Hệ qui chiếu được đề xuất cho nghiên cứu tương đồng - dị biệt trong giao tiếp giao văn hoá và sự cố dụng học trong giao tiếp liên văn hoá: Qui chiếu biểu hiện (văn hoá)

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
1
RESEARCH  
HỆ QUI CHIẾU ĐƯỢC ĐỀ XUẤT CHO NGHIÊN CỨU  
TƯƠNG ĐỒNG-DỊ BIỆT TRONG GIAO TIẾPGIAO VĂN HOÁ  
VÀ SỰ CỐ DỤNG HỌC TRONG GIAO TIẾPLIÊN VĂN HOÁ:  
QUI CHIẾU BIỂU HIỆN (VĂN HOÁ)  
Nguyễn Quang*  
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 28 tháng 10 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 5 tháng 1 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 3 năm 2021  
Tóm tắt: Bài viết đề xuất một hệ qui chiếu các tương đồng-dị biệt và sự cố dụng học cho các  
nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá trong tương tác. Hệ qui chiếu được xây dựng với ba chiều: ‘Biểu  
hiện’ (Văn hoá), ‘Tác động’ (Giao tiếp) và ‘Mức độ’ (Tầng qui chiếu). Bài viết cũng đi sâu xem xét các  
cách tiếp cận chiều ‘Biểu hiện’ của các học giả khác nhau như Hofstede, Hall, Trompenaars & Hampden-  
Turner và Lewis, đồng thời đưa ra những nhận xét chung trước khi đề xuất cách tiếp cận của riêng tác  
giả trong bài viết tiếp sau.  
Từ khoá: hệ qui chiếu, qui chiếu biểu hiện, tính hiện hữu, tính tỉ lệ, tính biểu hiện  
1. Đặt vấn đề*  
Trong nghiên cứu giao tiếp  
ngoài nước), ở các mức độ khác nhau, đều  
có giá trị học thuật hoặc thực tế không thể  
chối bỏ và đều tạo ra những đóng góp đáng  
quí trong việc hình thành và phát triển năng  
lực giao tiếp liên văn hoá cho người học  
ngoại ngữ và tương tác quốc tế (hình  
thành/điều chỉnh các kĩ năng tương tác, kiểm  
định/nâng cao các kiến thức văn hoá-xã hội,  
xác lập/khẳng định các thái độ tích cực, định  
hình/phát triển các phẩm chất nhân văn và  
hình thành/củng cố các nhận thức đúng đắn).  
nội/liên/giao văn hoá (giữa các thành viên  
thuộc các nhóm xã hội, các tiểu văn hoá, các  
nhóm văn hoá tộc người, các nền văn hoá,  
…), việc tìm ra một hệ qui chiếu (frame of  
reference, system of reference) để nhận diện,  
định vị, đo đạc, lí giải, đối sánh, … hành vi  
tương tác của các đối tượng được xét (tương  
đồng-dị biệt trong nghiên cứu giao văn hoá  
và liên ngôn, sự cố dụng học trong nghiên  
cứu liên văn hoá, và thậm chí, chuẩn-phi  
chuẩn trong nghiên cứu liên ngôn) là cực kì  
quan trọng.  
Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng  
tôi, một hệ qui chiếu cho nghiên cứu ngôn  
ngữ và văn hoá trong tương tác hình như  
chưa được đưa ra; và nếu có, có lẽ, nó vẫn  
còn ở dạng ‘cảm thì đúng hơn là thấy’  
(rather felt than found).  
Các nghiên cứu nội/liên/giao văn hoá  
mà chúng tôi có dịp tiếp cận (cả trong và  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
2
Do vậy, chúng tôi xin được đề xuất  
một hệ qui chiếu với hi vọng (hoàn toàn  
không phải ‘tham vọng’) rằng nó sẽ ít nhiều  
giúp ích cho việc xây dựng khung nghiên  
cứu của các đồng nghiệp có chung quan tâm  
học thuật.  
qua tác động dẫn đến biểu hiện đó (non-  
impact expression). Do vậy, ta sẽ dễ sa đà  
vào những khái quát thái quá  
(overgeneralisations), tạo ra những khuôn  
mẫu cứng nhắc (stereotypes), kiểu như  
‘Người Việt có tinh thần tập thể cao và người  
Mĩ có ý thức cá nhân cao’. Từ dự tưởng  
(preconception) này, cùng tác động của các  
ẩn tàng (hiddens) văn hoá trong giản đồ văn  
hoá (cultural schemata) và thái độ dĩ tộc vi  
trung (ethnocentric attitudes) của mình,  
người ta sẽ dễ dàng bị dẫn dụ đến các dự  
tưởng khác như ‘thành kiến/prejudice’ (thiên  
kiến/ favourable prejudice, định kiến/  
unfavourable prejudice), ‘mặc cảm/  
complexes’ (mặc cảm tự ti/ inferiority  
complex, mặc cảm tự tôn/ superiority  
complex),… (Nguyễn, 2020).  
Chúng tôi cũng hi vọng rằng hệ qui  
chiếu do chúng tôi đề xuất, ở các mức độ  
khác nhau, có thể được áp dụng cho cả giao  
tiếp ngôn từ (từ/word, ngữ/phrase, phát  
ngôn/utterance, thông điệp ngôn từ/verbal  
messege) và giao tiếp phi ngôn từ (hiện  
tố/cue, vùng hiện tố/area of cues, chùm hiện  
tố/cluster of cues, thông điệp phi ngôn  
từ/nonverbal messege). Tuy nhiên, trong các  
bài viết về hệ qui chiếu này, chúng tôi xin  
chỉ tập trung vào giao tiếp ngôn từ trực diện  
(face-to-face verbal communication) mặc dù  
chúng tôi luôn ý thức được vai trò (tối) quan  
trọng của giao tiếp phi ngôn từ trực diện  
(face-to-face nonverbal communication),  
đặc biệt trong những tương tác mà ở đó thái  
độ và tình cảm của các đối tác được thể hiện  
(tương tác thuyết phục/ persuasive  
interaction, tương tác giải trí/ entertaining  
interaction và tương tác cảm xúc/ affective  
interaction).  
Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét các tương  
tác nội/liên/giao văn hoá trên cơ sở các thành  
tố giao tiếp, các yếu tố tác động, các tác nhân  
tương tác mà không qui chúng vào các bình  
diện, hoặc phạm trù, hoặc bình diện phạm  
trù, hoặc hệ số (ví dụ: khoảng cách quyền  
lực, chủ quan tính-khách quan tính, chu  
cảnh thấp-chu cảnh cao, nội chế-ngoại chế,  
…) thì cũng chẳng khác gì bàn đến qui trình  
mà quên đi sản phẩm (non-product process-  
orientation), luận về tác động mà bỏ qua  
biểu hiện (non-expression impact). Do vậy,  
ta sẽ khó nhận diện, định vị, lí giải được ảnh  
hưởng của các ẩn tàng văn hoá lên các thành  
tố/yếu tố/tác nhân giao tiếp, và từ đó, sẽ khó  
đối sánh để tìm ra được các tương đồng-dị  
biệt (giao văn hoá, liên ngôn), chuẩn-phi  
chuẩn (liên ngôn) hay các sự cố giao tiếp  
(liên văn hoá).  
