỉ dự đoán tốt đối với các chuỗi thời gian có từ 100 điểm dữ liệu trở lên [8]. Tuy  
nhiên, trong thực tế có những trường hợp do môi trường không chắc chắn hoặc do dữ liệu bị thay đổi liên tục dẫn đến  
những tình huống phải dự báo với ít dữ liệu quá khứ, ảnh hưởng đến kết quả dự báo của mô hình ARIMA, đây là một  
nhược điểm của mô hình ARIMA. Chính vì vậy mà mô hình ARIMA mờ được đề xuất để cải thiện kết quả dự báo  
trong trường hợp ít dữ liệu.  
ARIMA mờ (Fuzzy Auto Regression Integrated Move Average - FARIMA) là phương pháp kết hợp mô hình  
ARIMA và mô hình hồi quy mờ (fuzzy regression). Ý tưởng chính của mô hình ARIMA mờ là thay vì sử dụng mô  
hình ARIMA với các tham số của mô hình như               và               là các giá trị số thực, mô hình ARIMA  
 
 
 
 
 
 
̃ ̃  
̃
mờ sử dụng hồi quy mờ để mờ hóa các tham số của mô hình ARIMA thành các tham số mờ               và  
 
 
 
̃ ̃  
̃
 
              , từ đó giảm yêu cầu về số lượng các điểm dữ liệu của chuỗi thời gian dùng để xây dựng mô hình.  
 
 
Mô hình ARIMA mờ khi được áp dụng trong dự báo dữ liệu chuỗi thời gian thường thực hiện qua 3 giai đoạn  
như sau [8]:  
+ Giai đoạn 1: Xác định mô hình ARIMA(p, d, q) dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian. Kết quả của giai đoạn này là  
 
 
 
 
các tham số của mô hình,                      và giá trị nhiễu trắng at. Kết quả của giai đoạn này sẽ là một phần  
 
 
    
trong dữ liệu đầu vào của giai đoạn 2.  
+ Giai đoạn 2: Mờ hóa các tham số và xác định mô hình ARIMA mờ như sau:  
̃
〈
〉
〈
〉
〈
〉
〈
            
            
〉
                                      
 
 
 
 
 
    
 
 
    
 
            
Trong đó:  
 
 
 
                 ;  
 
 
  là trung tâm của số mờ;  
 
  là độ rộng xung quanh giá trị trung tâm của số mờ.  
 
