Giáo trình môn Mạng máy tính

Chương 1: Tổng quan về mạng máy tính và mạng cục bộ  
1. Mạng máy tính.  
1.1. Giới thiệu mạng máy tính.  
1.1.1. Lịch sử mạng máy tính  
Internet bắt nguồn từ đề án ARPANET (Advanced Research Project Agency  
Network) khởi sự trong năm 1969 bởi Bộ Quốc phòng Mỹ (American Department of  
Defense). Đề án ARPANET với sự tham gia của một số trung tâm nghiên cứu, đại học  
tại Mỹ (UCLA, Stanford,...) nhằm mục đích thiết kế một mạng WAN (Wide Area  
Network) có khả năng tự bảo tồn chống lại sự phá hoại một phân mạng bằng chiến tranh  
nguyên tử. Đề án này dẫn tới sự ra đời của nghi thức truyền IP (Internet Protocol). Theo  
nghi thức này, thông tin truyền sẽ được đóng thành các gói dữ liệu và truyền trên mạng  
theo nhiều đường khác nhau từ người gửi tới nơi người nhận. Một hệ thống máy tính nối  
trên mạng gọi là Router làm nhiệm vụ tìm đường đi tối ưu cho các gói dữ liệu, tất cả các  
máy tính trên mạng đều tham dự vào việc truyền dữ liệu, nhờ vậy nếu một phân mạng bị  
phá huỷ các Router có thể tìm đường khác để truyền thông tin tới người nhận. Mạng  
ARPANET được phát triển và sử dụng trước hết trong các trường đại học, các cơ quan  
nhà nước Mỹ, tiếp theo đó, các trung tâm tính toán lớn, các trung tâm truyền vô tuyến  
điện và vệ tinh được nối vào mạng,... trên cơ sở này, ARPANET được nối với khắp các  
vùng trên thế giới.  
Tới năm 1983, trước sự thành công của việc triển khai mạng ARPANET, Bộ quốc  
phòng Mỹ tách một phân mạng giành riêng cho quân đội Mỹ(MILNET). Phần còn lại,  
gọi là NSFnet, được quản lý bởi NSF (National Science Foundation) NSF dùng 5 siêu  
máy tính để làm Router cho mạng, và lập một tổ chức không chính phủ để quản lý mạng,  
chủ yếu dùng cho đại học và nghiên cứu cơ bản trên toàn thế giới. Tới năm 1987,  
NSFnet mở cửa cho cá nhân và cho các công ty tư nhân (BITnet), tới năm 1988 siêu  
mạng được mang tên INTERNET.  
Tuy nhiên cho tới năm 1988, việc sử dụng INTERNET còn hạn chế trong các dịch vụ  
truyền mạng (FTP), thư điện tử(E-mail), truy nhập từ xa(TELNET) không thích ứng với  
nhu cầu kinh tế và đời sống hàng ngày. INTERNET chủ yếuđược dùng trong môi trường  
nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học. Trong năm 1988, tại trung tâm nghiên cứu  
nguyên tử của Pháp CERN(Centre Européen de Recherche Nuclaire) ra đời đề án Mạng  
nhện thế giới WWW(World Wide Web). Đề án này, nhằm xây dựng một phương thức  
mới sử dụng INTERNET, gọi là phương thức Siêu văn bản (HyperText). Các tài liệu và  
hình ảnh được trình bày bằng ngôn ngữ HTML (HyperText Markup Language) và được  
phát hành trên INTERNET qua các hệ chủ làm việc với nghi thức HTTP (HyperText  
Transport Protocol). Từ năm 1992, phương thức làm việc này được đưa ra thử nghiêm  
trên INTERNET. Rất nhanh chóng, các công ty tư nhân tìm thấy qua phương thức này  
cách sử dụng INTERNET trong kinh tế và đời sống. Vốn đầu tư vào INTERNET được  
nhân lên hàng chục lần. Từ năm 1994 INTERNET trở thành siêu mạng kinh doanh. Số  
các công ty sử dụng INTERNET vào việc kinh doanh và quảng cáo lên gấp hàng nghìn  
lần kể từ năm 1995. Doanh số giao dịch thương mại qua mạng INTERNET lên hàng  
chục tỉ USD trong năm 1996...  
Với phương thức siêu văn bản, người sử dụng, qua một phần mềm truy đọc  
(Navigator), có thể tìm đọc tất cả các tài liệu siêu văn bản công bố tại mọi nơi trên thế  
giới (kể cả hình ảnh và tiếng nói). Với công nghệ WWW, chúng ta bước vào giai đoạn  
mà mọi thông tin có thể có ngay trên bàn làm việc của mình. Mỗi công ty hoặc người sử  
dụng, được phân phối một trang cội nguồn (Home Page) trên hệ chủ HTTP. Trang cội  
nguồn, là siêu văn bản gốc, để tự do có thể tìm tới tất cả các siêu văn bản khác mà người  
sử dụng muốn phát hành. Địa chỉ của trang cội nguồn được tìm thấy từ khắp mọi nơi trên  
thế giới. Vì vậy, đối với một xí nghiệp, trang cội nguồn trở thành một văn phòng đại diện  
điện tử trên INTERNET. Từ khắp mọi nơi, khách hàng có thể xem các quảng cáo và liên  
hệ trực tiếp với xí nghiệp qua các dòng siêu liên (HyperLink) trong siêu văn bản.  
