Lựa chọn các ràng buộc cho thuật toán phân cụm nửa giám sát

Kỷ yếu Hội nghị KHCN Quốc gia lần thứ XI về Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng Công nghệ thông tin (FAIR); Hà Nội, ngày 09-10/8/2018  
DOI: 10.15625/vap.2018.00032  
LA CHN CÁC RÀNG BUC CHO THUT TOÁN PHÂN CM NA  
GIÁM SÁT  
Vũ Việt Vũ1, Nguyn Anh Tun2, Lê ThKiu Oanh3  
1 Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội  
2 Công ty Hệ thống Thông tin (FPT)  
3Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công Nghiệp  
TÓM TẮT: Thuật toán phân cụm dựa trên các ràng buộc là một dạng của thuật toán phân cụm nửa giám sát nhằm tích hợp một tập  
các ràng buộc để cải tiến quá trình phân cụm. Trên thực tế rất nhiều thuật toán phân cụm nửa giám sát đã được giới thiệu. Tuy  
nhiên hầu hết các ràng buộc sử dụng được sinh ngẫu nhiên hoặc giả thiết rằng có sẵn từ ban đầu. Hơn nữa, một số tập ràng buộc  
thậm chí có thể làm giảm chất lượng của quá trình phân cụm nếu chúng không được lựa chọn cẩn thận. Trong bài báo này, chúng  
tôi đề xuất một thuật toán mới mở rộng từ thuật toán MMFFQS nhằm thu thập các ràng buộc từ người sử dụng, thuật toán mới  
được đặt tên là KMMFFQS dựa trên K-Means và phương pháp Min-Max. Kết quả thực nghiệm với các tập dữ liệu thực từ UCI chỉ  
ra tính hiệu quả của thuật toán đề xuất.  
Từ khóa: Phân cm na giám sát, ràng buc, hc tích cc, K-Means.  
I. GIỚI THIỆU  
Thuật toán phân cụm (clustering) nhằm phân tách một tập dữ liệu X có n phần tử trong không gian m chiều  
thành các cụm sao cho các phần tử trong mỗi cụm thì tương tự nhau theo một độ đo nào đó. Thuật toán phân cụm đóng  
vai trò quan trọng trong lĩnh vực khai phá dữ liệu và phát hiện tri thức từ dữ liệu. Mục đích của quá trình phân cụm là  
phát hiện ra cấu trúc của tập dữ liệu đang xét, tìm ra mối liên hệ giữa các phần tử và thậm chí trong một số trường hợp  
phát hiện ra các phần tử dị thường (outlier). Các thuật toán phân cụm được nghiên cứu và giới thiệu từ những năm 50  
của thế kỷ XX. Các thuật toán điển hình có thể kể đến như K-Means, Fuzzy C-Means, thuật toán phân cụm dựa trên đồ  
thị (GC), thuật toán phân cụm dựa trên mật độ (DBSCAN) [1],… Mặc dù đã có nhiều thuật toán phân cụm được đề  
xuất, tuy nhiên hiện nay chủ đề phân cụm vẫn thu hút nhiều nhà nghiên cứu với mục đích cải tiến chất lượng phân cụm,  
đáp ứng với các loại dữ liệu thực tế phù hợp với các yêu cầu của người sử dụng.  
Từ những năm 2000 trở lại đây, phương pháp phân cụm nửa giám sát (semi-supervised clustering) bắt đầu được  
nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ [2]. Một trong những dạng cơ bản của phân cụm nửa giám sát là các thuật toán sử  
dụng ràng buộc. Các ràng buộc là các cặp dữ liệu có dạng must-link hoặc cannot-link trong đó must-link(u,v) với u, v là  
các phần tử thuộc tập dữ liệu X thể hiện u v nên nhóm vào cùng một cụm, trong khi cannot-link(u,v) cho biết u v  
nên thuộc về hai cụm khác nhau. Hình 1 minh họa ví dụ về dữ liệu với các ràng buộc. Một dạng khác của bài toán phân  
cụm nửa giám sát cũng được quan tâm đó chính là bài toán phân cụm nửa giám sát sử dụng một số điểm hạt giống  
(seed). Các seed ở đây chính là một số điểm đã được gán nhãn sẵn các nhãn của cụm.  