Giai đoạn 3: Tối ưu hóa giá trị dự báo bằng cách xóa đi các giá trị nằm ngoài biên dự báo của mô hình ARIMA  
mờ.  
Tổng kết, mô hình FARIMA có thể dùng để thay thể mô hình ARIMA để dự báo giá trị của chuỗi thời gian  
trong trường hợp dữ liệu dùng để xây dựng mô hình tương đối hạn chế. Tuy nhiên, trong trường hợp có đầy đủ dữ liệu  
để xây dựng mô hình thì mô hình ARIMA vẫn vượt trội hơn mô hình FARIMA về kết quả dự báo cũng như chi phí để  
xây dựng mô hình. Vì vậy mà trong từng trường hợp cụ thể có thể cân nhắc để chọn mô hình phù hợp nhất cho bài toán  
dự báo dữ liệu chuỗi thời gian.  
Nguyễn Đình Thuận, Hồ Công Hoài  
227  
3.3. Mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine  
1. Giới thiệu  
Như đã trình bày trong phần I., chuỗi thời gian trong thực tế thường bị ảnh hưởng hoặc tác động bởi nhiều yếu  
tố khác nhau, các yếu tố này thường được phân chia làm hai nhóm dựa trên nguồn gốc xuất hiện của chúng.  
Nhóm thứ nhất là nhóm các yếu tố phát sinh từ “bên trong” chuỗi thời gian, nhóm yếu tố này là nhóm yếu tố  
chính thường xuyên chi phối sự thay đổi của chuỗi thời gian. Ví dụ chuỗi thời gian là tốc độ dòng chảy của một con  
sông, khi đó các yếu tố như lượng mưa, độ dốc của địa hình hay tốc độ gió là các yếu tố chính ảnh hưởng lên chuỗi  
thời gian này. Hay chuỗi thời gian là giá cổ phiếu của một công ty, khi đó tình hình kinh doanh của công ty, quy luật  
cung cầu là những yếu tố tác động chính lên giá cổ phiếu của công ty đó. Các yếu tố trong nhóm này quy định đặc tính  
tuyến tính của chuỗi thời gian.  
Nhóm các yếu tố thứ hai là các yếu tố “bên ngoài” ảnh hưởng lên chuỗi thời gian. Đây là các yếu tố ngẫu nhiên,  
tuy không thường xuyên ảnh hưởng lên chuỗi thời gian nhưng những ảnh hưởng của nó thường gây tác động lớn lên  
chuỗi thời gian. Ví dụ chuỗi thời gian là giá vàng trên thế giới thường bị ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố ngẫu nhiên như  
thiên tai, chiến tranh hay các sự kiện chính trị. Các yếu tố trong nhóm này quy định đặc tính phi tuyến tính của chuỗi  
thời gian.  
Chính vì các đặc tính tuyến tính và phi tuyến tính này của chuỗi thời gian mà kết quả dự báo của các mô hình  
riêng biệt đôi khi không được như mong đợi. Lý do là bởi các mô hình dự báo riêng biệt thường chỉ phù hợp để dự báo  
cho một số thành phần của chuỗi thời gian. Ví dụ mô hình ARIMA phù hợp để dự báo cho thành phần tuyến tính của  
chuỗi thời gian, trong khi thành phần phi tuyến tính mô hình ARIMA thường bỏ qua, không dự báo được. Ngược lại,  
các mô hình máy học như SVM hay mạng neural lại thích hợp để dự báo cho thành phần phi tuyến tính của chuỗi thời  
gian hơn là thành phần tuyến tính. Vì vậy mà việc cần thiết là tìm cách kết hợp các mô hình dự báo riêng biệt này lại  
với nhau sao cho có thể phát huy các ưu điểm cũng như khắc phục được các nhược điểm của từng mô hình.  
Mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine là một trong những mô hình tiếp cận theo hướng trên. Mô  
hình này sử dụng mô hình ARIMA để dự báo cho thành phần tuyến tính của chuỗi thời gian, đồng thời sử dụng phương  
pháp SVM trong ước lượng hồi quy để dự báo cho thành phần phi tuyến tính của chuỗi thời gian. Sau đó kết quả dự  
báo của hai mô hình này sẽ được kết hợp lại với nhau để cho kết quả dự báo sau cùng.  
2. Phương pháp  
Chuỗi thời gian bao gồm hai thành phần tuyến tính (linear) và không tuyến tính (nonlinear). Do đó một chuỗi  
thời gian   có thể được mô hình hóa như sau:  
 
          
 
 
 
Trong đó:   đại diện cho thành phần tuyến tính (Linear) của chuỗi thời gian,   đại diện cho thành phần phi  
 
 
tuyến tính (Nonlinear) của chuỗi thời gian. Cả hai thành phần này đều được ước lượng từ dữ liệu.  
Đầu tiên, mô hình ARIMA được sử dụng để ước lượng cho thành phần tuyến tính   của chuỗi thời gian. Giả sử  
 
̂
  là kết quả dự báo của mô hình ARIMA. Khi đó thành phần còn lại (residuals)   của chuỗi thời gian sau khi lấy kết  
 
 
quả thực tế trừ kết quả dự báo được xác định như sau:  
̂
          
 
 
 
Thành phần còn lại   chứa trong nó thành phần phi tuyến tính của chuỗi thời gian. Do đó bước tiếp theo phương  
 
pháp SVM trong ước lượng hồi quy được sử dụng để dự báo thành phần phi tuyến tính   này dựa trên các   . Giả sử  
 
 
phương pháp SVM tìm được một hàm f tối ưu có thể mô hình hóa cho thành phần phi tuyến tính của chuỗi thời gian.  
Khi đó:  
 
 
    
                    
 
        
    
 
Trong đó:   là một giá trị lỗi ngẫu nhiên tại thời điểm t.  
 
̂
Sau cùng, kết quả dự báo của mô hình là tổng hợp kết quả dự báo của thành phần tuyến tính   bằng mô hình  
 
̂
ARIMA và kết quả dự báo của thành phần phi tuyến tính   bằng phương pháp SVM trong ước lượng hồi quy.  
 