Tới năm 1994, một điểm yếu của INTERNET là không có khả năng lập trình cục bộ,  
vì các máy nối vào mạng không đồng bộ và không tương thích. Thiếu khả năng này,  
INTERNET chỉ được dùng trong việc phát hành và truyền thông tin chứ không dùng để  
xử lý thông tin được. Trong năm 1994, hãng máy tính SUN Corporation công bố một  
ngôn ngữ mới, gọi là JAVA(cafe), cho phép lập trình cục bộ trên INTERNET, các  
chương trình JAVA được gọi thẳng từ các siêu văn bản qua các siêu liên (Applet). Vào  
mùa thu năm 1995, ngôn ngữ JAVA chính thức ra đời, đánh dấu một bước tiến quan  
trọng trong việc sử dụng INTERNET. Trước hết, một chương trình JAVA, sẽ được chạy  
trên máy khách (Workstation) chứ không phải trên máy chủ (server). Điều này cho phép  
sử dụng công suất của tất cả các máy khách vào việc xử lý số liệu. Hàng triệu máy tính  
(hoặc vi tính) có thể thực hiện cùng một lúc một chương trình ghi trên một siêu văn bản  
trong máy chủ. Việc lập trình trên INTERNET cho phép truy nhập từ một trang siêu văn  
bản vào các chương trình xử lý thông tin, đặc biệt là các chương trình điều hành và quản  
lý thông tin của một xí nghiệp. phương thức làm việc này, được gọi là INTRANET. Chỉ  
trong năm 1995-1996, hàng trăm nghìn dịch vụ phần mềm INTRANET được phát triển.  
Nhiều hãng máy tính và phần mềm như Microsoft, SUN, IBM, Oracle, Netscape,... đã  
phát triển và kinh doanh hàng loạt phần mềm hệ thống và phần mềm cơ bản để phát triển  
các ứng dụng INTERNET / INTRANET.  
1.1.2. Giới thiệu mạng máy tính.  
Mạng máy tính hay hệ thống mạng (tiếng Anh: Computer Network hay Network  
System), là một tập hợp các máy tính tự hoạt được kết nối nhau thông qua các phương  
tiện truyền dẫn để nhằm cho phép chia sẻ tài nguyên: máy in, máy fax, tệp tin, dữ liệu....  
1.1.3. Định nghĩa mạng và mục đích kết nối mạng.  
a. Định nghĩa mạng máy tính.  
Mạng máy tính là tập hợp các máy tính độc lập (autonomous) được kết nối với nhau  
thông qua các đường truyền vật lý và tuân theo các quy ước truyền thông nào đó nhằm  
mục đích chia sẻ tài nguyên giữa các máy tính, trong đó:  
- Máy tính độc lập là các máy tính có khả năng khởi động, vận hành hoặc tắt máy mà  
không cần có sự điều khiển hay chi phối bởi 1 máy tính khác.  
- Đường truyền vật lý là các môi trường truyền tín hiệu vật lý (có thể là hữu tuyến  
hoặc vô tuyến)  
- Các quy ước truyền thông là cơ sở để các máy tính có thể nói chuyện được với nhau  
và là một yếu tố quan trọng hàng đầu khi nói về công nghệ mạng máy tính.  
Các thành phần của mạng máy tính bao gồm:  
- Các thiết bị đầu cuối (end system): Là các thiết bị có khả năng kết nối vào mạng  
máy tính như máy tính, PDA,...  
- Môi trường truyền dẫn (media): Là môi trường mà các thao tác truyền thông được  
thực hiện qua đó. Môi trường truyền dẫn có thể là các loại dây dẫn (dây cáp), sóng điện  
từ (kết nối không dây).  
- Giao thức truyền thông (protocol): Là các quy tắc, quy định cách trao đổi dữ liệu  
giữa các thiết bị trong mạng máy tính.  
b. Mục đích kết nối mạng máy tính.  
Việc nối máy tính thành mạng từ lâu đã trở thành một nhu cầu khách quan vì :  
- Có rất nhiều công việc về bản chất là phân tán hoặc về thông tin, hoặc về xử lý hoặc  
cả hai đòi hỏi có sự kết hợp truyền thông với xử lý hoặc sử dụng phương tiện từ xa.  
- Chia sẻ các tài nguyên trên mạng cho nhiều người sử dụng tại một thời điểm (ổ  
cứng, máy in, ổ CD ROM...)  
- Nhu cầu liên lạc, trao đổi thông tin nhờ phương tiện máy tính.  
- Các ứng dụng phần mềm đòi hòi tại một thời điểm cần có nhiều người sử dụng,  
truy cập vào cùng một cơ sở dữ liệu.  
1.2. Đặc trưng kỹ thuật của mạng máy tính.  
1.2.1. Đường truyền.  
Là thành tố quan trọng của một mạng máy tính, là phương tiện dùng để truyền các tín  
hiệu điện tử giữa các máy tính. Các tín hiệu điệu tử đó chính là các thông tin, dữ liệu  
được biểu thị dưới dạng các xung nhị phân (ON_OFF), mọi tín hiệu truyền giữa các máy  
tính với nhau đều thuộc sóng điện từ, tuỳ theo tần số mà ta có thể dùng các đường truyền  
vật lý khác nhau.  
Đặc trưng cơ bản của đường truyền là giải thông nó biểu thị khả năng truyền tải tín  
hiệu của đường truyền.  
Thông thuờng người ta hay phân loại đường truyền theo hai loại:  
- Đường truyền hữu tuyến (các máy tính được nối với nhau bằng các dây cáp mạng).  
- Đường truyền vô tuyến: các máy tính truyền tín hiệu với nhau thông qua các sóng vô  
tuyền với các thiết bị điều chế/giải điều chế ớ các đầu mút.  
1.2.2. Kỹ thuật chuyển mạch.  
Là đặc trưng kỹ thuật chuyển tín hiệu giữa các nút trong mạng, các nút mạng có chức  
năng hướng thông tin tới đích nào đó trong mạng, hiện tại có các kỹ thuật chuyển mạch  
như sau:  
- Kỹ thuật chuyển mạch kênh: Khi có hai thực thể cần truyền thông với nhau thì giữa  
chúng sẽ thiết lập một kênh cố định và duy trì kết nối đó cho tới khi hai bên ngắt liên lạc.  
Các dữ liệu chỉ truyền đi theo con đường cố định đó.  
