Giáo trình Ứng dụng Công nghệ thông tin cơ bản

MODULE 1: HIỂU BIẾT VỀ CNTT CƠ BẢN  
CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ MÁY TÍNH VÀ MẠNG  
MÁY TÍNH  
CHƯƠNG 2: CÁC ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ  
THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG (CNTT-TT)  
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN KHI SỬ DỤNG  
CNTT-TT  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 1  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 2  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ MÁY TÍNH VÀ MẠNG MÁY TÍNH  
1.1 Thông tin và biểu diễn thông tin trong máy tính điện tử  
1.1.1 Thông tin  
1.1.1.1 Khái niệm về thông tin  
Dữ liệu có thể là các kí tự, văn bản, chữ, số, hình ảnh, âm thanh, hoặc video chưa được tổ chức, xử lý và  
chưa có ý nghĩa.  
Thông tin là dữ liệu đã được xử lý, tổ chức, cấu trúc hoặc trình bày trong một bối cảnh cụ thể để làm cho nó  
hữu ích, có ý nghĩa.  
Ví dụ: TP. Cần Thơ, Khu II, P. Xuân Khánh, đường 3/2, Q. Ninh Kiều là dữ liệu. “Địa chỉ Khoa CNTT&TT  
là Khu II, đường 3/2, P. Xuân Khánh, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ” là thông tin.  
Hệ thống thông tin (information system) là một hệ thống ghi nhận dữ liệu, xử lý chúng để tạo nên thông tin  
có ý nghĩa hoặc dữ liệu mới (hình 1.1)  
Xuất  
Nhập  
Thông tin  
Dữ liệu  
Xử lý  
Hinh 1.1: Hệ thống thông tin  
1.1.1.2 Đơn vị đo thông tin  
Đơn vị cơ sở dùng để đo thông tin được gọi là BIT (BInary digiT). Một BIT là một chỉ thị hoặc một thông  
báo về sự kiện nào đó có 1 trong 2 trạng thái là: Tắt (Off) / Mở (On) hay Đúng (True) / Sai (False).  
Số học nhị phân sử dụng hai ký số 0 và 1 để biểu diễn các số, nên số học nhị phân được dùng để biểu diễn  
trạng thái của 1 BIT. Trong tin học, người ta thường sử dụng các đơn vị đo thông tin lớn hơn như sau:  
Tên gọi  
Byte  
Ký hiệu  
B
Giá trị  
8 bit  
KiloByte  
MegaByte  
GigaByte  
TetraByte  
Petabyte  
Exabyte  
Zettabyte  
Yottabyte  
Brontobyte  
Geopbyte  
KB  
MB  
GB  
TB  
PB  
EB  
ZB  
YB  
BB  
210 B = 1024 Byte  
210 KB  
210 MB  
210 GB  
210 TB  
210 PB  
210 EB  
210 ZB  
210 YB  
210 BB  
GeB  
1.1.1.3 Quá trình xử lý thông tin  
Mọi quá trình xử lý thông tin bằng máy tính hay bằng con người đều được thực hiện theo một quy trình sau:  
Dữ liệu (data) được nhập ở đầu vào (Input). Máy tính hay con người sẽ thực hiện quá trình xử lý nào đó để  
tạo ra thông tin ở đầu ra (Output). Quá trình nhập dữ liệu, xử lý và xuất thông tin đều có thể được lưu trữ.  
Hình 1.2 mô tả tổng quát trình xử lý thông tin.  
NHẬP DỮ LIỆU  
(INPUT)  
XỬ LÝ  
XUẤT DỮ LIỆU/ THÔNG TIN  
(OUTPUT)  
(PROCESSING)  
LƯU TRỮ (STORAGE)  
Hinh 1.2: Mô hình tổng quát quá trình xử lý thông tin  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 3  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.1.1.4 Xử lý thông tin bằng máy tính điện tử  
Bốn chức năng cơ bản của máy tính cũng được biết đến như là chu trình xử lý thông tin:  
- Nhập dữ liệu: máy tính tập hợp dữ liệu hoặc cho phép người dùng nhập dữ liệu.  
- Xử lý: dữ liệu được chuyển thành thông tin.  
- Xuất dữ liệu: Kết quả xử lý được xuất ra từ máy tính.  
- Lưu trữ: dữ liệu hoặc thông tin được lưu trữ để sử dụng trong tương lai.  
1.1.2 Biểu diễn thông tin trong máy tính điện tử  
1.1.2.1 Biểu diễn số trong các hệ đếm  
Hệ đếm là tập hợp các ký hiệu và qui tắc sử dụng tập ký hiệu đó để biểu diễn và xác định giá trị của các số.  