̂
̂
 
 ̂         
 
 
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên có thể thấy mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine cho kết  
quả dự báo tốt hơn so với các mô hình riêng biệt. Do đó có thể sử dụng mô hình kết hợp này để dự báo giá trị của chuỗi  
thời gian. Từ những ưu điểm và kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine, tiếp theo của  
báo cáo sẽ trình bày một ứng dụng cụ thể của mô hình này trong việc vào dự báo tại Công ty Dịch vụ Trực tuyến Cộng  
đồng Việt.  
228  
KẾT HỢP MÔ HÌNH ARIMA VÀ SUPPORT VECTOR MACHINE ĐỂ DỰ BÁO TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ…  
IV. CÀI ĐẶT THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ  
Trong phần này, chúng tôi cài đặt thực nghiệm các mô hình ở trên đối với tập dữ liệu của công ty hoạt động  
trong lĩnh vực trung gian thanh toán và tích hợp hệ thống cung cấp cho người dùng là tiện ích thanh toán là Công ty  
Dịch vụ Trực tuyến Cộng đồng Việt. Với hình thức online người dùng có thể thanh toán trực tuyến tại website thanh  
toán hóa đơn của Công ty Dịch vụ Trực tuyến Cộng đồng Việt tại địa chỉ www.paybill.vn hoặc thanh toán qua ứng  
dụng thanh toán hóa đơn có thể download trực tiếp từ App Store hoặc Google Play.  
Với hình thức offline người dùng càng tiện lợi hơn khi chỉ cần chưa đến 1 phút có thể thanh toán xong hóa  
đơn tại các siêu thị điện máy có liên kết với Công ty Dịch vụ Trực tuyến Cộng đồng Việt như Nguyễn Kim, Thế giới  
Di động, Viễn Thông A, FPT Shop,… hay tại các cửa hàng tiện lợi như Circle K, Family Mart, Vinmart,…Ưu điểm  
của hình thức thanh toán này là nhanh, gọn và tiện lợi vì các cửa hàng này thường ở gần nhà và khu đông dân cư, bên  
cạnh đó các cửa hàng này cũng hoạt động 24/24 nên người dùng cũng có thể đến để thanh toán các loại hóa đơn.  
Số lượng giao dịch trên ngày chắc chắn luôn luôn biến động. Do đó để có thể phục vụ khách hàng tốt hơn  
cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ của công ty việc cần thiết là phải dự báo được số lượng giao dịch trên ngày. Một  
trong những vấn đề đó là dự báo số lượng giao dịch trên ngày. Tập dữ liệu để xây dựng mô hình được chia làm 2 phần.  
Phần thứ nhất dùng để huấn luyện mô hình được chọn từ 01/07/2015 đến 31/12/2016. Phần thứ hai dùng để kiểm tra  
(test) mô hình được chọn từ 01/01/2017 đến 30/01/2017.  
Để đánh giá hiệu quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine, báo cáo sẽ trình bày  
kết quả dự báo của các mô hình tự hồi quy, hình 2 là kết dự báo bằng mô hình tự hồi quy (AR), hình 3 là kết quả dự  
báo bằng mô hình ARIMA, hình 4 là kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và mạng neural, hình 5 là kết quả dự  
báo của mô hình kết hợp ARIMA và thuật giải di truyền, hình 6 là kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và  
Support Vector Machine.  
Hình 1. Biểu đồ số lượng giao dịch theo ngày từ 01/07/2015 đến 15/01/2016  
Hình 2. Kết quả dự báo của mô hình tự hồi quy AR  
Nguyễn Đình Thuận, Hồ Công Hoài  
229  
Hình 3. Kết quả dự báo của mô hình ARIMA  
Hình 4. Kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và mạng Neural  
Hình 4. Kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và thuật giải di truyền  
230  
KẾT HỢP MÔ HÌNH ARIMA VÀ SUPPORT VECTOR MACHINE ĐỂ DỰ BÁO TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ…  
Hình 5. Kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và SVM  
Bảng 1. Kết quả dự báo của các mô hình  
Mô hình  
AR  
RMSE  
332.747  
285.315  
273.224  
261.428  
240.723  
MAE  
MAPE  
0.519  
0.435  
0.427  
0.406  
0.394  
248.124  
230.821  
208.541  
203.677  
182.843  
ARIMA  
ARIMA + NN  
ARIMA + GA  
ARIMA + SVM  
Chú thích: Các giá trị được tính bằng ngôn ngữ R  
V. KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN  
Mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine thể hiện kết quả dự báo vượt trội hơn so với các mô hình  
khác như mô hình tự hồi quy (AR) hay mô hình ARIMA trong dự báo dữ liệu chuỗi thời gian. Phương pháp Support  
Vector Machine trong ước lượng hồi quy giúp tăng độ chính xác cho kết quả dự báo của mô hình ARIMA.  
Lý do chính giúp kết quả dự báo của mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector Machine vượt trội hơn so với  