2. Hệ qui chiếu được đề xuất  
Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ qui chiếu  
vào các bình diện (dimensions), các phạm trù  
(categories), các bình diện phạm trù  
(categorical dimensions) hay các hệ số  
(factors) văn hoá (Hofstede, 2010;  
Trompenaars & Hampden-Turner, 1997;  
Hall, 1976, 1983; Lewis, 1989, 2005;  
Nguyễn, 2011; …) khi nghiên cứu các tương  
tác nội/liên/giao văn hoá mà không xét đến  
các thành tố (components), các yếu tố  
(elements) hay các tác nhân (agents) giao  
tiếp (ví dụ: chủ thể, đối thể, quan hệ, quyền  
lực, đề tài, địa điểm, mục đích, nội dung  
thông điệp, hình thức thông điệp…) thì trong  
thực tế, ta mới chỉ tính đến sản phẩm mà  
quên đi qui trình (non-process product-  
orientation), chỉ xem xét biểu hiện mà bỏ  
Ngoài ra, theo kinh nghiệm học thuật  
của bản thân và hiểu biết học thuật thu nhận  
được, chúng tôi thấy rằng nếu chỉ xem xét và  
đối sánh (các) đối tượng nghiên cứu ở mức  
độ ‘Hiện hữu’ (Availability) của một biểu đạt  
nào đó trong một hành động lời nói cụ thể  
hay một biểu hiện nào đó trong một hành  
động/sự kiện/tình huống giao tiếp cụ thể [ví  
dụ: ‘trực tiếp hay gián tiếp trong hành động  
thông báo tin buồn: cái chết trong một vụ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
3
đâm máy bay’ (directness or indirectness in  
conveying bad news: death in an air crash)  
trong nghiên cứu giao văn hoá A-B], ta sẽ dễ  
dàng đi đến những nhận xét mang tính khuôn  
thin. Things seem all predestined and  
predetermined. We can’t go against it,  
aunty. I wish you be not heart-broken,  
so that he can leave in peace);  
mẫu rằng ‘Cả nghiệm thể thuộc văn hoá A  
và nghiệm thể thuộc văn hoá B đều viện đến  
kiểu nói trực tiếp và gián tiếp khi thông báo  
tin buồn’ [Tương đồng]. Nhưng khi xem xét  
và đối sánh ở mức độ cao hơn, có nghĩa là  
xem xét và đối sánh ‘Tỉ lệ sử dụng’  
(Proportionality) của trực tiếp và gián tiếp  
trong hành động lời nói này, ta rất có thể tìm  
thấy cả tương đồng và dị biệt (giao văn hoá)  
[ví dụ: nhìn chung, cả nghiệm thể thuộc văn  
hoá A và nghiệm thể thuộc văn hoá B đều  
viện đến cách nói gián tiếp với tỉ lệ cao hơn  
cách nói trực tiếp (tương đồng). Tuy nhiên,  
số liệu thống kê cũng cho thấy khi xét riêng  
‘gián tiếp’, các nghiệm thể A sử dụng cách  
nói gián tiếp cao hơn đáng kể so với các  
nghiện thể B (dị biệt)]. Đây cũng đồng thời  
là khởi điểm để xem xét chuẩn-phi chuẩn  
trong giao tiếp liên ngôn và sự cố dụng học  
trong giao tiếp liên văn hoá.  
• Nghiệm thể thuộc văn hoá B: Bà thân  
mến, bây giờ là một thời gian cho sự đau  
khổ. Sẽ có một chỗ trống tại bàn ăn tối  
của bà từ giờ trở đi. (Dear, now is a time  
for sorrow. There will be an empty place  
at your dinner table from now on).  
Nói tóm lại, chúng tôi cho rằng đối  
tượng nghiên cứu cần được xem xét và đối  
sánh theo ba chiều (chúng tôi xin được gọi là  
‘Cách tiếp cận 3 chiều/3D Approach’). Ở  
chiều ‘Biểu hiện’ (Văn hoá), ta cần xem xét  
các biểu đạt/biểu hiện của các bình diện,  
phạm trù, hệ số hay bình diện phạm trù của  
văn hoá. Với chiều ‘Tác động’ (Giao tiếp),  
ta cần nghiên cứu xem các thành tố, yếu tố  
hay tác nhân giao tiếp, dưới ảnh hưởng của  
các ẩn tàng văn hoá và các dự tưởng  
(Nguyễn, 2011, 2020), tác động và/hoặc  
đồng tác (co-act) thế nào để tạo ra các biểu  
đạt/biểu hiện này. Với chiều ‘Mức độ’, các  
biểu đạt/biểu hiện cần được xem xét trên ba  
tầng (layers):  
Tuy nhiên, khi đưa (các) đối tượng  
nghiên cứu lên mức độ cao nhất, có nghĩa là  
xem xét và đối sánh chúng ở ‘Cách thức biểu  
hiện’ (Manifestability), ta rất có khả năng  
nhận ra rằng, ngoài những dị biệt đã được  
tìm ra ở mức độ ‘Tỉ lệ sử dụng’, còn xuất  
hiện nhiều kiểu dị biệt khác, trong đó có cả  
những dị biệt thuộc khu vực tương đồng ở  
mức độ trước. Cụ thể, tuy cùng sử dụng gián  
tiếp, nhưng nhiều nghiệm thể thuộc văn hoá  
A lại viện đến các yếu tố tâm linh, siêu nhiên,  
trừu tượng … trong khi nhiều nghiệm thể  
thuộc văn hoá B lại qui về các yếu tố vật  
chất, đời thường, cụ thể. Ví dụ: thông báo  
với mẹ của một nam hành khách vừa tử nạn  
trong vụ đâm máy bay về cái chết của anh ta:  
• Tầng ‘Tính hiện hữu’ (Availability):  
Bình diện/Phạm trù/Hệ số/Bình diện  
phạm trù đó có xuất hiện trong hai/các  
nguồn dữ liệu được thu thập hay không?  
• Tầng ‘Tính tỉ lệ’ (Proportionality):  
Bình diện/Phạm trù/Hệ số/Bình diện  
phạm trù đó có tỉ lệ xuất hiện/tần suất  
thế nào trong hai/các nguồn dữ liệu  
được thu thập?  
• Tầng ‘Tính biểu hiện’ (Manifestability):  
Bình diện/Phạm trù/Hệ số/Bình diện  
phạm trù đó được biểu hiện cụ thể ra sao  
trong hai/các nguồn dữ liệu được thu  
thập?  
• Nghiệm thể thuộc văn hoá A: Bác ơi,  
đời người phận mỏng. Mọi sự hình như  
đều đã được tiền định, an bài cả. Mình  
không thể cưỡng lại được, bác ạ. Cháu  
mong bác đừng quá đau buồn để anh ấy  
được thanh thản ra đi ạ. (Aunty, Fate is  
Ví dụ: với bình diện phạm trù ‘Trực  
tiếp >< Gián tiếp’ (Directness vs.  
Indirectness) trong nghiên cứu giao văn hoá  
về thông báo tin buồn ở trên, các câu hỏi đặt  
ra sẽ là:  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
4
dụng hành động lời nói trực tiếp và gián  
tiếp; sử dụng trực tiếp đơn, trực tiếp kép;  
sử dụng gián tiếp đơn, gián tiếp kép,  
gián tiếp ước lệ, gián tiếp phi ước lệ; sử  
dụng rườm ngôn; sử dụng kiểu nói đảo;  
viện đến hiện tượng 'Nhân tiện'; …)?  