Mỗi hệ đếm có một số ký số (digits) hữu hạn. Tổng số ký số của mỗi hệ đếm được gọi là cơ số (base hay  
radix), ký hiệu là b.  
Hệ đếm cơ số b (b 2, b là số nguyên dương) mang tính chất sau :  
Có b ký số để thể hiện giá trị số. Ký số nhỏ nhất là 0 và lớn nhất là b-1.  
Giá trị vị trí thứ n trong một số của hệ đếm bằng cơ số b lũy thừa n: bn  
N a a a ...a a a a ...a  
trong đó, số N(b) có  
m  
Số N(b) trong hệ đếm cơ số (b) được biểu diễn bởi:  
(b)  
n n1 n2  
1 0 1 2  
n+1 ký số biểu diễn cho phần nguyên và m ký số lẻ biểu diễn cho phần thập phân, và có giá trị là:  
N(b) an.bn an1.bn1 an2.bn2 ...a .b1 a0.b0 a1.b1 a2.b2 ...am.bm  
1
Trong ngành toán - tin học hiện nay phổ biến 4 hệ đếm là hệ thập phân, hệ nhị phân, hệ bát phân và hệ thập  
lục phân.  
1.1.2.1.1 Hệ đếm thập phân  
Hệ đếm thập phân hay hệ đếm cơ số 10 (b=10) là một trong các phát minh của người Ả rập cổ, bao gồm 10  
ký số theo ký hiệu sau: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  
1.1.2.1.2 Hệ đếm nhị phân  
Hệ đếm nhị phân hay hệ đếm cơ số 2 (b=2). Đây là hệ đếm đơn giản nhất với 2 chữ số là 0 và 1. Mỗi chữ số  
nhị phân gọi là BIT (BInary digiT). Để diễn tả một số lớn hơn thì cần kết hợp nhiều bit với nhau.  
1.1.2.1.3 Hệ đếm bát phân  
Hệ bát phân hay hệ đếm cơ số 8 (b=8). Hệ đếm này có 8 chữ số: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7.  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 4  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.1.2.1.4 Hệ đếm thập lục phân  
Hệ đếm thập lục phân hay hệ đếm cơ số 16 (b=16). Khi thể hiện ở dạng hexa-decimal, ta có 16 ký tự: 0, 1,  
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, A, B, C, D, E, F để biểu diễn các giá trị số. Các chữ in A, B, C, D, E, F tương ứng với  
các giá trị số là 10, 11, 12, 13, 14, 15 trong hệ đếm thập phân. Bảng 1.1, qui đổi tương đương 16 chữ số đầu  
tiên của 4 hệ đếm  
Hệ 10 Hệ 2  
Hệ 8 Hệ 16  
0
1
2
3
4
5
6
7
0000  
0001  
0010  
0011  
0100  
0101  
0110  
0111  
1000  
1001  
1010  
1011  
1100  
1101  
1110  
1111  
00  
01  
02  
03  
04  
05  
06  
07  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
A
B
C
D
E
F
Bảng 1.1: Qui đổi tương đương 16 chữ số đầu tiên của 4 hệ đếm  
1.1.2.2 Mệnh đề logic  
Mệnh đề logic là mệnh đề chỉ nhận một trong 2 giá trị : Đúng (TRUE) hoặc Sai (FALSE), tương đương với  
TRUE = 1 và FALSE = 0. Phép toán phủ định NOT, ví dụ NOT TRUE = FALSE; NOT FALSE = TRUE.  
Phép toán logic áp dụng cho 2 giá trị TRUE và FALSE ứng với tổ hợp AND (và) và OR (hoặc) như sau:  
X
TRUE  
TRUE  
FALSE  
FALSE  
Y
TRUE  
FALSE  
TRUE  
FALSE  
AND(X, Y)  
TRUE  
OR(X, Y)  
TRUE  
TRUE  
TRUE  
FALSE  
FALSE  
FALSE  
FALSE  
1.1.2.3 Biểu diễn thông tin trong máy tính điện tử  
Dữ liệu số trong máy tính gồm có số nguyên và số thực.  
Biểu diễn số nguyên  
Số nguyên gồm số nguyên không dấu và số nguyên có dấu.  
Số nguyên không dấu là số không có bit dấu như 1 byte = 8 bit, có thể biểu diễn 28 = 256 số nguyên dương,  
cho giá trị từ 0 (0000 0000) đến 255 (1111 1111).  
Số nguyên có dấu thể hiện trong máy tính ở dạng nhị phân là số dùng 1 bit làm bit dấu, người ta qui ước  
dùng bit ở hàng đầu tiên bên trái làm bit dấu (S): 0 là số dương và 1 cho số âm.  