- Kỹ thuật chuyển mạch thông báo: thông báo là một đơn vị dữ liệu của người sử  
dụng có khuôn dạng được quy định trước. Mỗi thông báo có chứa các thông tin điều  
khiển trong đó chỉ rõ đích cần truyền tới của thông báo. Căn cứ vào thông tin điều khiển  
này mà mỗi nút trung gian có thể chuyển thông báo tới nút kế tiếp trên con đường dẫn tới  
đích của thông báo  
- Kỹ thuật chuyển mạch gói: ở đây mỗi thông báo được chia ra thành nhiều gói nhỏ  
hơn được gọi là các gói tin (packet) có khuôn dạng qui định trước. Mỗi gói tin cũng chứa  
các thông tin điều khiển, trong đó có địa chỉ nguồn (người gửi) và địa chỉ đích (người  
nhận) của gói tin. Các gói tin của cùng một thông báo có thể được gởi đi qua mạng tới  
đích theo nhiều con đường khác nhau.  
1.2.3. Kiến trúc mạng.  
Kiến trúc mạng máy tính (network architecture) thể hiện cách nối các máy tính với  
nhau và tập hợp các quy tắc, quy ước mà tất cả các thực thể tham gia truyền thông trên  
mạng phải tuân theo để đảm bảo cho mạng hoạt động tốt.  
Khi nói đến kiến trúc của mạng người ta muốn nói tới hai vấn đề là hình trạng mạng  
(Network topology) và giao thức mạng (Network protocol)  
- Network Topology: Cách kết nối các máy tính với nhau về mặt hình học mà ta gọi là  
tô pô của mạng. Các hình trạng mạng cơ bản đó là: hình sao, hình bus, hình vòng  
- Network Protocol: Tập hợp các quy ước truyền thông giữa các thực thể truyền thông  
mà ta gọi là giao thức (hay nghi thức) của mạng. Các giao thức thường gặp nhất là :  
TCP/IP, NETBIOS, IPX/SPX,...  
1.2.4. Hệ điều hành mạng.  
Hệ điều hành mạng là một phần mềm hệ thống có các chức năng sau:  
- Quản lý tài nguyên của hệ thống, các tài nguyên này gồm:  
+ Tài nguyên thông tin (về phương diện lưu trữ) hay nói một cách đơn giản là quản  
lý tệp. Các công việc về lưu trữ tệp, tìm kiếm, xoá, copy, nhóm, đặt các thuộc tính đều  
thuộc nhóm công việc này.  
+ Tài nguyên thiết bị. Điều phối việc sử dụng CPU, các ngoại vi... để tối ưu hoá  
việc sử dụng  
- Quản lý người dùng và các công việc trên hệ thống.  
Hệ điều hành đảm bảo giao tiếp giữa người sử dụng, chương trình ứng dụng với thiết  
bị của hệ thống.  
- Cung cấp các tiện ích cho việc khai thác hệ thống thuận lợi (ví dụ FORMAT đĩa, sao  
chép tệp và thư mục, in ấn chung ...)  
Các hệ điều hành mạng thông dụng nhất hiện nay là các hệ điều hành của Microsoft,  
Unix, Linus, Novell,...  
1.3. Phân loại mạng máy tính.  
Có nhiều cách phân loại mạng khác nhau tuỳ thuộc vào yếu tố chính được chọn dùng  
để làm chỉ tiêu phân loại, thông thường người ta phân loại mạng theo các tiêu chí như  
sau:  
- Khoảng cách địa lý của mạng  
- Kỹ thuật chuyển mạch mà mạng áp dụng  
- Hệ điều hành mạng sử dụng...  
- Kiến trúc mạng.  
Tuy nhiên trong thực tế nguời ta thường chỉ phân loại theo hai tiêu chí đầu tiên.  
1.3.1. Phân loại theo khoảng cách địa lý.  
Nếu lấy khoảng cách địa lý làm yếu tố phân loại mạng thì ta có mạng cục bộ, mạng  
đô thị, mạng diện rộng, mạng toàn cầu.  
- Mạng cục bộ (LAN - Local Area Network): là mạng được cài đặt trong phạm vi  
tương đối nhỏ hẹp như trong một toà nhà, một xí nghiệp...với khoảng cách lớn nhất giữa  
các máy tính trên mạng trong vòng vài km trở lại.  
- Mạng đô thị (MAN - Metropolitan Area Network): là mạng được cài đặt trong phạm  
vi một đô thị, một trung tâm văn hoá xã hội, có bán kính tối đa khoảng 100 km trở lại.  
- Mạng diện rộng (WAN - Wide Area Network): là mạng có diện tích bao phủ rộng  
lớn, phạm vi của mạng có thể vượt biên giới quốc gia thậm chí cả lục địa.  
- Mạng toàn cầu (GAN - Global Area Network): là mạng có phạm vi trải rộng toàn  
cầu.  
1.3.2. Phân loại theo kỹ thuật chuyển mạch.  
Nếu lấy kỹ thuật chuyển mạch làm yếu tố chính để phân loại sẽ có: mạng chuyển  
mạch kênh, mạng chuyển mạch thông báo và mạng chuyển mạch gói.  
- Mạng chuyển mạch kênh (circuit switched network): Khi có hai thực thể cần truyền  
thông với nhau thì giữa chúng sẽ thiết lập một kênh cố định và duy trì kết nối đó cho tới  
khi hai bên ngắt liên lạc. Các dữ liệu chỉ truyền đi theo con đường cố định đó. Nhược  
điểm của chuyển mạch kênh là tiêu tốn thời gian để thiết lập kênh truyền cố định và hiệu  
suất sử dụng mạng không cao.  