• ‘Tính hiện hữu’: Các biểu đạt trực tiếp,  
gián tiếp có xuất hiện trong hai nguồn  
dữ liệu Việt và Anh không?  
• ‘Tính tỉ lệ’: Các biểu đạt trực tiếp, gián  
tiếp có tỉ lệ xuất hiện/tần suất thế nào  
trong hai nguồn dữ liệu Việt và Anh?  
• ‘Tính biểu hiện’: Các biểu đạt trực tiếp,  
Với những lập luận vừa trình bày,  
chúng tôi xin được đề xuất mô hình hệ qui  
chiếu như sau:  
gián tiếp được thể hiện cụ thể ra sao  
trong hai nguồn dữ liệu Việt và Anh (Sử  
Hình 1  
Hệ qui chiếu trong nghiên cứu liên/giao văn hoá  
3. Qui chiếu biểu hiện (văn hoá)  
-
-
Khoảng cách quyền lực (Power distance)  
Chủ nghĩa cá nhân >< Chủ nghĩa tập thể  
(Individualism vs. Collectivism)  
Nam tính >< Nữ tính (Masculinity vs.  
Femininity)  
Tránh bất định (Uncertainty avoidance)  
Định hướng dài hạn >< Định hướng  
ngắn hạn (Long-term orientation vs.  
Short-term orientation)  
3.1. Bình diện văn hoá của Hofstede  
-
Trên cơ sở nghiên cứu sâu rộng về  
cách thức văn hoá ảnh hưởng thế nào đến các  
giá trị tại nơi làm việc ở nhiều quốc gia khác  
nhau, Hofstede (2010) đã đề xuất sáu bình  
diện cơ bản để nhận diện và định vị các nền  
văn hoá, qua đó giúp ta nhận thức được các  
tương đồng và dị biệt đáng lưu ý nhằm tránh  
các sự cố dụng học (đặc biệt là sự cố dụng  
học xã hội) không mong muốn trong các  
tương tác liên văn hoá. Các bình diện đó là:  
-
-
-
Buông xả >< Kiềm chế (Indulgence vs.  
Restraint)  
Mô hình bình diện văn hoá của  
Hofstede được thể hiện như sau:  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
5
Hình 2  
Các bình diện văn hoá của Hofstede  
Chúng tôi xin được tóm lược các bình diện văn hoá của Hofstede như sau:  
BÌNH DIỆN  
NHẬN DIỆN  
BIỂU HIỆN  
KHOẢNG CÁCH  
QUYỀN LỰC  
Khoảng cách  
quyền lực thấp  
Khoảng cách  
quyền lực cao  
Khoảng cách  
quyền lực thấp  
Khoảng cách  
quyền lực cao  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và xem  
xét mức độ mà các  
thành viên của một  
nền văn hoá kì vọng  
và chấp nhận sự bất  
bình đẳng về quyền  
lực trong xã hội  
cũng như cách thức  
họ hành xử với sự  
bất bình đẳng đó.  
Khoảng cách quyền Khoảng cách quyền - Cấp dưới mong  
lực không được đề lực được coi là hiển đợi được tư vấn.  
cao; phân bố quyền nhiên; phân bố - Không kính trọng  
lực dễ bị cào bằng; quyền lực được hay sợ hãi người  
bất bình đẳng về chấp nhận; bất bình nhiều tuổi hơn  
quyền lực cần được đẳng về quyền lực - Tôn ti đồng nghĩa  
- Cấp dưới mong đợi  
được chỉ bảo.  
- Kính trọng/Sợ hãi  
người nhiều tuổi  
hơn.  
- Tôn ti đồng nghĩa  
với sự bất bình đẳng  
mang tính sinh tồn.  
- Quyền lực là một  
lí giải.  
không cần lí giải.  
với bất bình đẳng  
về vai trò.  
- Sử dụng quyền  
lực phải chính đáng thực tế căn bản của  
và tuân theo các  
tiêu chí thiện-tà.  
- …  
xã hội.  
- …  
CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN  
><  
NHẬN DIỆN  
BIỂU HIỆN  
CHỦ NGHĨA TẬP THỂ  
Chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa tập thể Chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa tập thể  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và xem  
xét các mức độ  
Sự ưa chuộng/ưu Sự ưa chuộng /ưu - Đánh giá cao tính  
tiên/đánh giá cao tiên/đánh giá cao độc lập, tự lập  
được dành cho được dành cho - Đề cao sự khác  
khung xã hội với kết khung xã hội với kết biệt và tính duy  
nối lỏng lẻo, trong nối chặt chẽ, trong nhất  
- Đánh giá cao tính  
tương phụ và tương  
hỗ  
- Đề cao sự tương  
đồng và tính chung  
- Coi trọng  
(rộng-hẹp,  
chặt-  
lỏng, …) mà thành  
viên của một nền  
văn hoá kết nối với  
đó các cá nhân chỉ đó các cá nhân thể - Coi trọng  
hướng sự quan tâm hiện và mong đợi sự quyền/quyền lợi cá  
quyền/quyền lợi tập  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
6
các thành viên vào bản thân và gia quan tâm và trung nhân  
-
thể  
khác.  
đình trực tiếp của thành tới/từ họ hàng Coi trọng tính tự  
mình. hoặc các thành viên chủ  
nội nhóm. - …  
NHẬN DIỆN  
- Coi trọng tính hợp  
tác  
- …  
NAM TÍNH >< NỮ TÍNH  
BIỂU HIỆN  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và xem  
xét mức độ và cách  
thức mà các thành  
viên của một nền  
văn hoá tiếp cận  
mục tiêu và xử lí  
vấn đề.  
Nam tính  
Nữ tính  
Nam tính  
Nữ tính  
Nam tính được thể Nữ tính được thể - Có tính cạnh tranh - Có tính đồng thuận  
hiện thông qua tính hiện thông qua tính cao  
ưa chuộng/ ưu tiên/ ưa  
đánh giá cao dành tiên/đánh giá cao tích  
cho thành tích, hành dành cho sự hợp tác, - Đề cao những  
động quả cảm, sự tính khiêm nhường, hành động quả cảm. - Thích quan tâm,  
quyết đoán và phần sự quan tâm chia sẻ. - Độc lập  
thưởng vật chất. Xã Xã hội nữ tính đề - Quyết đoán  
hội nam tính đề cao cao sự đồng thuận.  
tính cạnh tranh.  
cao  
chuộng/ưu - Coi trọng thành  
- Coi trọng hợp tác  
- Tỏ ra khiêm  
nhường  
chia sẻ  
- Cân nhắc trước sau  
- …  
- …  
TRÁNH BẤT ĐỊNH  
NHẬN DIỆN  
BIỂU HIỆN  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và xem  
xét mức độ cảm  
nhận (thoải mái-  
không thoải mái)  
của các thành viên  
trong một nền văn  
hoá đối với tính bất  
định của tương lai  
và sự mơ hồ trong  
cuộc sống.  