Biểu diễn ký tự  
Để có thể biễu diễn các ký tự như chữ cái in và thường, các chữ số, các ký hiệu... trên máy tính và các phương  
tiện trao đổi thông tin khác, người ta phải lập ra các bộ mã (Code System) qui ước khác nhau dựa vào việc  
chọn tập hợp bao nhiêu bit để diễn tả 1 ký tự tương ứng, ví dụ các hệ mã phổ biến :  
Hệ thập phân mã nhị phân BCD (Binary Coded Decimal) dùng 4 bit.  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 5  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
Hệ thập phân mã nhị phân mở rộng EBCDIC (Extended Binary Coded Decimal Interchange Code) dùng 8  
bit tương đương 1 byte để biễu diễn 1 ký tự.  
Hệ chuyển đổi thông tin theo mã chuẩn của Mỹ ASCII (American Standard Code for Information  
Interchange) là hệ mã thông dụng nhất hiện nay trong ngành tin học. Hệ mã ASCII dùng nhóm 7 bit hoặc 8  
bit để biểu diễn tối đa 128 hoặc 256 ký tự khác nhau và mã hóa theo ký tự liên tục theo cơ số 16.  
Hệ mã ASCII 7 bit, mã hóa 128 ký tự liện tục như sau:  
0
:
:
:
:
:
:
:
:
:
NUL (ký tự rỗng)  
1 - 31  
31 ký tự điều khiển  
32 - 47  
48 - 57  
58 - 64  
65 - 90  
91 - 96  
97 - 122  
123 - 127  
các dấu trống SP (space) ! “ # $ % & ‘ ( ) * + , - . /  
ký số từ 0 đến 9  
các dấu : ; < = > ? @  
các chữ in hoa từ A đến Z  
các dấu [ \ ] _ `  
các chữ thường từ a đến z  
các dấu { | } ~ DEL (xóa)  
Hệ mã ASCII 8 bit (ASCII mở rộng) có thêm 128 ký tự khác ngoài các ký tự nêu trên gồm các chữ cái có  
dấu, các hình vẽ, các đường kẻ khung đơn và khung đôi và một số ký hiệu đặc biệt.  
1.2 Cấu trúc tổng quát của máy tính điện tử  
Mỗi loại máy tính có thể có hình dạng hoặc cấu trúc khác nhau, tùy theo mục đích sử dụng, nhưng một cách  
tổng quát, máy tính điện tử là một hệ xử lý thông tin tự động gồm 2 phần chính: phần cứng và phần mềm.  
1.2.1 Phần cứng  
1.2.1.1 Máy vi tính và thiết bị cầm tay thông minh  
Mặc dù các máy tính có kích cỡ và hình dạng khác nhau, nhưng các thành phần cơ bản cần thiết để hoàn  
thành chu trình xử lý thông tin phải có mặt trong đó. Ngoài máy vi tính (microcomputers) như máy tính để  
bàn và máy tính xách tay và các thiết bị di động mà chúng ta quen thuộc, cũng có máy tính đặc biệt bao gồm  
máy chủ (server), máy tính lớn (mainframes), siêu máy tính (supercomputers), và máy tính nhúng (embedded  
computers).  
Máy vi tính (microcomputers) được phân loại như các máy tính nhỏ, rẻ tiền được thiết kế để sử dụng cá nhân  
và là các máy tính mà hầu hết mọi người thường sử dụng. Các máy vi tính trong phạm vi thể loại  
microcomputer có kích thước từ hệ thống máy tính để bàn lớn tới các thiết bị cầm tay phù hợp trong túi. Một  
số loại phổ biến nhất của máy vi tính bao gồm máy tính để bàn (Desktop computers), máy tính xách tay  
(Notebook computers), máy tính bảng (Tablet computers), các thiết bị di động (Mobile devices). Hình 1.3,  
mô tả các thiết bị này.  