- Mạng chuyển mạch thông báo (message switched network): Thông báo là một đơn  
vị dữ liệu của người sử dụng có khuôn dạng được quy định trước. Mỗi thông báo có chứa  
các thông tin điều khiển trong đó chỉ rõ đích cần truyền tới của thông báo. Căn cứ vào  
thông tin điều khiển này mà mỗi nút trung gian có thể chuyển thông báo tới nút kế tiếp  
trên con đường dẫn tới đích của thông báo. Như vậy mỗi nút cần phải lưu giữ tạm thời để  
đọc thông tin điều khiển trên thông báo, nếu thấy thông báo không gửi cho mình thì tiếp  
tục chuyển tiếp thông báo đi. Tuỳ vào điều kiện của mạng mà thông báo có thể được  
chuyển đi theo nhiều con đường khác nhau.  
Ưu điểm của phương pháp này là:  
+ Hiệu suất sử dụng đường truyền cao vì không bị chiếm dụng độc quyền mà được  
phân chia giữa nhiều thực thể truyền thông.  
+ Mỗi nút mạng có thể lưu trữ thông tin tạm thời sau đó mới chuyển thông báo đi, do  
đó có thể điều chỉnh để làm giảm tình trạng tắc nghẽn trên mạng.  
+ Có thể điều khiển việc truyền tin bằng cách sắp xếp độ ưu tiên cho các thông báo.  
+ Có thể tăng hiệu suất sử dụng giải thông của mạng bằng cách gắn địa chỉ quảng bá  
(broadcast addressing) để gửi thông báo đồng thời tới nhiều đích.  
Nhược điểm của phương pháp này là: Không hạn chế được kích thước của thông báo  
dẫn đến phí tổn lưu giữ tạm thời cao và ảnh hưởng đến thời gian trả lời yêu cầu của các  
trạm.  
- Mạng chuyển mạch gói (packet switched network): Ở đây mỗi thông báo được chia  
ra thành nhiều gói nhỏ hơn được gọi là các gói tin (packet) có khuôn dạng qui định  
trước. Mỗi gói tin cũng chứa các thông tin điều khiển, trong đó có địa chỉ nguồn (người  
gửi) và địa chỉ đích (người nhận) của gói tin.  
Các gói tin của cùng một thông báo có thể được gởi đi qua mạng tới đích theo nhiều  
con đường khác nhau.  
Phương pháp chuyển mạch thông báo và chuyển mạch gói là gần giống nhau. Điểm  
khác biệt là các gói tin được giới hạn kích thước tối đa sao cho các nút mạng (các nút  
chuyển mạch) có thể xử lý toàn bộ gói tin trong bộ nhớ mà không phải lưu giữ tạm thời  
trên đĩa. Bởi vậy nên mạng chuyển mạch gói truyền dữ liệu hiệu quả hơn so với mạng  
chuyển mạch thông báo.  
Tích hợp hai kỹ thuật chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói vào trong một mạng  
thống nhất được mạng tích hợp số ISDN (Integated Services Digital Network).  
1.3.3. Phân loại theo kiến trúc mạng sử dụng.  
Kiến trúc của mạng bao gồm hai vấn đề: hình trạng mạng (Network topology) và giao  
thức mạng (Network protocol)  
- Hình trạng mạng: Cách kết nối các máy tính với nhau về mặt hình học mà ta gọi là  
tô pô của mạng.  
- Giao thức mạng: Tập hợp các quy ước truyền thông giữa các thực thể truyền thông  
mà ta gọi là giao thức (hay nghi thức) của mạng  
Khi phân loại theo topo mạng người ta thường có phân loại thành: mạng hình sao,  
tròn, tuyến tính.  
Phân loại theo giao thức mà mạng sử dụng người ta phân loại thành mạng: TCP/IP,  
mạng NETBIOS...  
Tuy nhiên cách phân loại trên không phổ biến và chỉ áp dụng cho các mạng cục bộ.  
1.3.4. Phân loại theo hệ điều hành mạng.  
Nếu phân loại theo hệ điều hành mạng người ta chia ra theo mô hình mạng ngang  
hàng, mạng khách/chủ hoặc phân loại theo tên hệ điều hành mà mạng sử dụng: Windows  
NT, Unix, Novell...  
1.4. Giới thiệu mạng máy tính thông dụng nhất.  
1.4.1. Mạng cục bộ.  
Một mạng cục bộ (LAN - Local Area Network) là sự kết nối một nhóm máy tính và  
các thiết bị kết nối mạng được lắp đặt trên một phạm vị địa lý giới hạn, thường trong một  
toà nhà hoặc một khu công sở nào đó.  
Mạng cục bộ có các đặc tính sau:  
- Tốc độ truyền dữ liệu cao.  
- Phạm vi địa lý giới hạn.  
- Sở hữu của một cơ quan/tổ chức.  
1.4.2. Mạng diện rộng kết nối LAN TO LAN.  
Mạng diện rộng (WAN - Wide Area Network) bao giờ cũng là sự kết nối của các  
mạng LAN, mạng diện rộng có thể trải trên phạm vi một vùng, quốc gia hoặc cả một lục  
địa thậm chí trên phạm vi toàn cầu.  
- Tốc độ truyền dữ liệu không cao.  
- Phạm vi địa lý không giới hạn.  
- Thường triển khai dựa vào các công ty truyền thông, bưu điện và dùng các hệ thống  
truyền thông này để tạo dựng đường truyền.  
- Một mạng WAN có thể là sở hữu của một tập đoàn/tổ chức hoặc là mạng kết nối  
của nhiều tập đoàn/tổ chức.  
WAN  
Link  
LAN  
LAN  
LAN  
Hình 1.1. Kết nối LAN to LAN  
1.4.3. Liên mạng Internet.  
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ là sự ra đời của liên mạng INTERNET,  
đó là:  
- Là một mạng toàn cầu.  
- Là sự kết hợp của vô số các hệ thống truyền thông, máy chủ cung cấp thông tin và  
dịch vụ, các máy trạm khai thác thông tin.  
- Dựa trên nhiều nền tảng truyền thông khác nhau, nhưng đều trên nền giao thức  
TCP/IP.  
- Là sở hữu chung của toàn nhân loại.  