Mức độ thấp  
Mức độ cao  
Mức độ thấp  
Mức độ cao  
Các thành viên Các thành viên - Chấp nhận tính  
- Cảm thấy bất an  
thuộc văn hoá tránh thuộc văn hoá tránh bất định vốn có của trước những bất  
bất định thấp có xu bất định cao có xu cuộc sống định trong cuộc  
hướng duy trì một hướng tuân thủ các - Làm chủ bản thân, sống  
thái độ thoải mái qui tắc bất di về áp lực thấp, ít lo âu  
theo đó tập quán hành vi và đức tin, - Khoan hoà với  
quan trọng hơn và khó chấp nhận người khác biệt và  
- Tin tưởng và hành  
xử theo qui tắc  
- Khó chấp nhận dị  
biệt và ngoại lệ  
- Muốn mọi thứ phải  
rõ ràng, mạch lạc  
nguyên tắc.  
các hành vi và ý khoan dung với ý  
tưởng phi chính tưởng trái chiều  
thống.  
- Thoải mái với sự  
mơ hồ và lộn xộn - - Ngại thay đổi công  
Dễ dàng thay đổi  
công việc  
việc  
- …  
- Không thích các  
qui tắc  
- …  
ĐỊNH HƯỚNG DÀI HẠN  
><  
NHẬN DIỆN  
BIỂU HIỆN  
ĐỊNH HƯỚNG  
NGẮN HẠN  
Định hướng  
dài hạn  
Định hướng  
ngắn hạn  
Định hướng  
dài hạn  
Định hướng  
ngắn hạn  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và xem  
xét mức độ (dài  
hạn-ngắn hạn) mà  
các thành viên trong  
một nền văn hoá  
nhìn nhận thời gian  
cùng cách thức họ  
kết nối quá khứ,  
hiện tại và tương  
lai.  
Các thành viên Các thành viên - Thực hành tiết  
thuộc văn hoá định thuộc văn hoá định kiệm  
hướng dài hạn có xu hướng ngắn hạn có - Đề cao tính kiên  
hướng tiếp cận vấn xu hướng tiếp cận trì  
đề một cách thực vấn đề một cách - Đề cao sự bền bỉ  
dụng/thực tế và tập truyền thống và duy - Hành xử linh hoạt - Thực hiện nghĩa vụ  
trung vào tương lai. trì kết nối giữa quá - Có khả năng thích xã hội  
- Tôn trọng truyền  
thống  
- Duy trì chuẩn mực  
- Chấp nhận tầng  
bậc xã hội hiện hành  
khứ và hiện tại.  
ứng  
- Quan tâm đến sự  
hài lòng tức thời hơn  
là sự hoàn thành dài  
hạn  
- Quan tâm đến  
mục tiêu lâu dài  
hơn là lợi ích trước  
mắt  
- …  
- …  
BUÔNG XẢ >< KIỀM CHẾ  
NHẬN DIỆN  
Kiềm chế Buông xả  
BIỂU HIỆN  
Kiềm chế  
Buông xả  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
7
Bình diện này giúp Các thành viên Các thành viên - Không ưa nhàn rỗi - Ưa nhàn rỗi  
ta quan sát và xem thuộc văn hoá kiềm thuộc  
xét mức độ mà các chế có xu hướng buông xả có xu thú bạn bè  
thành viên trong kìm nén việc hưởng hướng thoải mái với - Tỉ lệ người hạnh - Tỉ lệ người hạnh  
một nền văn hoá thụ các nhu cầu căn các nhu cầu căn bản phúc thấp. phúc cao.  
đánh giá và quan bản và tự nhiên của và tự nhiên của con - Đề cao ý thức tiết - Không đề cao ý  
tâm đến các nhu cầu con người, điều tiết người liên quan đến kiệm thức tiết kiệm  
căn bản của con nó bằng các chuẩn hưởng thụ cuộc sống - Chú trọng nguyên - Ít chú trọng nguyên  
văn  
hoá - Không thích vui - Thích vui thú bạn  
bè  
người.  
mực xã hội nghiêm và vui chơi giải trí.  
cẩn.  
tắc đạo lí  
tắc đạo lí  
- Chia sẻ việc nhà - Chia sẻ đều việc  
không đều giữa vợ nhà giữa vợ và chồng  
và chồng  
- Vai trò giới được - Vai trò giới được  
qui định chặt chẽ.  
- Mỉm cười dễ gây - Mỉm cười là chuẩn  
nghi ngại. mực.  
qui định lỏng lẻo.  
- Tự do ngôn luận - Tự do ngôn luận  
không phải là quan được coi trọng.  
tâm hàng đầu.  
- Duy trì trật tự ở - Duy trì trật tự ở  
quốc gia là điều quốc gia không phải  
quan trọng.  
- …  
là điều quan trọng.  
- …  
2.2. Hệ số văn hoá của Hall  
Hall (1976, 1983) nhận diện và định  
vị các nền văn hoá dựa trên ba bình diện với  
các hệ số cụ thể. Các bình diện đó là:  
-
-
-
Chu cảnh (Context)  
Thời gian (Time/Chronemics)  
Không gian (Space/Proxemics)  
Mô hình của Hall có thể được thể  
hiện như sau:  
Hình 3  
Các bình diện qui xét của Hall  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
8
Với ‘Chu cảnh’, văn hoá được phân  
thành ‘Văn hoá chu cảnh thấp’ (Low-context  
cultures) và ‘Văn hoá chu cảnh cao’ (High-  
context cultures). Với ‘Thời gian’, văn hoá  
được chia thành ‘Văn hoá đơn sắc’  
(Monochronic cultures) và ‘Văn hoá đa sắc’  
(Polychronic cultures). Còn với ‘Không  
gian’ (Space/Proxemics), văn hoá được xét  
theo ‘Tính [sở hữu] lãnh thổ thấp’ (Low  
territoriality) và ‘ Tính [sở hữu] lãnh thổ  
cao’ (High territoriality).  
Các bình diện và hệ số văn hoá do  
Hall (1976, 1983) đề xuất có thể được tóm  
lược như sau:  
BIỂU HIỆN  
BÌNH DIỆN  
HỆ SỐ  
CHU CẢNH THẤP  
CHU CẢNH CAO  
CHU  
CẢNH  
* Chu cảnh thấp  
Mức độ công Nhiều thông điệp bạch Nhiều thông điệp hàm  
khai của thông nghĩa và công khai vốn ý và ngầm ẩn, với việc  
Các thành viên thuộc  
văn hoá chu cảnh thấp  
có xu hướng tương  
tác/hành xử tập trung  
vào cái ‘cái gì’ (the  
what): mọi thứ phải rõ  
ràng, trực tiếp, mạch  
lạc, chính xác, minh  
định, chính danh và  
chính ngôn.  
điệp  
đơn giản và rõ ràng.  
sử dụng ẩn dụ và ý tại  
ngôn ngoại.  
Vị trí khống chế Vị trí khống chế ngoại Vị trí khống chế nội  
và qui chỉ thất tại và đổ lỗi thất bại cho tại và bản thân chấp  
bại  
người khác.  
nhận thất bại.  
Sử dụng giao Tập trung vào giao tiếp Sử dụng giao tiếp phi  
tiếp phi ngôn ngôn từ hơn ngôn ngữ ngôn từ nhiều.  
từ  
cơ thể.  
Biểu đạt phản  
hồi  
Phản hồi công khai,  
ngoại tại.  
Phản hồi kín đáo, nội  
tại.  