Smartphonehon  
Hình 1.3: Các loại máy vi tính (microcomputers)  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 6  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.2.1.1.1 Máy tính để bàn (Desktop computers)  
Máy tính để bàn là các máy tính đặt trên bàn làm việc, sàn nhà hoặc trên một bề mặt bằng phẳng và có bàn  
phím, chuột, màn hình, và các phần thiết bị khác có thể tháo rời. Máy tính để bàn thường rơi vào hai loại  
chính: máy tính cá nhân hoặc máy tính Mac. Các tính cá nhân (personal computer -PC), ban đầu được gọi là  
IBM máy tính cá nhân, hiện nay được sản xuất bởi một loạt các công ty bao gồm Hewlett-Packard, Dell và  
Gateway, … Các máy tính Apple Macintosh, nay được gọi là Mac, có thể thực hiện các chức năng tương tự  
như PC. Người dùng máy tính có thời gian dài tranh luận là PC tốt hơn hay Mac. Cả hai loại máy tính đều  
có những ưu điểm và khuyết điểm, nhưng trong thực tế, cả hai là các hệ thống tốt và sự lựa chọn tùy theo sở  
thích cá nhân. Sự khác biệt chính giữa mát tính PC và máy tính Mac liên quan đến các bộ vi xử lý và hệ điều  
hành sử dụng khác nhau. Máy tính PC thường được sử dụng trong môi trường hệ điều hành Microsoft  
Windows và Mac sử dụng hệ điều hành Mac. Máy tính PC có thị phần lớn hơn trong số người sử dụng máy  
tính và trong thị phần kinh doanh, trong khi máy tính Mac thì nổi tiếng với các chuyên gia thiết kế đồ họa.  
1.2.1.1.2 Máy tính xách tay (Notebook computers)  
Máy tính xách tay cho phép người dùng có thể mang xách được, làm cho thông tin của họ lưu động. Thuật  
ngữ ban đầu là “Laptop” và dần dần được thay thế bằng thực ngữ "Notebook". Máy tính xách tay được thiết  
kế để lưu động và bao gồm một pin sạc để cung cấp điện, cho phép chúng được sử dụng trong các địa điểm  
khác nhau. Máy tính xách tay có đầy đủ các thành phần cơ bản của một máy tính cá nhân thông thường, nó  
thường được tích hợp một màn hình hiển thị, một bàn phím, một loa nhỏ, một thiết bị trỏ chuột (như touchpad  
hoặc trackpad), các cổng nối kết. Máy tính xách tay cũng có thể kết nối tới các thiết bị rời để sử dụng thoải  
mái hơn.  
1.2.1.1.3 Máy tính bảng (Tablet computers)  
Máy tính bảng thường nhẹ và nhỏ hơn máy tính xách tay. Nó là một loại thiết bị di động được tích hợp một  
màn hình cảm ứng phẳng và chủ yếu hoạt động bằng cách chạm vào màn hình. Không có bàn phím vật lý  
được đặt vào nó và thường sử dụng một bàn phím ảo trên màn hình hoặc một cây bút kỹ thuật số. Thường,  
máy tính bảng không có tích hợp bàn phím nhưng nó có thẻ nối kết tới mạng không dây hoặc một bàn phím  
USB. Máy tính bảng có các nút vật lý cho các tính năng cơ bản như âm lượng loa và nguồn điện và các cổng  
cắm để truyền mạng, tai nghe và sạc pin.  
1.2.1.1.4 Các thiết bị di động (Mobile devices)  
Một thiết bị viễn thông điện tử, thường được gọi là một điện thoại di động. Điện thoại di động kết nối với  
một mạng lưới thông tin liên lạc không dây qua sóng radio hoặc truyền vệ tinh. Hầu hết các điện thoại di  
động cung cấp thông tin liên lạc bằng giọng nói, dịch vụ tin nhắn ngắn (SMS), dịch vụ tin nhắn đa phương  
tiện (MMS), và điện thoại mới hơn cũng có thể cung cấp các dịch vụ Internet như duyệt web và e-mail.  
-
Điện thoại thông minh (smartphone) là điện thoại di động được xây dựng trên một hệ điều hành di động  
với nhiều khả năng tính toán cao cấp và kết nối hơn một tính năng điện thoại thông thường.  
Các thiết bị di động bao gồm thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (personal digital assistant – PDA), các  
máy tính cầm tay (handheld computer) và điện thoại thông minh (smartphone). Các thiết bị này bắt đầu  
được thay đổi kích thước và mục đích, nhưng tất cả các thiết bị này điều nhẹ và lưu động.  
-
-
Các PDAs ban đầu được thiết kế có chức năng như là một người quản lý thông tin cá nhân, cung cấp  
khả năng tính toán, lưu trữ thông tin và tìm kiếm cho cá nhân. Tiện dụng lưu giữ lịch trình và sổ thông  
tin địa chỉ. Ngày nay, PDA phần lớn được coi là lỗi thời với lựa chọn sử dụng phổ biến là các smartphone.  