- Càng ngày càng phát triển mãnh liệt.  
1.4.4. Mạng Intranet.  
Thực sự là một mạng INTERNET thu nhỏ vào trong một cơ quan/công ty/tổ chức hay  
một bộ/ngành,..., giới hạn phạm vi người sử dụng, có sử dụng các công nghệ kiểm soát  
truy cập và bảo mật thông tin .  
Được phát triển từ các mạng LAN, WAN dùng công nghệ INTERNET  
1.5. Mạng cục bộ và kiến trúc mạng cục bộ.  
1.5.1. Mạng cục bộ.  
Tên gọi “mạng cục bộ” được xem xét từ quy mô của mạng. Tuy nhiên, đó không phải  
là đặc tính duy nhất của mạng cục bộ nhưng trên thực tế, quy mô của mạng quyết định  
nhiều đặc tính và công nghệ của mạng. Sau đây là một số đặc điểm của mạng cục bộ:  
- Mạng cục bộ có quy mô nhỏ, thường là bán kính dưới vài km. Đặc điểm này cho  
phép không cần dùng các thiết bị dẫn đường với các mối liên hệ phức tạp.  
- Mạng cục bộ thường là sở hữu của một tổ chức. Điều này dường như có vẻ ít quan  
trọng nhưng trên thực tế đó là điều khá quan trọng để việc quản lý mạng có hiệu quả.  
- Mạng cục bộ có tốc độ cao và ít lỗi. Trên mạng rộng tốc độ nói chung chỉ đạt vài  
Kbit/s. Còn tốc độ thông thường trên mạng cục bộ là 10, 100 Kb/s và tới nay với Gigabit  
Ethernet, tốc độ trên mạng cục bộ có thể đạt 1Gb/s. Xác suất lỗi rất thấp.  
1.5.2. Kiến trúc mạng cục bộ.  
a. Mạng hình sao.  
Mạng hình sao có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ  
nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích. Tuỳ theo yêu cầu truyền thông trên  
mạng mà thiết bị trung tâm có thể là bộ chuyển mạch (switch), bộ chọn đường (router)  
hoặc là bộ phân kênh (hub). Vai trò của thiết bị trung tâm này là thực hiện việc thiết lập  
các liên kết điểm-điểm (point-to-point) giữa các trạm.  
Ưu điểm: Thiết lập mạng đơn giản, dễ dàng cấu hình lại mạng (thêm, bớt các trạm),  
dễ dàng kiểm soát và khắc phục sự cố, tận dụng được tối đa tốc độ truyền của đường  
truyền vật lý.  
Nhược điểm: Độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế  
(trong vòng 100m, với công nghệ hiện nay).  
Hình 1.2. Kết nối hình sao.  
b. Mạng trục tuyến tính. (Bus)  
Trong mạng trục tất cả các trạm phân chia một đường truyền chung (bus). Đường  
truyền chính được giới hạn hai đầu bằng hai đầu nối đặc biệt gọi là terminator. Mỗi trạm  
được nối với trục chính qua một đầu nối chữ T (T-connector) hoặc một thiết bị thu phát  
(transceiver).  
Khi một trạm truyền dữ liệu tín hiệu được quảng bá trên cả hai chiều của bus, tức là  
mọi trạm còn lại đều có thể thu được tín hiệu đó trực tiếp. Đối với các bus một chiều thì  
tín hiệu chỉ đi về một phía, lúc đó các terminator phải được thiết kế sao cho các tín hiệu  
đó phải được dội lại trên bus để cho các trạm trên mạng đều có thể thu nhận được tín  
hiệu đó. Như vậy với topo mạng trục dữ liệu được truyền theo các liên kết điểm-đa điểm  
(point-to-multipoint) hay quảng bá (broadcast).  
Hình 1.3. Kết nối trục tuyến tính.  
- Ưu điểm: Chi phí thấp, dễ thiết kế.  
- Nhược điểm: Tính ổn định kém vì chỉ 1 nút mạng hỏng là toàn bộ mạng bị ngừng  
hoạt động.  
c. Mạng hình vòng.  
Hình 1.4. Kết nối vòng.  
Trên mạng hình vòng tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều duy nhất. Mỗi  
trạm của mạng được nối với vòng qua một bộ chuyển tiếp (repeater) có nhiệm vụ nhận  
tín hiệu rồi chuyển tiếp đến trạm kế tiếp trên vòng.  
Như vậy tín hiệu được lưu chuyển trên vòng theo một chuỗi liên tiếp các liên kết  
điểm-điểm giữa các repeater do đó cần có giao thức điều khiển việc cấp phát quyền được  
truyền dữ liệu trên vòng mạng cho trạm có nhu cầu.  
Để tăng độ tin cậy của mạng ta có thể lắp đặt thêm các vòng dự phòng, nếu vòng  
chính có sự cố thì vòng phụ sẽ được sử dụng.  
Mạng hình vòng có ưu nhược điểm tương tự mạng hình sao, tuy nhiên mạng hình  
vòng đòi hỏi giao thức truy nhập mạng phức tạp hơn mạng hình sao.  
d. Kết nối hỗn hợp.  
Là sự phối hợp các kiểu kết nối khác nhau, ví du hình cây là cấu trúc phân tầng của  
kiểu hình sao hay các HUB có thể được nối với nhau theo kiểu bus còn từ các HUB nối  
với các máy theo hình sao.  
Hình 1.5. Kết nối hỗn hợp  
1.6. Chuẩn hóa mạng máy tính và mô hình OSI.  
1.6.1. Các vấn đề chuẩn hóa mạng máy tính.  
Khi thiết kế, các nhà thiết kế tự do lựa chọn kiến trúc mạng cho riêng mình. Từ đó  
dẫn tới tình trạng không tương thích giữa các mạng máy tính với nhau. Nhu cầu trao đổi  
thông tin càng lớn thúc đẩy việc xây dựng khung chuẩn về kiến trúc mạng để làm căn cứ  
cho các nhà thiết kế và chế tạo thiết bị mạng .  