* Chu cảnh cao  
Các thành viên thuộc văn  
hoá chu cảnh cao có xu  
hướng tương tác/hành xử  
tập trung vào cái ‘thế nào’  
(the how): thông tin  
thường được đặt trong  
‘chu cảnh vật lí’ hoặc được  
nội tại hoá. Thông điệp  
thường mang tính gián  
tiếp, hài hoà, mơ hồ, ý tại  
ngôn ngoại.  
Mức độ gắn kết Khuôn mẫu lập nhóm Phân biệt rõ ràng  
và chia rẽ nhóm linh hoạt và cởi mở, có giữa nội nhóm và  
thể thay đổi khi cần ngoại nhóm. Ý thức  
thiết.  
gia đình mạnh mẽ.  
Mức độ kết nối Kết nối lỏng lẻo giữa Kết nối chặt chẽ giữa  
giữa người với người với người và ý người với người theo  
người  
thức trung thành thấp.  
kiểu liên kết gia đình  
và cộng đồng.  
Mức độ cam kết - Mức độ cam kết thấp - Mức độ cam kết cao  
trong quan hệ  
trong quan hệ.  
trong các quan hệ lâu  
dài.  
- Nhiệm vụ quan trọng - Quan hệ quan trọng  
hơn quan hệ.  
hơn nhiệm vụ.  
Tính linh hoạt  
về thời gian  
- Thời gian được sắp  
xếp chặt chẽ.  
- Thời gian thoải mái  
và linh hoạt.  
- Sản phẩm quan trọng  
hơn qui trình.  
- Qui trình quan  
trọng hơn sản phẩm.  
THỜI  
GIAN  
BIỂU HIỆN  
HỆ SỐ  
ĐƠN SẮC  
ĐA SẮC  
Hành động  
Tiêu điểm  
Mỗi lúc làm một việc  
Tập trung vào công việc  
đang làm  
Một lúc làm nhiều việc  
Dễ bị phân tâm  
Nghĩ đến thời gian sẽ  
phải đạt được cái/điều  
gì đó  
Tập trung thời  
gian  
Nghĩ về cái/điều gì đó  
sẽ đạt được  
Đặt công việc lên trên Đặt quan hệ lên trên  
Ưu tiên  
hết  
hết  
Thường xuyên và dễ  
dàng vay mượn  
Tôn trọng tài sản Ít khi vay mượn  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
9
* Đơn sắc  
Các thành viên thuộc văn  
hoá đơn sắc có xu hướng  
tập trung, có kế hoạch và  
thời biểu rõ ràng, quản trị  
thời gian theo nguyên tắc.  
‘Đơn sắc’ thường tương  
thuận với ‘chu cảnh thấp’.  
* Đa sắc  
Nhấn mạnh vào sự tức Dựa vào các nhân tố  
Thời khắc  
Các thành viên thuộc văn  
hoá đa sắc có xu hướng  
phân tán, coi trọng quá  
trình tương tác hơn kế  
hoạch và thời biểu, quản  
trị thời gian khá lỏng lẻo  
và linh hoạt. ‘Đa sắc’  
thường tương thuận với  
‘chu cảnh cao’.  
thời  
quan hệ tức thời  
KHÔNG  
GIAN  
* Tính sở hữu lãnh thổ  
thấp  
BIỂU HIỆN  
HỆ SỐ  
TÍNH SỞ HỮU  
TÍNH SỞ HỮU  
- Các thành viên thuộc văn  
hoá mang tính sở hữu lãnh  
thổ thấp có xu hướng không  
coi trọng sở hữu không  
gian, không quá quan tâm  
đến ranh giới và lãnh địa.  
Đặc điểm này cũng được  
thể hiện trong việc sở hữu  
vật chất nói chung.  
- ‘Sở hữu lãnh thổ thấp’  
thường tương thuận với  
‘chu cảnh cao’.  
LÃNH THỔ THẤP  
LÃNH THỔ CAO  
- Không thực sự quan  
tâm đến sở hữu  
không gian và xác  
định ranh giới, lãnh  
địa.  
- Có thể chia sẻ lãnh  
thổ và quyền sở hữu;  
không quan tâm  
nhiều đến sở hữu vật  
chất.  
- Tìm cách đánh  
dấu, khẳng định khu  
vực sở hữu.  
- Tính sở hữu lãnh  
thổ cũng được mở  
rộng ra bất cứ thứ gì  
là ‘của tôi’ (‘mine’)  
và mối quan tâm về  
sở hữu cũng được  
mở rộng ra vật chất  
nói chung.  
* Tính sở hữu lãnh thổ  
cao  
- …  
- …  
- Các thành viên thuộc văn  
hoá mang tính sở hữu lãnh  
thổ cao có xu hướng đề cao  
sở hữu không gian, luôn  
quan tâm đến ranh giới và  
lãnh địa. Đặc điểm này  
cũng được thể hiện trong  
việc sở hữu vật chất nói  
chung.  
- ‘Sở hữu lãnh thổ cao’  
thường tương thuận với  
‘chu cảnh thấp’.  
2.3. Bình diện văn hoá của Trompenaars  
và Hampden-Turner  
bình diện để xem xét ‘các dị biệt văn hoá dân  
tộc’ (national culture differences). Các bình  
diện đó là:  
Trompenaars và Hampden-Turner  
(1997), sau khi khảo sát trên qui mô lớn hàng  
nghìn nhân viên và nhà quản lí tại 43 quốc  
gia khác nhau, đã đưa ra một mô hình gồm 7  
-
Phổ quát >< Cá biệt (Universalism vs.  
Particularism)  
-
Cá nhân >< Cộng đồng (Individualism  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
10  
vs. Communitarianism)  
Tiết chế >< Biểu cảm (Neutral vs.  
Emotional)  
Riêng biệt >< Lan toả (Specific vs.  
Diffuse)  
-
-
Tuần tự >< Đồng bộ (Sequential time  
vs. Synchronic time)  
Nội chế >< Ngoại chế (Inner-directed  
vs. Outer-directed)  
-
-
-
Mô hình các bình diện văn hoá của  
Thành tựu >< Qui gán (Achievement  
vs. Ascription)  
Trompenaars và Hampden-Turner được thể  
hiện như sau:  
Hình 4  
Bình diện văn hoá của Trompenaars và Hampden-Turner  
Các bình diện văn hoá cùng các biểu hiện của chúng có thể được tóm lược như sau:  
QUỐC GIA  
ĐẠI DIỆN  
BÌNH DIỆN  
BIỂU HIỆN  
PHỔ QUÁT  
PHỔ QUÁT  
- Có cái nhìn khách quan hơn  
về thực tế  
- Có sự phân biệt rõ ràng giữa  
đúng và sai  
- Thái độ làm việc chuyên  
nghiệp  
- Ưa chuộng lí lẽ  
- Mĩ  
><  
Các thành viên  
thuộc văn hoá phổ  
quát có xu hướng  
tin tưởng, tuân thủ  
và phụ thuộc vào  
các nguyên tắc và  
qui tắc hình thức để  
hành xử và điều  
hành.  
- Canađa  
- Anh  
CÁ BIỆT  
- Úc  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở mức  
độ quan trọng  
dành cho các qui  
tắc, thủ tục hình  
thức hay các quan  
hệ, hoàn cảnh cụ  
thể.  