Ngày nay các thiết bị di động mới, thường được là "thiết bị cầm tay", kết hợp các tính năng tốt nhất cho các  
thiết bị này như các tính năng sau:  
+ Cho phép người dùng nghe nhạc  
+ Chức năng điện thoại tiềm năng: tin nhắn, cuộc gọi video, speakerphone  
+ Duyệt Web không dây (sử dụng 2G, 3G, 4G hoặc WiFi)  
+ Định vị vệ tinh GPS  
+ Các chức năng video camera  
+ Xem và chỉnh sửa ảnh và video  
+ Đọc ebook  
+ Tải ứng các dụng: game, các trình tiện ích, …  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 7  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.2.1.2 Phần cứng máy tính  
Phần cứng máy tính là tập hợp tất cả những phần vật lý mà chúng ta có thể chạm đến. Phần cứng bao gồm 3  
phần chính (hình 1.4):  
-
-
-
Bộ nhớ (Memory).  
Đơn vị xử lý trung ương (CPU - Central Processing Unit).  
Thiết bị nhập xuất (Input/ Output).  
Bộ xử lý trung ương  
CPU (Central Processing Unit)  
Thiết bị  
Xuất  
(Output)  
Thiết bị  
Nhập  
(Input)  
Khối điều khiển  
Khối làm tính  
CU (Control Unit)z  
ALU (Arithmetic Logic Unit)  
Các thanh ghi (Registers)  
Bộ nhớ trong (ROM + RAM)  
Bộ nhớ ngoài (đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD)  
Hình 1.4: Cấu trúc phần cứng máy tính  
1.2.1.2.1 Khối hệ thống máy tính (Computer System Unit)  
Hay còn được gọi là thùng máy tính (computer case), là một cái thùng chứa đựng các thành phần chính của  
máy tính như motherboard, CPU, RAM, đĩa cứng và các thành phần khác. Khi thùng máy tính được kết nối  
với các thiết bị ngoại vi (bàn phím, màn hình, chuột, máy in) tương thích, hệ thống máy tính có thể thực hiện  
bốn chức năng máy tính cơ bản: nhập (input), xử lý (process), xuất (output) và lưu trữ (storage). Khi ta mở  
thùng máy tính, chúng ta sẽ thấy một số thành phần chính bên trong. Một trong những thành phần quan trọng  
nhất là chip vi xử lý, còn được gọi là bộ xử lý trung tâm (CPU). CPU nằm trên bo mạch chủ (motherboard),  
một bảng mạch in lớn mà tất cả các bo mạch khác trong máy tính được kết nối (hình 1.5)  
Computer case  
Mainboard  
Hình 1.5: Computer case và Mainboard  
1.2.1.2.2 Bộ xử lý trung ương (CPU)  
Bộ xử lý trung ương chỉ huy các hoạt động của máy tính theo lệnh và thực hiện các phép tính. CPU có 3 bộ  
phận chính: khối điều khiển, khối tính toán số học và logic, và một số thanh ghi.  
Khối điều khiển (CU: Control Unit): là trung tâm điều hành máy tính. Nó có nhiệm vụ giải mã các lệnh, tạo  
ra các tín hiệu điều khiển công việc của các bộ phận khác của máy tính theo yêu cầu của người sử dụng hoặc  
theo chương trình đã cài đặt.  
Khối tính toán số học và logic (ALU: Arithmetic-Logic Unit): bao gồm các thiết bị thực hiện các phép tính  
số học (cộng, trừ, nhân, chia, ...), các phép tính logic (AND, OR, NOT, XOR) và các phép tính quan hệ (so  
sánh lớn hơn, nhỏ hơn, bằng nhau, ...)  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 8  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
Các thanh ghi (Registers): Được gắn chặt vào CPU bằng các mạch điện tử làm nhiệm vụ bộ nhớ trung gian.  
Các thanh ghi mang các chức năng chuyên dụng giúp tăng tốc độ trao đổi thông tin trong máy tính. Ngoài  
ra, CPU còn được gắn với một đồng hồ (clock) hay còn gọi là bộ tạo xung nhịp. Tần số đồng hồ càng cao  
thì tốc độ xử lý thông tin càng nhanh. Thường thì đồng hồ được gắn tương xứng với cấu hình máy và có các  
tần số dao động (cho các máy Pentium 4 trở lên) là 2.0 GHz, 2.2 GHz, ... hoặc cao hơn. Bộ vi xử lý lõi kép  
(dual-core) hoặc đa lõi (multicore) được sản xuất bởi Intel và AMD. Các CPU này có nhiều hơn một bộ xử  
lý (hai cho một lõi kép, nhiều hơn cho một đa lõi) trên một chip duy nhất. Sử dụng nhiều bộ vi xử lý có nhiều  
lợi thế hơn một đơn bộ xử lý CPU, trong đó có khả năng cải thiện đa nhiệm và hiệu suất hệ thống, tiêu thụ  
điện năng thấp hơn, giảm thiểu sử dụng tài nguyên hệ thống.  