Chính vì lý do đó, tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO (Internatinal Organnization for  
Standarzation) đã xây dựng mô hình tham chiếu cho việc kết nối các hệ thống mở OSI  
(reference model for Open Systems Interconnection).  
Mô hình này là cơ sở cho việc kết nối các hệ thống mở phục vụ cho các ứng dụng  
phân tán.  
Có hai loại chuẩn cho mạng đó là:  
- Các chuẩn chính thức (de jure) do các tổ chức chuẩn quốc gia và quốc tế ban hành.  
- Các chuẩn tực tiễn (de facto) do các hãng sản xuất, các tổ chức người sử dụng xây  
dựng và được dùng rộng rãi trong thực tế  
1.6.2. Mô hình tham chiếu OSI 7 lớp.  
Mô hình tham chiếu OSI 7 lớp có thể mô tả bằng hình vẽ:  
Hình 1.6. Mô hình tham chiếu OSI 7 lớp  
a. Lớp vật lý  
Lớp này bảo đảm các công việc sau:  
- Lập, cắt kết nối giữa.  
- Truyền tin dạng bit qua kênh vật lý.  
- Có thể có nhiều kênh.  
b. Lớp liên kết dữ liệu.  
Lớp này đảm bảo việc biến đổi các tin dạng bit nhận được từ lớp dưới (vật lý) sang  
khung số liệu, thông báo cho hệ phát, kết quả thu được sao cho các thông tin truyền lên  
cho mức 3 không có lỗi. Các thông tin truyền ở mức 1 có thể làm hỏng các thông tin  
khung số liệu (frame error). Phần mềm mức hai sẽ thông báo cho mức một truyền lại các  
thông tin bị mất/lỗi. Đồng bộ các hệ có tốc độ xử lý tính khác nhau, một trong những  
phương pháp hay sử dụng là dùng bộ đệm trung gian để lưu giữ số liệu nhận được. Độ  
lớn của bộ đệm này phụ thuộc vào tương quan xử lý của các hệ thu và phát. Trong  
trường hợp đường truyền song công toàn phần, lớp datalink phải đảm bảo việc quản lý  
các thông tin số liệu và các thông tin trạng thái.  
c. Lớp mạng  
Nhiệm vụ của lớp mạng là đảm bảo chuyển chính xác số liệu giữa các thiết bị cuối  
trong mạng. Để làm được việc đó, phải có chiến lược đánh địa chỉ thống nhất trong toàn  
mạng. Mỗi thiết bị cuối và thiết bị mạng có một địa chỉ mạng xác định. Số liệu cần trao  
đổi giữa các thiết bị cuối được tổ chức thành các gói (packet) có độ dài thay đổi và được  
gán đầy đủ địa chỉ nguồn (source address) và địa chỉ đích (destination address).  
Lớp mạng đảm bảo việc tìm đường tối ưu cho các gói dữ liệu bằng các giao thức chọn  
đường dựa trên các thiết bị chọn đường (router). Ngoài ra, lớp mạng có chức năng điều  
khiển lưu lượng số liệu trong mạng để tránh xảy ra tắc nghẽn bằng cách chọn các chiến  
lược tìm đường khác nhau để quyết định việc chuyển tiếp các gói số liệu.  
d. Lớp chuyển vận.  
Lớp này thực hiện các chức năng nhận thông tin từ lớp phiên (session) chia thành các  
gói nhỏ hơn và truyền xuống lớp dưới, hoặc nhận thông tin từ lớp dưới chuyển lên phục  
hồi theo cách chia của hệ phát (Fragmentation and Reassembly). Nhiệm vụ quan trọng  
nhất của lớp vận chuyển là đảm bảo chuyển số liệu chính xác giữa hai thực thể thuộc lớp  
phiên (end-to-end control). Để làm được việc đó, ngoài chức năng kiểm tra số tuần tự  
phát, thu, kiểm tra và phát hiện, xử lý lỗi.Lớp vận chuyển còn có chức năng điều khiển  
lưu lượng số liệu để đồng bộ giữa thể thu và phát , tránh tắc nghẽn số liệu khi chuyển  
qua lớp mạng. Ngoài ra, nhiều thực thể lớp phiên có thể trao đổi số liệu trên cùng một  
kết nối lớp mạng (multiplexing).  
e. Lớp phiên.  
Liên kết giữa hai thực thể có nhu cầu trao đổi số liệu, ví dụ người dùng và một máy  
tính ở xa, được gọi là một phiên làm việc. Nhiệm vụ của lớp phiên là quản lý việc trao  
đổi số liệu, ví dụ: thiết lập giao diện giữa người dùng và máy, xác định thông số điều  
khiển trao đổi số liệu (tốc độ truyền, số bit trong một byte, có kiểm tra lỗi parity hay  
không, v.v.), xác định loại giao thức mô phỏng thiết bị cuối (terminal emulation), v.v.  
Chức năng quan trọng nhất của lớp phiên là đảm bảo đồng bộ số liệu bằng cách thực  
hiện các điểm kiểm tra.  
Tại các điểm kiểm tra này, toàn bộ trạng thái và số liệu của phiên làm việc được lưu  
trữ trong bộ nhớ đệm. Khi có sự cố, có thể khởi tạo lại phiên làm việc từ điểm kiểm tra  
cuối cùng (không phải khởi tạo lại từ đầu).  
f. Lớp thể hiện.  
Nhiệm vụ của lớp thể hiện là thích ứng các cấu trúc dữ liệu khác nhau của người dùng  
với cấu trúc dữ liệu thống nhất sử dụng trong mạng. Số liệu của người dùng có thể được  
nén và mã hoá ở lớp thể hiện, trước khi chuyển xuống lớp phiên. Ngoài ra, lớp thể hiện  
còn chứa các thư viện các yêu cầu của người dùng, thư viện tiện ích, ví dụ thay đổi dạng  
thể hiện của các tệp, nén tệp...  
g. Lớp ứng dụng.  