- Đức  
- Thụy Điển  
- …  
- Tính quan liêu (bureaucracy)  
cao hơn  
- …  
CÁ BIỆT  
- Có cái nhìn chủ quan hơn về  
thực tế  
- Đúng-sai chỉ mang tính  
tương đối và tuỳ vào hoàn  
cảnh  
- Venezuela  
- Indonesia  
- Trung Quốc  
- Hàn Quốc  
- …  
Các thành viên  
thuộc văn hoá cá  
biệt có xu hướng tin  
rằng hoàn cảnh cụ  
thể sẽ quyết định  
- Phong cách làm việc linh  
hoạt, hành xử theo hoàn cảnh  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
11  
cách thức hành xử  
và điều hành.  
- Chú ý hơn đến quan hệ đối  
tác  
- Tính quan liêu thấp hơn  
- ...  
CÁ NHÂN  
><  
CỘNG ĐỒNG  
CÁ NHÂN  
- Lợi ích cá nhân thường đặt  
trên lợi ích nhóm.  
- Thành công hoặc thất bại  
được/bị qui vào cá nhân.  
- …  
- Mĩ  
Các thành viên  
thuộc văn hoá cá  
nhân có xu hướng  
nhìn nhận và hành  
xử với tư cách là  
các cá nhân.  
- Mê-hi-cô hiện nay (Khác  
với nghiên cứu của  
Hofstede)  
- Séc, Slô-va-kia và các  
nước thuộc Liên Xô cũ  
(Khác với nghiên cứu của  
Hofstede)  
- …  
- Đức  
- Trung Quốc  
- Pháp  
- Nhật Bản  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở mức  
độ và sự ưu tiên  
dành cho tư cách  
cá nhân hay tư  
cách thành viên  
trong nhìn nhận và  
hành xử (Tương tự  
bình diện ‘Cá  
nhân >< Tập thể’  
của Hofstede).  
CỘNG ĐỒNG  
- Lợi ích gia đình, nhóm, công  
ti và xã hội thường đặt trên lợi  
ích cá nhân.  
- Thành công hoặc thất bại  
được/bị qui vào nhóm, tập thể.  
- …  
Các thành viên  
thuộc văn hoá cộng  
đồng có xu hướng  
nhìn nhận và hành  
xử với tư cách là bộ  
phận của nhóm.  
- Sing-ga-po  
- …  
TIẾT CHẾ  
><  
BIỂU CẢM  
TIẾT CHẾ  
- Ngại thể hiện cảm xúc  
- Diện hiện ít thay đổi, ít tươi  
cười  
- Ăn nói nhỏ nhẹ  
- Ngại giao lưu khi không có  
mục đích  
- Nhật Bản  
- Anh Quốc  
- Thuỵ Điển  
- …  
Các thành viên  
thuộc văn hoá tiết  
chế có xu hướng  
tránh biểu lộ cảm xúc  
trong các hành xử và  
tương tác xã hội.  
BIỂU CẢM  
Các thành viên  
thuộc văn hoá biểu  
cảm có xu hướng  
biểu lộ xúc cảm một  
cách công khai và  
tự nhiên trong các  
hành xử và tương  
tác xã hội.  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở mức  
độ biểu lộ cảm xúc  
trong hành xử và  
tương tác. (Tương  
tự bình diện ‘Kiềm  
chế >< Buông xả’  
của Hofstede).  
- …  
- Thích thể hiện cảm xúc  
- Diện hiện luôn thay đổi, hay  
cười  
- Hay nói to khi phấn khích  
- Thích giao lưu, chào hỏi  
nhiệt tình  
- Hà Lan  
- Mê-hi-cô  
- Ý  
- Israel  
- Tây Ban Nha  
- …  
- …  
RIÊNG BIỆT  
><  
LAN TOẢ  
RIÊNG BIỆT  
Các thành viên  
- Quan hệ trực tiếp, có mục  
đích và thẳng thắn  
- Chính xác, rõ ràng và minh  
bạch  
- Có nguyên tắc và quan điểm  
đạo đức nhất quán trong mọi  
vấn đề và với mọi đối tượng.  
- …  
- Mĩ  
- Anh Quốc  
- Áo  
- Thuỵ Sĩ  
- …  
thuộc văn hoá riêng  
biệt có xu hướng  
tách bạch giữa  
không gian/công  
việc/cuộc sống  
riêng tư (nhỏ và  
được bảo vệ chặt  
chẽ) với không  
gian/công  
việc/cuộc sống  
chung (lớn và được  
chia sẻ rộng rãi).  
LAN TOẢ  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở mức  
độ tách bạch giữa  
không gian/ công  
việc/ cuộc sống  
riêng tư với không  
gian/ công việc/  
cuộc sống chung.  
- Quan hệ gián tiếp, quanh co,  
- Trung Quốc  
Các thành viên  
có vẻ không mục đích (aimless) - Tây Ban Nha  
- Tinh tế, mơ hồ, mờ nghĩa - Venezuela  
- Quan niệm đạo đức mang tính - …  
thuộc văn hoá lan  
toả có xu hướng  
không tách bạch  
tình huống cao phụ thuộc vào  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
12  
giữa không  
đối tác và chu cảnh  
gian/công  
- …  
việc/cuộc sống  
riêng tư và không  
gian/công  
việc/cuộc sống  
chung; ‘chung’  
cũng được bảo vệ  
chặt chẽ vì nó  
chồng chéo với  
‘riêng tư’.  
THÀNH TỰU  
><  
QUI GÁN  
THÀNH TỰU  
Các thành viên  
thuộc văn hoá thành  
tựu có xu hướng  
xác lập địa vị của  
các cá nhân dựa trên  
cái mà họ đạt được  
(thành tích và mức  
độ hoàn thành trong  
công việc, giáo dục  
…).  
- Cấp trên được tôn trọng nhờ  
kiến thức và kĩ năng của họ.  
- Chức danh được sử dụng để  
phản ánh năng lực của người  
đó.  
- Bất cứ ai cũng có thể có ý  
kiến về các quyết định xét theo  
khía cạnh kĩ thuật và chức  
năng.  
- Khi đàm phán, các chuyên gia  
và người hiểu biết được sử  
dụng để thuyết phục.  
- …  
- Mĩ  
- Áo  
- Thuỵ Sĩ  
- Anh Quốc  
- Israel  
- …  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở  
cách thức xác lập  
địa vị của các cá  
nhân.  
QUI GÁN  
- Cấp trên được tôn trọng tuỳ  
thuộc vào mức độ gắn kết của  
cấp dưới đối với tổ chức của  
họ.  
- Chức danh được sử dụng để  
phản ánh ảnh hưởng của người  
đó hoặc tổ chức của người đó.  
- Chỉ người có quyền chức cao  
hơn mới có thể có ý kiến về các  
quyết định.  
- Ấn Độ  
Các thành viên  
thuộc văn hoá qui  
gán có xu hướng  
xác lập địa vị của  
các cá nhân dựa trên  
bản thân các cá  
nhân đó (tuổi tác,  
giới tính, nhóm dân  
tộc, dòng họ …).  
- Indonesia  
- Venezuela  
- Trung Quốc  
- …  
- Khi đàm phán, những người  
nhiều tuổi hơn và ở thang bậc  
cao hơn được sử dụng để  
thuyết phục.  