1.2.1.2.3 Bộ nhớ  
Bộ nhớ là thiết bị lưu trữ thông tin trong quá trình máy tính xử lý. Bộ nhớ bao gồm bộ nhớ trong và bộ nhớ  
ngoài.  
Bộ nhớ trong: gồm ROM và RAM :  
-
-
ROM (Read Only Memory) là Bộ nhớ chỉ đọc thông tin, dùng để lưu trữ các chương trình hệ thống,  
chương trình điều khiển việc nhập xuất cơ sở (ROM-BIOS: ROM-Basic Input/ Output System). Thông  
tin được ghi vào ROM không thể bị thay đổi, không bị mất ngay cả khi không có điện.  
RAM (Random Access Memory) là Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên, được dùng để lưu trữ dữ kiện và  
chương trình trong quá trình thao tác và tính toán. RAM có đặc điểm là nội dung thông tin chứa trong  
nó sẽ mất đi khi mất điện hoặc tắt máy. Dung lượng bộ nhớ RAM cho các máy tính hiện nay thông  
thường vào khoảng 2GB đến 16GB và có thể hơn nữa.  
Bộ nhớ ngoài: là thiết bị lưu trữ thông tin với dung lượng lớn, thông tin không bị mất khi không có điện, dữ  
liệu lưu trên bộ nhớ ngoài vẫn tồn tại cho tới khi người sử dụng xóa hoặc ghi đè lên. Bộ nhớ ngoài có thể cất  
giữ và di chuyển độc lập với máy tính. Hiện nay có các loại bộ nhớ ngoài phổ biến như: (hình 1.6)  
-
-
Đĩa cứng (Hard Disk): phổ biến là đĩa cứng có dung lượng từ 40 GB tới 2 TB và lớn hơn nữa.  
Đĩa quang (Compact disk): loại 4.72 inch, là thiết bị phổ biến dùng để lưu trữ các phần mềm mang nhiều  
thông tin, hình ảnh, âm thanh và thường được sử dụng trong các phương tiện đa truyền thông  
(multimedia). Có hai loại phổ biến là: đĩa CD (dung lượng khoảng 700 MB) và DVD (dung lượng  
khoảng 4.7 GB).  
-
Các loại bộ nhớ ngoài khác: như thẻ nhớ (Memory Stick, Compact Flash Card), USB Flash Drive có  
dung lượng phổ biến là từ 2GB đến 8GB và lớn hơn nữa.  
Một số thuật ngữ với bộ nhớ ngoài:  
-
Số vòng quay mỗi phút (Revolutions Per Minute - RPM): RPM được sử dụng để giúp xác định thời gian  
truy cập vào ổ đĩa cứng của máy tính. RPM xác định số vòng quay của một đĩa cứng thực hiện trong  
mỗi phút. Các đĩa cứng có RPM càng cao, dữ liệu sẽ được truy cập nhanh hơn. Ví dụ, nếu so sánh hai ổ  
đĩa cứng với 5400 RPM và 7200 RPM, ổ đĩa cứng 7200 RPM sẽ có khả năng truy cập dữ liệu nhanh  
hơn nhiều so với đĩa cứng 5400 RPM.  
-
Số bit trên giây (bits per second – bps hoặc bit/sec): Trong giao tiếp dữ liệu. Bits per second là số đo tốc  
độ truyền dữ liệu giữa các thiết bị trong một hệ thống truyền dữ liệu. Bps là số bit được truyền đi hoặc  
nhận mỗi giây. Đôi khi đơn vị lớn hơn được sử dụng để biểu thị tốc độ dữ liệu cao. Một kilobit trên giây  
(viết tắt Kbps hoặc kbps) bằng 1.000 bps. Một megabit trên giây (Mbps) là bằng 1.000.000 bps hoặc  
1.000 Kbps.  
Đĩa cứng  
Compact disk  
Hình 1.6: Một số loại bộ nhớ ngoài  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Compact Flash Card  
USB Flash Drive  
Trang 9  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.2.1.2.4 Các thiết bị xuất/ nhập  
a. Các thiết bị nhập  
- Bàn phím (Keyboard, thiết bị nhập chuẩn): là thiết bị nhập dữ liệu và câu lệnh, bàn phím máy vi tính phổ  
biến hiện nay là một bảng chứa 104 phím có các tác dụng khác nhau (hình 1.7).  
Có thể chia làm 3 nhóm phím chính:  
+ Nhóm phím đánh máy: gồm các phím chữ, phím số và phím các ký tự đặc biệt (~, !, @, #, $, %,  
^,&, ?, ...).  