Hình 1. Ví dụ về tập dữ liệu (bên trái) và dữ liệu với các ràng buộc (bên phải); các dữ liệu must-link được biểu diễn bằng các  
đường nét liền, cannot-link được biểu diễn bằng các đường nét đứt.  
Tính đến nay hầu hết các thuật toán phân cụm cơ bản đều đã có các thuật toán phân cụm nửa giám sát tương  
ứng, các thuật toán này sử dụng một trong hai dạng hoặc thậm chí cả hai dạng là ràng buộc và seed vào trong cùng một  
thuật toán. Chúng tôi có thể kể ra đây thuật toán phân cụm nửa giám sát cho K-Means [3], Fuzzy C-Means [4],  
DBSCAN [5], GC [6],… Thuật toán có thể tích hợp cả hai dạng là ràng buộc và seed có thể kể đến như thuật toán  
MCSSGC [7] và thuật toán MCSSDBS [8]. Phương pháp sử dụng các ràng buộc tích hợp vào bài toán phân cụm  
thường có hai dạng là tích hợp trực tiếp vào quá trình tìm kiếm các cụm hoặc dùng các ràng buộc để huấn luyện một độ  
đo khoảng cách sao cho khi chuyển sang không gian độ đo mới thì các điểm thuộc các ràng buộc must-link sẽ xích gần  
nhau và các điểm thuộc các ràng buộc cannot-link sẽ xa nhau ra.  
240  
LỰA CHỌN CÁC RÀNG BUỘC CHO THUẬT TOÁN PHÂN CỤM NỬA GIÁM SÁT  
Một vấn đề quan trọng phát sinh trong quá trình nghiên cứu các thuật toán phân cụm nửa giám sát là việc lựa  
chọn các ràng buộc. Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc lựa chọn các ràng buộc tốt sẽ tăng đáng kể chất  
lượng phân cụm tuy nhiên nếu tập các ràng buộc không lựa chọn tốt có thể làm giảm chất lượng phân cụm [9]. Việc lựa  
chọn các cặp để gán nhãn nhằm thu thập các ràng buộc sao cho tốt nằm trong khuôn khổ của bài toán học tích cực  
(active learning). Một số thuật toán học tích cực đã được phát triển như thuật toán FFQS [10], thuật toán MMFFQS  
[11], thuật toán ASC [12], thuật toán AFCC [13], thuật toán dựa trên hàm hạt nhân [14],… Các nghiên cứu này đều cho  
thấy việc lựa chọn tốt các ràng buộc không những làm tăng chất lượng của quá trình phân cụm mà còn giảm được số  
lượng các ràng buộc cần thu thập. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất một thuật toán mới mở rộng từ thuật toán  
MMFFQS nhằm thu thập các ràng buộc từ người sử dụng, thuật toán mới được đặt tên là KMMFFQS dựa trên K-  
Means và phương pháp Min-Max. Kết quả thực nghiệm với các tập dữ liệu thực từ UCI [15] chỉ ra tính hiệu quả của  
thuật toán đề xuất.  
Phần tiếp theo của bài báo được cấu trúc như sau: Phần II sẽ trình bày các nghiên cứu liên quan; phần III giới  
thiệu phương pháp đề xuất; phần IV là kết quả thực nghiệm và cuối cùng phần V là kết luận của bài báo.  
II. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Với phương pháp Min-Max, đầu tiên sẽ chọn ngẫu nhiên một điểm trong tập dữ liệu X đem đi gán nhãn. Các  
bước tiếp theo sẽ chọn điểm (ynew) nhằm cực đại hóa các khoảng cách nhỏ nhất từ các điểm chưa có nhãn đến các điểm  
đã gán nhãn trong tập Y. Điểm ynew được xác định theo công thức sau:  
ynew rgmaxx min y d x, y  
trong đó ynew biểu thị điểm mới sẽ cập nhật vào tập Y và d(.) là hàm khoảng cách (có thể là hàm tính khoảng cách theo  
Euclid hay Mahananobis,…).  
Dựa vào ý tưởng trên thuật toán FFQS đã được đề xuất năm 2004 cho việc thu thp các ràng buc từ người sử  
dng. Thut toán FFQS gồm hai bước cơ bản: Bước thứ nhất nhằm tìm ra tập xương sống trong đó mỗi cụm chứa ít  
nhất một điểm nằm trong tập ràng buôc. Như vậy giữa các điểm của các cụm khác nhau sẽ tạo thành các ràng buộc  
cannot-link. Sau khi tìm ra tập xương sống, phương pháp FFQS tiếp tục lấy ngẫu nhiên các điểm thuộc tập dữ liệu và  
hình thành các cặp điểm với tập xương sống để truy vấn người sử dụng thu thập các must-link. Phương pháp FFQS đã  
được kiểm thử với thuật toán MPCK-means và cho kết quả tốt khi so sánh với phương pháp lựa chọn ràng buộc bằng  
phương pháp lấy ngẫu nhiên. Năm 2008, thuật toán MMFFQS được đề xuất dựa trên sự cải tiến của thuật toán FFQS.  
Cụ thể tại bước 2 của thuật toán FFQS, thay vì lựa chọn các điểm ngẫu nhiên, thuật toán MMFFQS sẽ lựa chọn điểm  
theo phương pháp Min-Max, điểm xa nhất của tập dữ liệu so với tập điểm đã xuất hiện trong các ràng buộc mà chưa  
thuộc ràng buộc nào sẽ được lựa chọn để hình thành các cặp câu hỏi cho người sử dụng để gán nhãn là must-  
link/cannot-link. Hình 2 minh họa một số ràng buộc thu thập được theo thuật toán MMFFQS. Phương pháp MMFFQS  
áp dụng đối với thuật toán MPCK-means cho kết quả tốt hơn thuật toán FFQS. Tuy nhiên một hạn chế của hai thuật  
toán trên là chúng ta phải biết số lượng các cụm ngay từ đầu và cả hai phương pháp chỉ phù hợp với tập dữ liệu các  
cụm có dạng hình cầu cũng như kích thước các cụm là tương tự nhau. Và như vậy với các thuật toán phân cụm nửa  
giám sát như MCSSDBS, MMSSGC, hay MCGC - đây là các thuật toán có thể tìm ra các cụm có hình dạng bất kỳ thì  
khi sử dụng các ràng buộc thu thập được bởi thuật toán FFQS/MMFFQS sẽ cho kết quả cải tiến không cao.  
Hình 2. Ví dụ về các ràng buộc thu thập bằng phương pháp MMFFQS  
Trong một số nghiên cứu gần đây, chiến lược chia để trị tức là chia tập dữ liệu ra thành nhiều phần nhỏ để thực  
hiện các công đoạn tiếp theo trên các phần nhỏ này tỏ ra hiệu quả trong nhiều trường hợp. Năm 2008, thuật toán phân  
cụm SPARCL [16] được giới thiệu trong đó gồm hai bước cơ bản: Bước một sử dụng thuật toán K-Means chia tập dữ  
liệu thành nhiều cụm rồi sau đó sử dụng độ đo giữa các cụm ghép các cụm nhỏ lại với nhau và thu được các cụm có  
hình dạng bất kỳ. Thuật toán SPARCL có độ phức tạp tính toán nhỏ hơn các thuật toán cùng loại như DBSCAN. Năm  
2009, thuật toán xấp xỉ Spectral clustering [17] được giới thiệu cũng dùng hai công đoạn như SPARCL, tuy nhiên thay  
vì dùng các độ đo tương tự của hai cụm để ghép lại thì các tác giả đề xuất sử dụng trực tiếp thuật toán Spectral  
Vũ Việt Vũ, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Thị Kiều Oanh  
241  
Clustering với các trọng tâm của các cụm thu được từ K-Means. Năm 2017, thuật toán COBRA [18] cũng sử dụng K-  
Means để chia ra thành nhiều cụm nhỏ và đi thu thập các ràng buộc sử dụng cho các cặp cụm tương ứng. Kết quả thực  
nghiệm đã chỉ ra tính hiệu quả của phương pháp đề xuất. Thậm chí thuật toán K-Means còn được áp dụng để tăng tốc  
độ tính toán trong bài toán cây khung nhỏ nhất [19]. Trong phần tiếp theo của bái báo, chúng tôi sử dụng ý tưởng trên  
và áp dụng vào việc thu thập các ràng buộc cải tiến cho thuật toán MMFFQS.  