- …  
TUẦN TỰ  
><  
ĐỒNG BỘ  
TUẦN TỰ  
- Mỗi lúc làm một việc  
(single-tasking)  
- Coi trọng và không lãng phí  
thời gian  
- Luôn đúng giờ trong các  
cuộc hẹn  
- Làm việc theo lịch trình, kế  
hoạch, thời hạn  
- Tập trung vào sự hợp lí, tính  
hiệu quả và tốc độ  
- …  
- Một lúc làm nhiều việc  
(multitasking)  
- Linh hoạt trong phân bổ thời  
gian và cam kết  
- Mĩ  
- Anh Quốc  
- Đức  
Các thành viên  
thuộc văn hoá tuần  
tự có xu hướng nhìn  
nhận các sự kiện, sự  
việc, công việc, vấn  
đề… như một chuỗi  
các đầu mục tách  
biệt tiếp nối nhau  
theo thời gian.  
- …  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở  
phân bổ/thực hiện  
công việc và sắp  
xếp/sử dụng thời  
gian.  
ĐỒNG BỘ  
- Nhật Bản  
- Ấn Độ  
- Mê-hi-cô  
- …  
Các thành viên  
thuộc văn hoá đồng  
bộ có xu hướng  
nhìn nhận các sự  
kiện, sự việc, công  
- Thời gian và cuộc hẹn chỉ là  
những ý định  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
13  
việc, vấn đề… như  
các đầu mục song  
hành được đồng bộ  
hoá.  
- Không cần thiết phải chính  
xác về thời gian, miễn là đạt  
được mục đích  
- Việc hoàn thành nhiệm vụ  
quan trọng hơn là đúng thời  
hạn  
- …  
NỘI CHẾ  
><  
NGOẠI CHẾ  
NỘI CHẾ  
- Tư tưởng khống chế  
- Không ngại va chạm, xung  
đột  
- Không thoả hiệp  
- Có thái độ quyết đoán  
- Tập trung vào bản thân  
- …  
- Mĩ  
- Đức  
Các thành viên  
thuộc văn hoá nội  
chế có xu hướng tin  
rằng con người có  
thể làm chủ cuộc  
sống/số phận của  
mình và khống chế  
được ngoại giới.  
- Anh Quốc  
- Đức  
- Na Uy  
- Ca-na-đa  
- Pháp  
- …  
Bình diện này giúp  
ta quan sát và đối  
sánh các nền văn  
hoá trên cơ sở  
cách thức con  
người nhìn nhận  
và hành xử với tự  
nhiên và môi  
trường (cả tự  
nhiên và xã hội).  
NGOẠI CHẾ  
- Tư tưởng thích nghi  
- Trung Quốc  
- Ai Cập  
- Nhật Bản  
- …  
Các thành viên thuộc - Ngại va chạm, xung đột  
văn hoá ngoại chế có - Sẵn sàng thoả hiệp.  
xu hướng tin rằng - Có thái độ linh hoạt  
cuộc sống/số phận - Tập trung vào quan hệ  
của mình là tiền định - …  
và khó có thể khống  
chế được ngoại giới.  
2.4. Phạm trù văn hoá của Lewis  
theo kiểu ‘phong cách bô-ling’ (bowling  
style/ào ạt, sôi nổi).  
Đối sánh liên/giao văn hoá cũng có  
thể được xem xét dựa trên các phạm trù văn  
hoá (cultural categories) của Lewis (1989,  
2005). Theo tác giả, các nền văn hoá có thể  
thuộc về một trong ba loại: ‘Tuyến-hoạt’  
(Linear-active), ‘Đa hoạt’ (Multi-active) và  
‘Phản hồi’ (Reactive).  
Những người thuộc văn hoá phản hồi  
có phong cách lịch lãm, trang nhã, chu đáo,  
thoả hiệp, dung hoà. Họ thích lắng nghe để  
hiểu về quan điểm của đối tác và để xác lập  
quan điểm của mình. Họ thường chậm đưa  
ra phản hồi, và khi các phản hồi của họ mang  
tính tiêu cực, các ‘dấu hiệu đối đầu’ (signs of  
confrontation) luôn được làm mờ hoặc được  
mềm hoá.  
Những thành viên thuộc văn hoá  
tuyến-hoạt có định hướng nhiệm vụ rõ ràng,  
có xu hướng mỗi lần chỉ tập trung vào một  
việc nhất định, có tính tổ chức và kỉ luật cao.  
Họ thích cách trình bày ngắn gọn, thẳng  
thắn, trực tiếp, quyết đoán, cách lập luận  
theo kiểu ‘nói có sách, mách có chứng’ và  
cách giao tiếp theo kiểu ‘phong cách bóng  
bàn’ (ping-pong style/có lần có lượt).  
Nếu xét theo các vai P-A-C trong  
giao tiếp nội nhân (Cha mẹ/Parent – Người  
trưởng thành/Adult – Trẻ thơ/Child), ta có  
thể thô thiển so sánh ‘Phong cách tuyến  
hoạt’ với ‘Phong cách người trưởng thành’  
(Adult style), ‘Phong cách đa hoạt’ với  
‘Phong cách trẻ thơ’ (Child style) và ‘Phong  
cách phản hồi’ với ‘Phong cách cha mẹ’  
(Parent style).  
Các thành viên của văn hoá đa hoạt  
có cách biểu hiện nồng ấm, tình cảm, thiên  
về cảm xúc, trực cảm, có xu hướng làm  
nhiều việc trong cùng một lúc. Họ thích cách  
trình bày vòng vo, sinh động, cách lập luận  
bay bổng, phóng khoáng và cách giao tiếp  
Các giá trị và phong cách giao tiếp  
của các nền văn hoá, xét theo các phạm trù  
này, được phân loại như sau:  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
14  
Hình 5  
Các phạm trù văn hoá của Lewis (Lewis, 2005)  
3. Nhận xét chung  
(norm-referenced) và được văn hoá hoá  
một cách tự nhiên (enculturated) với  
hành vi/biểu hiện mang tính qui chuẩn  
(standard-referenced) và ít nhiều được  
văn hoá hoá một cách có ý thức  
(aculturated) chính là điều cần phải  
được làm rõ trong các tiếp cận của  
Hofstede và Trompenaars & Hampden-  
Turner. Chính Hofstede (2010, tr. 84)  
cũng ý thức được điều này khi cho rằng:  
‘[…] văn hoá doanh nghiệp [văn hoá tổ  
chức - NQ] không phải là một hiện  
tượng tự thân, nó rất khác so với văn  
hoá dân tộc ở nhiều khía cạnh. Một  
doanh nghiệp là một hệ thống xã hội có  
bản chất khác so với bản chất của một  
dân tộc; bởi vì thành viên của một tổ  
chức không lớn lên trong tổ chức đó’.  