+ Nhóm phím chức năng (function keypad): gồm các phím từ F1 đến F12 và các phím như      
(phím di chuyển từng điểm), phím PgUp (lên trang màn hình), PgDn (xuống trang màn hình), Insert  
(chèn), Delete (xóa), Home (về đầu), End (về cuối)  
+ Nhóm phím số (numeric keypad) như NumLock (cho các ký tự số), CapsLock (tạo các chữ in),  
ScrollLock (chế độ cuộn màn hình) thể hiện ở các đèn chỉ thị.  
+ Nhấn phím tổ hợp: khi cần sử dụng phím tổ hợp, bạn cần nhấn và giữ phím tổ hợp điều khiển trước  
(Ctrl hoặc Alt hoặc Shift) sau đó bấm tiếp phím còn lại.  
+ Tình trạng đèn báo sáng: Đôi khi người sử dụng không chú ý và vô tình bật các tính năng hỗ trợ,  
chẳng hạn chế độ gõ chữ hoa, chế độ gõ số, chế độ khóa thanh cuộn. Các tính năng này, khi bật lên  
có thể làm cho thao tác của người sử dụng gặp khó khăn. Do đó khi gặp điều lạ khi gõ các phím, hãy  
nhìn khu vực đèn báo tình trạng bàn phím trước tiên.  
Hình 1.7: Mô hình bàn phím  
- Chuột (Mouse): là thiết bị cần thiết phổ biến hiện nay, nhất là các máy tính chạy trong môi trường  
Windows. Con chuột có kích thước vừa nắm tay di chuyển trên một tấm phẳng (mouse pad) theo hướng nào  
thì dấu nháy hoặc mũi tên trên màn hình sẽ di chuyển theo hướng đó tương ứng với vị trí của viên bi hoặc  
tia sáng (optical mouse) nằm dưới bụng của nó. Một số máy tính có con chuột được gắn trên bàn phím.  
Hiện tại có 2 loại chuột thông dụng trên thị trường đối với các máy tính để bàn đó là chuột dùng bi và chuột  
dùng cảm biến quang. Các thành phần cơ bản của chuột máy tính như hình 1.8: (1) Nút nhấn trái (left  
button), (2) Bánh xe cuộn (Scroll wheel) và (3) Nút nhấn phải (right button). Tùy theo mục tiêu sử dụng mà  
có thể có thêm nhiều loại nút bấm khác được bố trí tại các vị trí khác nhau trên thân chuột.  
Hình 1.8: Các loại chuột phổ biến và vị trí các nút chuột  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 10  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
Các khái niệm thao tác với chuột  
+ Bánh xe cuộn (Scroll wheel): cho phép người sử dụng di chuyển giữa các mục nội dung trải dài của  
chương trình và có tính năng tương tự thanh cuộn ở một số chương trình như Word, Chrome,…  
+ Trỏ chuột (Point): trỏ chuột trên mặt phẳng mà không nhấn nút nào cả.  
+ Nhấn chuột (Click): hành động này tương ứng với việc nhấn nút chuột một lần (áp dụng cho cả hai  
nút trái và phải).  
+ Nhấn chuột phải (R_Click): điều này tương ứng với việc kích hoạt thực đơn ngữ cảnh của chương  
trình, hệ điều hành tại đối tượng/ nhóm đối tượng được chọn hoặc tại cửa sổ làm việc hay màn hình  
nền  
+ Nhấn kép (D_Click): thao tác này ứng với việc bạn nhấn một nút chuột 2 lần liên tiếp. Nhấn kép  
chuột được hệ điều hành quy định tương đương với việc kích hoạt chương trình hoặc tính năng của  
chương trình.  
+ Lựa chọn (Select): Để làm việc với một đối tượng, người sử dụng cần phải lựa chọn chúng, có 2  
kiểu lựa chọn: lựa chọn một đối tượng và lựa chọn vùng chứa nhiều đối tượng.  
+ Lựa chọn một đối tượng: Nhấn chuột trái vào đối tượng cần lựa chọn.  
+ Lựa chọn vùng đối tượng: Nhấn chuột trái vào vùng chứa đối tượng (điểm bắt đầu nhấn phải là  
điểm nằm ngoài, không chồng lặp lên vùng đối tượng), giữ nguyên nhấn chuột và kéo chuột đến khi  
vùng lựa chọn bao phủ hết vùng cần chọn và thả chuột. Lúc này vùng được lựa chọn sẽ được kích  
hoạt bằng kiểu hiển thị khác (khác nhau tùy theo chương trình phần mềm). Để lựa chọn nhiều đối  
tượng không liên tiếp, cần kết hợp giữ phím Ctrl và nhấn chuột vào đối tượng cần chọn. Nhấn Shift  
đồng thời với sử dụng chuột để chọn sẽ giúp chọn nhiều đối tượng liên tiếp trong vùng.  