III. PHƯƠNG PHÁP ĐỀ XUẤT  
Trong phần này, chúng tôi trình bày thuật toán KMMFFQS (K-Means based MMFFQS). Thuật toán  
KMMFFQS tương đối đơn giản bao gồm hai bước như sau: Bước một sẽ áp dụng thuật toán K-Means nhằm chia tập  
dữ liệu thành nhiều cụm khác nhau. Tập xương sống sẽ bao gồm tất cả các centroid của các cụm. Ở đây centroid của  
một cụm là điểm thuộc tập dữ liệu và gần với trọng tâm của cụm đó nhất. Bước thứ hai sẽ áp dụng thuật toán  
MMFFQS vào để thực hiện việc truy vấn các cặp dữ liệu nhằm thu thập các ràng buộc. Hai điểm quan trọng của thuật  
toán KMMFFQS là:  
Chúng ta không cần biết trước số cụm, việc sử dụng K-Means sẽ nhằm chia tập dữ liệu ban đầu ra thành  
một lượng đủ lớn các cụm. Quá trình này sẽ biến các cụm có hình dạng bất kỳ thành hợp của các cụm có  
hình dạng cầu theo thuật toán K-Means.  
Với việc chia nhỏ tập dữ liệu, chúng ta sẽ thu thập được các ràng buộc phù hợp với các loại thuật toán phân  
cụm nửa giám sát như MPCK-means, MCSSGC, MCSSDBS, MCGC,… Hình 3 minh họa các cặp điểm  
dùng để truy vấn để gán nhãn (must-link/cannot-link) bởi người sử dụng khi sử dụng thuật toán  
KMMFFQS. Tương tự như vậy hình 4 minh họa một số ràng buộc must-link cannot-link thu thập được  
cho tập dữ liệu gồm 4 cụm theo phân bố Gaussian.  
Hình 3. Ví dụ về các câu hỏi truy vấn cho tập dữ liệu t4.8k.dat bằng phương pháp KMMFFQS  
Việc lựa chọn số cụm trong bước một của thuật toán KMMFFQS là vấn đề đơn giản. Theo [19], giả sử n là số  
lượng các điểm trong tập dữ liệu X, chúng ta có thể chọn số lượng cụm bằng hoặc nhỏ hơn  
n
. Quá trình lựa chọn  
các điểm để hình thành các cặp ứng viên gán nhãn bởi người sử dụng sẽ phụ thuộc vào tập điểm đang có trước đó.  
Điểm mới được chọn theo phương pháp Min-Max sẽ luôn cách xa nhất có thể tập các điểm đã được thu thập trước đó.  