Từ các kết quả nghiên cứu với đối tượng  
là các nghiệm thể thuộc cư dân doanh  
Với các góc nhìn và cách nhìn khác  
nhau, các học giả nêu trên đã có những đóng  
góp rất quan trọng trong quá trình quốc tế  
hoá và toàn cầu hoá, giúp người tương tác  
quốc tế (cả thực tế và tiềm năng) có được  
những kiến thức cơ bản khi định hình, định  
vị đối tác tiềm năng và kiểm chứng, đánh giá  
(lại) những hiểu biết về đối tác hiện tại, từ  
đó, phát triển/điều chỉnh các kĩ năng kĩ thuật,  
diễn giải, kết nối và tương tác trong năng lực  
giao tiếp liên văn hoá của mình. Tuy nhiên,  
ta cũng cần lưu ý một số điểm sau:  
-
Việc chưa phân biệt rõ ràng (dù có nhiều  
yếu tố tương đồng) giữa văn hoá dân tộc  
(national culture) với văn hoá doanh  
nghiệp (corporate culture), văn hoá tổ  
chức (organisational culture), giữa  
hành vi/biểu hiện mang tính qui lệ  
-
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
15  
nghiệp, thậm chí chỉ thuộc một tập đoàn  
xuyên quốc gia (ví dụ: IBM), với văn  
hoá tổ chức riêng của tập đoàn đó (dù ít  
nhiều được điều chỉnh cho phù hợp với  
văn hoá địa phương), mà đi đến những  
nhận xét, nhận định và kết luận về văn  
hoá của các quốc gia được xét thì, e  
rằng, đây chính là những ‘khái quát thái  
quá’ (overgeneralisations) dễ dẫn đến  
các ‘khuôn mẫu cứng nhắc’  
(stereotypes), một dự tưởng nên tránh  
trong phát triển năng lực giao tiếp liên  
văn hoá.  
Vì chỉ tập trung nghiên cứu về văn hoá  
(chứ không phải văn hoá giao tiếp) nên  
các bình diện, phạm trù, hệ số văn hoá  
do các học giả trên đưa ra, dù được xem  
xét trên cả 3 miền nhận thức, xúc cảm  
và hành vi, vẫn chỉ chủ yếu tập trung ở  
các biểu hiện siêu dụng học của chu  
cảnh văn hoá mà chưa đi sâu vào các  
biểu đạt dụng học cùng tác động của các  
thành tố giao tiếp (chu cảnh giao tiếp)  
vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp của các ẩn  
tàng văn hoá . Do vậy, chúng tôi cho  
rằng, nếu áp dụng một trong những mô  
hình trên (đặc biệt là những mô hình của  
Hofstede, Hall và Trompenaars &  
Hampden-Turner) cho các nghiên cứu  
về giao tiếp liên/giao văn hoá, ta chỉ nên  
sử dụng nó để tiến hành khảo sát siêu  
dụng học hoặc chi tiết hoá, cụ thể hoá nó  
thành các giả thuyết để kiểm chứng mà  
thôi.  
ra đề xuất về qui chiếu biểu hiện với 14 bình  
diện phạm trù (categorical dimensions) xét  
từ góc nhìn mang tính bản thể (ontological)  
là bản chất kép (double nature) và tư cách  
kép (double status) của con người và cách  
nhìn mang tính nhận thức (epistemological)  
là sự mở rộng của tư cách cá nhân và tư cách  
thành viên trong tư cách kép tiên thiên của  
con người. Chúng tôi cũng sẽ đề cập chi tiết  
đến ‘Qui chiếu tác động’ bằng việc xem xét  
và luận bàn về các thành tố/yếu tố/tác nhân  
giao tiếp do các tác giả khác nhau đưa ra,  
đồng thời đề xuất cách qui chiếu tác động  
dựa trên các thành tố giao tiếp. Cuối cùng,  
cách thức kết hợp ba chiều qui chiếu ‘Biểu  
hiện’, ‘Tác động’ và ‘Mức độ’ sẽ được đưa  
ra với tư cách là một gợi ý, gợi mở chứ  
không phải một khuyến nghị, đề xuất.  
-
Tài liệu tham khảo  
Davel, E., Dupuis, J. P., & Chanlat, J. O. (2013).  
Cross-cultural management: Culture and  
management across the world. Taylor &  
Francis.  
Hall, E. (1966). The hidden dimension. Doubleday.  
Hall, E. (1976). Beyond culture. Doubleday.  
Hall, E. (1983). The dance of life: The other  
dimension of time. Doubleday.  
Hofstede, G. (1991). Cultures and organizations.  
McGraw-Hill.  
Hofstede, G., Hofstede, G. J., & Minkov, M. (2010).  
Culture and organizations – Software of the  
mind: Intercultural cooperation and its  
importance for survival. McGraw-Hill.  
Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing cultures: The  
Hofstede model in context. Online Readings  
in Psychology and Culture, 2(1), 1-26.  
-
…
4. Kết luận  
Trong bài viết này, ngoài việc đề  
Hofstede, G., Hofstede, G. J., & Minkov, M. (2015).  
Văn hoá và tổ chức: Phần mềm tư duy (V.  
H. Đinh, Dịch giả). Nxb ĐHQGHN.  
xuất một hệ qui chiếu của các tương đồng-dị  
biệt và sự cố dụng học cho các nghiên cứu  
về ngôn ngữ và văn hoá trong tương tác,  
chúng tôi đã tập trung vào ‘Qui chiếu biểu  
hiện’ với việc xem xét và luận bàn về các  
bình diện văn hoá (Hofstede, Trompenaars  
& Hampden-Turner), các hệ số văn hoá  
(Hall) và các phạm trù văn hoá (Lewis).  
Trong các bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ đưa  
Lewis, R. D. (1999). When cultures collide:  
Managing successfully across cultures (2nd  
ed.). Nicholas Brealey.  
Lewis, R. D. (2005). Finland, cultural lone wolf.  
Intercultural Press.  
Maude, B. (2011). Managing cross-cultural  
communication: Principles and practice.  
Palgrave Macmillan.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
16  
Nguyễn, Q. (2011). Giả thuyết về quan hệ văn hoá-  
giao tiếp. Ngôn ngữ, (1), 19-38.  
Trompenaars, F.,  
&
Hampden-Turner, C.  
(1997) Riding the waves of culture:  
Understanding diversity in global business.  
McGraw-Hill.  
Nguyễn, Q. (2020). Ngôn ngữ và văn hoá trong tương  
tác: Ngừng trệ giao tiếp và sự cố dụng học.  
Nghiên cứu Nước ngoài, 36(2), 1-10.  
APROPOSED FRAME OFREFERENCE  
FOR RESEARCH OFSAME-DIFFERENCE  
IN CROSS-CULTURALCOMMUNICATIONAND PRAGMATIC  
FAILURE IN INTERCULTURALCOMMUNICATION:  
REFERENCE OF EXPRESSION (CULTURE)  
Nguyen Quang  
VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: The author of this article proposes a frame of reference for research on same-  
difference and pragmatic failure in cross-cultural and intercultural communication. This frame is  
developed with three dimensions of reference: ‘Expression’ (Culture), ‘Impact’ (Communication) and  
‘Level’ (Layers of reference). Review of different approaches to the dimension of ‘Expression’ by  
different scholars, such as Hofstede, Trompenaars and Hampden-Turner, Hall and Lewis is presented  
with comments before the author’s own to be given in the next article.  
Keywords: frame of reference, pragmatic failure, intercultural communication  
pdf 16 trang Thùy Anh 16720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hệ qui chiếu được đề xuất cho nghiên cứu tương đồng - dị biệt trong giao tiếp giao văn hoá và sự cố dụng học trong giao tiếp liên văn hoá: Qui chiếu biểu hiện (văn hoá)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhe_qui_chieu_duoc_de_xuat_cho_nghien_cuu_tuong_dong_di_biet.pdf