Lớp ứng dụng cung cấp các phương tiện để người sử dụng có thể truy nhập được vào  
môi trường OSI, đồng thời cung cấp các dịch vụ thông tin phân tán. Lớp mạng cho phép  
người dùng khai thác các tài nguyên trong mạng tương tự như tài nguyên tại chỗ.  
1.7. Các chuẩn kết nối thông dụng.  
- Các chuẩn chính thức (de jure) do các tổ chức chuẩn quốc gia và quốc tế ban hành.  
- Các chuẩn tực tiễn (de facto) do các hãng soản xuất, các tổ chức người sử dụng xây  
dựng và được dùng rộng rãi trong thực tế  
1.7.1. Các chuẩn IEEE 802.x  
IEEE là tổ chức đi tiên phong trong lĩnh vực chuẩn hoá mạng cục bộ với đề án IEEE  
802 với kết quả là một loạt các chuẩn thuộc họ IEEE 802.x ra đời.  
IEEE 802.: là chuẩn đặc tả kiến trúc mạng, kết nối giữa các mạng và việc quản trị  
mạng đối với mạng cục bộ.  
IEEE 802.2: là chuẩn đặc tả tầng dịch vụ giao thức của mạng cục bộ.  
IEEE 802.3: là chuẩn đặc tả một mạng cục bộ dựa trên mạng Ethernet nổi tiếng của  
Digital, Intel và Xerox hợp tác xây dựng từ năm 1980.  
Tầng vật lý của IEEE 802.3 có thể dùng các phương án sau để xây dựng:  
- 10BASE5 : tốc độ 10Mb/s, dùng cáp xoắn đôi không bọc kim UTP (Unshield  
Twisted Pair), với phạm vi tín hiệu lên tới 500m, topo mạng hình sao.  
- 10BASE2 : tốc độ 10Mb/s, dùng cáp đồng trục thin-cable với trở kháng 50Ohm,  
phạm vi tín hiệu 200m,topo mạng dạng bus.  
- 10BASE5 : tốc độ 10Mb/s, dùng cáp đồng trục thick-cable (đường kính  
10mm) với trở kháng 50 Ohm, phạm vi tín hiệu 500m, topo mạng dạng bus.  
- 10BASE-F: dùng cáp quang, tốc độ 10Mb/s phạm vi cáp 2000m.  
IEEE 802.4: là chuẩn đặc tả mạng cục bộ với topo mạng dạng bus dùng thẻ bài để  
điều việc truy nhập đường truyền.  
IEEE 802.5: là chuẩn đặc tả mạng cục bộ với topo mạng dạng vòng (ring) dùng thẻ  
bài để điều việc truy nhập đường truyền.  
IEEE 802.6: là chuẩn đặc tả mạng tốc độ cao kết nối với nhiều mạng cục bộ thuộc  
các khu vực khác nhau của một đô thị (còn được gọi là mạng MAN - Metropolitan Area  
Network)  
IEEE 802.9: là chuẩn đặc tả mạng tích hợp dữ liệu và tiếng nói bao gồm 1 kênh dị bộ  
10 Mb/s cùng với 96 kênh 64Kb/s. Chuẩn này được thiết kế cho môi trường có lượng lưu  
thông lớn và cấp bách.  
IEEE 802.10: là chuẩn đặc tả về an toàn thông tin trong các mạng cục bộ có khả năng  
liên tác .  
IEEE 802.11: là chuẩn đặc tả mạng cục bộ không dây (Wireless LAN) hiện đang  
được tiếp tục phát triển.  
IEEE 802.12: là chuẩn đặc tả mạng cục bộ dựa trên công nghệ được đề xuất bởi  
AT&T, IBM và HP gọi là 100 VG - AnyLAN. Mạng này có topo mạng hình sao và một  
phương pháp truy nhập đường truyền có điều khiển tranh chấp. Khi có nhu cầu truyền dữ  
liệu, một trạm sẽ gửi yêu cầu đến hub và trạm chỉ có truyền dữ liệu khi hub cho phép.  
1.7.2. Chuẩn kết nối 8802.x  
Cuối những năm 80, tổ chức ISO đã tiếp nhận họ chuẩn IEEE 802.x và ban hành  
thành chuẩn quốc tế dưới mã hiệu tương ứng là ISO 8802.x.  
2. Các thiết bị kết nối thông dụng và các chuẩn kết nối vật lý  
2.1. Các thiết bị mạng thông dụng  
2.1.1. Các loại cáp truyền.  
a. Cáp đôi dây xoắn (Twisted pair cable)  
- Loại có bọc kim loại để tăng cường chống nhiễu gọi là STP (Shield Twisted Pair).  
Loại này trong vỏ bọc kim có thể có nhiều đôi dây. Về lý thuyết thì tốc độ truyền có thể  
đạt 500Mb/s nhưng thực tế thấp hơn rất nhiều (chỉ đạt 155Mbps với cáp dài 100m)  
- Loại không bọc kim gọi là UTP (UnShield Twisted Pair), chất lượng kém hơn STP  
nhưng rất rẻ.  
- Cáp loại 5 (UTP cat 5e) có thể truyền với tốc độ 100Mb/s rất hay dùng trong các  
mạng cục bộ vì vừa rẻ vừa tiện sử dụng. Cáp này có 4 đôi dây xoắn nằm trong cùng một  
vỏ bọc.  
Hình 1.7. Cáp đôi dây xoắn  
b. Cáp đồng trục (Coaxial cable) băng tần cơ sở  
Là cáp mà hai dây của nó có lõi lồng nhau, lõi ngoài là lưới kim loại. Khả năng chống  
nhiễu rất tốt nên có thể sử dụng với chiều dài từ vài trăm met đến vài km.  