Hình 4. Ví dụ về các ràng buộc thu thập bằng phương pháp KMMFFQS  
242  
LỰA CHỌN CÁC RÀNG BUỘC CHO THUẬT TOÁN PHÂN CỤM NỬA GIÁM SÁT  
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM  
Để đánh giá hiệu quả của thuật toán, chúng tôi sử dụng 6 tập dữ liệu lấy từ trang website chứa các tập dữ liệu  
thực UCI. Chi tiết về các tập dữ liệu được trình bày trong bảng 1. Độ đo Rand Index [20] sẽ được sử dụng để tính toán  
chất lượng phân cụm cho các thuật toán. Độ đo Ran Index được tính bằng tỷ số giữa tổng số lượng các cặp nằm trong  
cùng một cụm và số lượng các cặp nằm trong các cụm khác nhau đúng theo giá trị thực chia cho tổng số cặp của tập dữ  
liệu đang xét.  
Để đánh giá hiệu quả của thuật toán đề xuất, chúng tôi sử dụng thuật toán MCSSGC để tính toán kết quả.  
Phương pháp KMMFFQS sẽ được so sánh với phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên các cặp để gán nhãn bởi người sử  
dụng. Ngoài ra kết quả phân cụm của thuật toán SSGC [21] (thuật toán phân cụm nửa giám sát chỉ sử dụng các seed)  
cũng được trình bày trong hình 5.  
Bảng 1. Dữ liệu dùng trong thực nghiệm từ UCI  
ID  
1
2
3
4
Tên tp dliu  
Ecoli  
Iris  
Protein  
Soybean  
Thyroid  
Zoo  
N
M
7
4
20  
35  
5
K
8
3
6
4
3
7
336  
150  
115  
47  
215  
101  
5
6
16  
Từ kết quả trình bày ở hình 5 chúng ta có thể thấy với cùng số lượng ràng buộc chất lượng của thuật toán  
MCSSGC tăng lên đáng kể khi sử dụng các ràng buộc thu thập được bởi phương pháp đề xuất. Chúng ta có thể giải  
thích sự cải tiến này chính là nhờ sử dụng thuật toán K-Means vào pha thứ nhất của thuật toán đề xuất.  
V. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này chúng tôi giới thiệu phương pháp KMMFFQS, một phương pháp mở rộng từ thuật toán  
MMFFQS bằng cách sử dụng thuật toán K-Means vào chia nhỏ tập dữ liệu trước khi áp dụng chiến thuật Min-Max.  
Bằng cách này thuật toán KMMFFQS thu thập được các ràng buộc đối với tập dữ liệu với hình dạng và kích thước cụm  
bất kỳ. Kết quả thực nghiệm với tập dữ liệu từ UCI cho thấy hiệu quả của thuật toán đề xuất. Trong thời gian tới chúng  
tôi sẽ tiếp tục tiến hành thực nghiệm để so sánh thuật toán đề xuất với các phương pháp khác cũng như áp dụng trên  
các thuật toán phân cụm nửa giám sát khác.  
Iris  
Ecoli  
Protein  
Soybean  
Vũ Việt Vũ, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Thị Kiều Oanh  
243  
Zoo  
Thyroid  
Hình 5. Ví dụ về các ràng buộc thu thập bằng phương pháp KMMFFQS  
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Rui Xu, Donald C. Wunsch II. Survey of clustering algorithms. IEEE Trans. Neural Networks 16(3): 645-678  
(2005).  
[2] S. Basu, I. Davidson, and K. L. Wagstaff, Constrained Clustering. Advances in Algorithms, Theory, and  
Applications, Chapman and Hall/CRC Data Mining and Knowledge Discovery Series, 1st edn., 2008.  
[3] Sugato Basu, Mikhail Bilenko, Raymond J. Mooney. A probabilistic framework for semi-supervised  
clustering. KDD 2004: 59-68.  
[4] Nizar Grira, Michel Crucianu, Nozha Boujemaa. Semi-Supervised Fuzzy Clustering with Pairwise-Constrained  
Competitive Agglomeration. FUZZ-IEEE 2005: 867-872  
[5] Carlos Ruiz, Myra Spiliopoulou, Ernestina Menasalvas Ruiz. Density-based semi-supervised clustering. Data Min.  