các mô hình khác là do chuỗi thời gian trong thực tế thường bao gồm hai thành phần tuyến tính và phi tuyến tính. Nếu  
một mô hình dự báo chỉ có thể dự báo tốt cho một trong hai thành phần đó thì kết quả dự báo thường không sát với dữ  
liệu thực tế.  
Trong hầu hết các nghiên cứu hay ứng dụng về mô hình kết hợp ARIMA và các phương pháp máy học như  
Support Vector Machine, mạng neural, thuật giải di truyền, người ta luôn sử dụng mô hình ARIMA để dự báo thành  
phần tuyến tính của chuỗi thời gian trước khi sử dụng các phương pháp máy học để dự báo thành phần phi tuyến tính  
còn lại. Chưa có một nghiên cứu hay ứng dụng nào trong lĩnh vực này thực hiện ngược lại quá trình trên. Do đó đây có  
thể là một hướng tiếp cận mới cho mô hình kết hợp các phương pháp dự báo dữ liệu chuỗi thời gian khi thành phần phi  
tuyến tính của chuỗi thời gian được dự báo trước thành phần tuyến tính.  
Bên cạnh đó, trong các mô hình kết hợp ARIMA và các phương pháp máy học, sự kết hợp của các phương pháp  
bên trong đó chưa thật sự sâu rộng, sự kết hợp này chỉ dừng lại ở việc tổng hợp các kết quả dự báo của các mô hình  
đơn lẻ lại với nhau để cho ra kết quả dự báo cuối cùng. Chẳng hạn như với mô hình kết hợp ARIMA và Support Vector  
Machine, sự kết hợp của hai mô hình ARIMA và Support Vector Machine chỉ thể hiện ở việc cộng hai kết quả dự báo  
của hai mô hình này lại với nhau để có kết quả dự báo cuối cùng, ngoài ra giữa hai mô hình này không có liên kết gì  
với nhau. Do đó để kết quả dự báo chuỗi thời gian hiệu quả hơn cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các mô hình sao cho  
các mô hình này có thể hỗ trợ cho nhau trong việc dự báo. Chính vì vậy mà vấn đề làm thế nào để kết hợp chặt chẽ các  
phương pháp dự báo trong các mô hình kết hợp cũng là một hướng phát triển của để tài.  
Nguyễn Đình Thuận, Hồ Công Hoài  
231  
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ratnadip Adhikari, R. K. Agrawal (2013). “An Introductory Study on Time Series Modeling and Forecasting”.  
LAP Lambert Academic Publishing, Germany.  
[2] Keith W. Hipel, A. Ian McLeod (1994). “Time Series Modelling of Water Resources and Environmental  
Systems”. Amsterdam, Elsevier.  
[3] Christoph Klose, Marion Pircher, Stephan Sharma for 406347/UK. “Ökonometrische Prognose” in SS04 (2004).  
“Univariate Time Series Forecasting”. University of Vienna Department of Economics.  
[4] Qiang Song, Brad S. Chissom (1993). “Fuzzy Time Series and Its Models”. Fuzzy Sets and Systems, pp. 269-277.  
[5] Nazirah Ramli, Siti Musleha Ab Mutalib, Daud Mohamad. “Fuzzy time series forecasting model with natural  
partitioning length approach for predicting the unemployment rate under different degree of confidence”. AIP,  
[6] Mergani Khairalla, Xu-Ning, Nashat T. AL-Jallad, “Hybrid Forecasting Scheme for Financial Time-Series Data  
using Neural Network and Statistical Methods”. (IJACSA) International Journal of Advanced Computer Science  
and Applications, Vol. 8, No. 9, 2017.  
[7] Babu A. S, Reddy S. K, Exchange Rate Forecasting using ARIMA, Neural Network and Fuzzy Neuron, Journal of  
Stock & Forex Trading, Aug 2015.  
RESEARCH ON HYBRID ARIMA AND SUPPORT VECTOR MACHINE MODEL FOR  
FORECASTING AT VIETUNION ONLINE SERVICES CORPORATION  
Nguyen Dinh Thuan, Ho Cong Hoai  
ABSTRACT: The results of Time series modeling and forecasting has fundamental importance to various practical domains. Thus a  
lot of active research work has been going on in this subject for several years. Many models have been proposed in the literature for  
improving the accuracy and efficiency of time series modeling and forecasting. This paper presents the hybrid model of time series  
forecast by combining the Auto-Regression Integrated Move (ARIMA) model with the Support Vector Machine (SVM), Neural  
Networks, Genetic Algorithms.These combined models are used for forecasting at Vietunion online services corporation.  
pdf 7 trang Thùy Anh 20820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết hợp mô hình arima và support vector machine để dự báo tại công ty dịch vụ trực tuyến cộng đồng việ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_hop_mo_hinh_arima_va_support_vector_machine_de_du_bao_ta.pdf