Hình 1.8. Cáp đồng trục.  
c. Cáp quang  
Hình 1.9. Cáp quang  
Dùng để truyền các xung ánh sáng trong lòng một sợi thuỷ tinh phản xạ toàn phần.  
Môi trường cáp quang rất lý tưởng vì:  
- Xung ánh sáng có thể đi hàng trăm km mà không giảm cuờng độ sáng.  
- Giải thông rất cao vì tần số ánh sáng dùng đối với cáp quang cỡ khoảng 1014 –1016  
- An toàn và bí mật  
- Không bị nhiễu điện từ  
Cáp quang chỉ có hai nhược điểm là khó nối dây và giá thành cao.  
2.1.2. Card giao tiếp mạng  
Card giao tiếp mạng hay Network Interface Card (viết tắt là NIC) là một card được  
cắm trực tiếp vào máy tính. Trên đó có các mạch điện giúp cho việc tiếp nhận (receiver)  
hoặc/và phát (transmitter) tín hiệu lên mạng  
Hình 1.10. Card giao tiếp mạng  
Người ta thường dùng từ tranceiver để chỉ thiết bị (mạch) có cả hai chức năng thu và  
phát. Transceiver có nhiều loại vì phải thích hợp đối với cả môi trường truyền và do đó  
cả đầu nối. Ví dụ với cáp gầy card mạng cần có đường giao tiếp theo kiểu BNC, với cáp  
UTP cần có đầu nối theo kiểu giắc điện thoại K5, cáp dày dùng đường nối kiểu AUI , với  
cáp quang phải có những transceiver cho phép chuyển tín hiệu điện thành các xung ánh  
sáng và ngược lại.  
Để dễ ghép nối, nhiều card có thể có nhiều đầu nối ví dụ BNC cho cáp gầy, K45 cho  
UTP hay AUI cho cáp béo. Trong máy tính thường để sẵn các khe cắm để bổ sung các  
thiết bị ngoại vi hay cắm các thiết bị ghép nối.  
2.1.3. Các bộ chuyển tiếp.  
a. Repeater  
Tín hiệu truyền trên các khoảng cách lớn có thể bị suy giảm. Nhiệm vụ của các  
repeater là hồi phục tín hiệu để có thể truyền tiếp cho các trạm khác. Một số repeater đơn  
giản chỉ là khuyếch đại tín hiệu. Trong trường hợp đó cả tín hiệu bị méo cũng sẽ bị  
khuyếch đại. Một số repeater có thể chỉnh cả tín hiệu.  
Hình 1.11. Bộ chuyển tiếp (Repeater)  
b. Bridge  
Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được  
sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng  
phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên  
mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy  
tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.  
Hình 1.12. Bridge  
Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau  
vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của  
Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan...  
cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng  
cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng  
không nằm gần nhau về mặt vật lý.  
2.1.4. Các bộ tập trung (Concentrator hay HUB)  
HUB là một loại thiết bị có nhiều đầu để cắm các đầu cáp mạng. HUB có thể có  
nhiều loại ổ cắm khác nhau phù hợp với kiểu giắc mạng RJ45, AUI hay BCN. Như vậy  
người ta sử dụng HUB để nối dây theo kiểu hình sao. Ưu điểm của kiểu nối này là tăng  
độ độc lập của các máy. Nếu dây nối tới một máy nào đó tiếp xúc không tốt cũng không  
ảnh hưởng đến máy khác.  
Hình 1.13. Hub  
Đặc tính chủ yếu của HUB là hệ thống chuyển mạch trung tâm trong mạng có kiến  
trúc hình sao với việc chuyển mạchđược thực hiện theo hai cách: store-and-forward  
hoặc on-the-fly. Tuy nhiên hệ thống chuyển mạch trung tâm làm nảy sinh vấn đề khi lỗi  
xảy ra ở chính trung tâm, vì vậy hướng phát triển trong suốt nhiều năm qua là khử lỗi để  
làm tăng độ tin cậy của HUB.  
Có loại HUB thụ động (passive HUB) là HUB chỉ đảm bảo chức năng kết nối hoàn  
toàn không xử lý lại tín hiệu. Khi đó không thể dùng HUB để tăng khoảng cách giữa hai  
máy trên mạng.  
- HUB chủ động (active HUB) là HUB có chức năng khuyếch đại tín hiệu để chống  
suy hao. Với HUB này có thể tăng khoảng cách truyền giữa các máy.  
- HUB thông minh (intelligent HUB) là HUB chủ động nhưng có khả năng tạo ra các  
gói tin mang tin tức về hoạt động của mình và gửi lên mạng để người quản trị mạng có  
thể thực hiện quản trị tự động  
2.1.5. Switch (hay còn gọi là switching HUB)  
Hình 1.13. LAN Switch nối hai Segment mạng  
Là các bộ chuyển mạch thực sự. Khác với HUB thông thường, thay vì chuyển một tín  
hiệu đến từ một cổng cho tất cả các cổng, nó chỉ chuyển tín hiệu đến cổng có trạm đích.  
Do vậy Switch là một thiết bị quan trọng trong cácmạng cục bộ lớn dùng để phân đoạn  
mạng. Nhờ có switch mà đụng độ trên mạng giảm hẳn. Ngày nay switch là các thiết bị  
mạng quan trọng cho phép tuỳ biến trên mạng chẳng hạn lập mạng ảo.  
Switch thực chất là một loại bridge, về tính năng kỹ thuật, nó là loại bridge có độ trễ  
nhỏ nhất. Khác với bridge là phải đợi đến hết frame rồi mới truyền, switch sẽ chờ cho  
đến khi nhận được địa chỉ đích của frame gửi tới và lập tức được truyền đi ngay. Điều  
này có nghĩa là frame sẽ được gửi tới LAN cần gửi trước khi nó được switch nhận xong  
hoàn toàn.  
2.1.6. Modem  
Hình 1.14. Modem  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 45 trang Thùy Anh 23220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Mạng máy tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_mon_mang_may_tinh.doc