Knowl. Discov. 21(3): 345-370 (2010)  
[6] Rajul Anand, Chandan K. Reddy. Graph-Based Clustering with Constraints. PAKDD (2) 2011: 51-62.  
[7] Viet Vu Vu, Hong Quan Do. Graph-based Clustering with Background Knowledge. SoICT 2017: 167-172  
[8] Viet Vu Vu, Hong Quan Do. Density-based clustering with side information and active learning. KSE 2017: 166-  
171  
[9] Ian Davidson, Kiri Wagstaff, Sugato Basu. Measuring Constraint-Set Utility for Partitional Clustering Algorithms.  
PKDD 2006: 115-126  
[10] Sugato Basu, Arindam Banerjee, Raymond J. Mooney. Active Semi-Supervision for Pairwise Constrained  
Clustering. SDM 2004: 333-344  
[11] Pavan Kumar Mallapragada, Rong Jin, Anil K. Jain. Active query selection for semi-supervised  
clustering. ICPR 2008: 1-4  
[12] Viet Vu Vu, Nicolas Labroche, Bernadette Bouchon-Meunier. Improving constrained clustering with active query  
selection. Pattern Recognition 45(4): 1749-1758 (2012)  
[13] Nizar Grira, Michel Crucianu, Nozha Boujemaa. Active semi-supervised fuzzy clustering. Pattern  
Recognition 41(5): 1834-1844 (2008)  
[14] Ahmad Ali Abin, Hamid Beigy. Active constrained fuzzy clustering: A multiple kernels learning approach.  
Pattern Recognition 48(3): 953-967 (2015)  
California, School of Information and Computer Science, 2013.  
[16]Vineet Chaoji, Mohammad Al Hasan, Saeed Salem, Mohammed J. Zaki. SPARCL: an effective and efficient  
algorithm for mining arbitrary shape-based clusters. Knowl. Inf. Syst. 21(2): 201-229 (2009)  
[17]Donghui Yan, Ling Huang, Michael I. Jordan. Fast approximate spectral clustering. KDD, 2009, 907-916  
[18]Toon van Craenendonck, Sebastijan Dumancic, Hendrik Blockeel:  
[19]COBRA. A Fast and Simple Method for Active Clustering with Pairwise Constraints. IJCAI 2017: 2871-2877  
[20] W. M. Rand. Objective criteria for the evaluation of clustering methods. Journal of the American Statistical  
Association, 66 (336): 846850, 197, 1971.  
244  
LỰA CHỌN CÁC RÀNG BUỘC CHO THUẬT TOÁN PHÂN CỤM NỬA GIÁM SÁT  
[21] Viet Vu Vu. An efficient semi-supervised graph based clustering. Intelligent Data Analysis, 22(2): 297-307  
(2018).  
SELECTING CONSTRAINTS FOR SEMI-SUPERVISED CLUSTERING  
Vu Viet Vu, Nguyen Anh Tuan, Le Thi Kieu Oanh  
ABSTRACT: Constraints based clustering is one kind of semi-supervised clustering that integrates a small set of constraints to the  
clustering algorithms to improve the performances of clustering process. In fact, there are so many semi-supervised clustering  
algorithms proposed in the literature. However, most of the time, constraints are generated at random or they are assumed to be  
available for each cluster. Moreover, some constraint might actually decrease the performance of semi-supervised clustering  
algorithms if they cannot be carefully chosen. In this paper, we introduce a new efficient algorithm extended from the MMFFQS  
algorithm for active constraints selection which relies on K-Means clustering and Min-Max method, called KMMFFQS.  
Experiments conducted on real datasets from UCI show the effectiveness of our new algorithm.  
Keywords: semi-supervised clustering, constraint, active learning, K-Means.  
pdf 6 trang Thùy Anh 16300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lựa chọn các ràng buộc cho thuật toán phân cụm nửa giám sát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflua_chon_cac_rang_buoc_cho_thuat_toan_phan_cum_nua_giam_sat.pdf