+ Kéo thả (Drag): Hành động này tương ứng với việc bạn nhấn chuột trái vào đối tượng, giữ nguyên  
chuột và kéo đối tượng sang một khu vực khác hay đến một đối tượng khác. Nói chung tác vụ này  
được áp dụng để thực hiện nhiều loại hành động khác nhau di chuyển đối tượng, chọn khối văn bản,  
…..  
Chú ý: Trong Windows các thao tác được thực hiện mặc nhiên với nút chuột trái, vì vậy để tránh lặp lại, khi  
nói Click (nhấn chuột) hoặc D_Click (nhấn đúp chuột) thì được ngầm hiểu đó là nút chuột trái. Khi nào cần  
thao tác với nút chuột phải sẽ mô tả rõ ràng.  
-
Máy quét hình (Scanner): là thiết bị dùng để nhập văn bản hay hình vẽ, hình chụp vào máy tính. Thông  
tin nguyên thủy trên giấy sẽ được quét thành các tín hiệu số tạo thành các tập tin ảnh (image file).  
Cần điều khiển (Joystick): là một thiết bị đầu vào thường được sử dụng để điều khiển trò chơi video và  
công nghệ hỗ trợ. Joystick bao gồm một chân đế, một tay đòn (stick) với một hay nhiều nút nhấn có thể  
được di chuyển bất kỳ hướng nào.  
-
-
Webcam: viết tắt của 'web camera, là một máy quay phim kỹ thuật số được kết nối với một máy tính.  
Nó có thể gửi hình ảnh trực tiếp từ bất cứ nơi nào nó được bố trí tới vị trí khác bằng phương thức Internet.  
Nhiều màn hình máy tính để bàn và máy tính xách tay có gắn sẵn Webcam và micro, tuy nhiên, chúng  
ta có thể gắn thêm một webcam riêng. Có nhiều loại Webcam khác nhau. Một số được cắm vào máy  
tính thông qua cổng USB, một số khác là không dây (wireless). (hình 1.9)  
Máy quét (Scanner)  
Cần điều khiển (Joystick)  
Webcam  
Hình 1.9: Các thiết bị nhập ngoại vi  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 11  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
b. Các thiết bị xuất  
Thiết bị xuất cơ bản gồm các thiết bị sau: (hình 1.10)  
-
Màn hình (Screen hay Monitor, thiết bị xuất chuẩn): dùng để thể hiện thông tin cho người sử dụng xem.  
Thông tin được thể hiện ra màn hình bằng phương pháp ánh xạ bộ nhớ (memory mapping), với cách  
này màn hình chỉ việc đọc liên tục bộ nhớ và hiển thị (display) bất kỳ thông tin nào hiện có trong vùng  
nhớ ra màn hình. Màn hình phổ biến hiện nay trên thị trường là màn hình màu SVGA 15”,17”, 19” với  
độ phân giải có thể đạt 1280 X 1024 pixel.  
-
-
-
Máy in (Printer): là thiết bị xuất để đưa thông tin ra giấy. Máy in phổ biến hiện nay là loại máy in ma  
trận điểm (dot matrix) loại 24 kim, máy in phun mực, máy in laser trắng đen hoặc màu.  
Tốc độ của một máy in được đo bởi các đơn vị sau: cps (ký tự trên mỗi giây), LPS (dòng trên mỗi giây)  
hoặc ppm (số trang mỗi phút)  
Máy chiếu (Projector): chức năng tương tự màn hình, thường được sử dụng thay cho màn hình trong  
các buổi Seminar, báo cáo, thuyết trình, …  
Máy chiếu  
Màn hình  
Máy in (Printer)  
Hình 1.10: Các thiết bị xuất ngoại vi  
1.2.1.2.5 Cổng (Port)  
Một cổng hoạt động như một mạch ghép nối (interface) giữa các thiết bị ngoại vi của hệ thống và máy tính,  
cho phép trao đổi dữ liệu khi chúng được kết nối. Như bạn có thể thấy trên mặt sau của máy tính xách tay  
hiện trong hình 1.11, cổng có thể có hình dạng và kích cỡ khác nhau.  
USB ports  
Modem port  
or RJ-11 port  
FireWire port  
DVI port  
Speaker port  
Monitor port  
Ethernet port  
S-video  
Microphone port  
Parallel port  
Hình 1.11: Các cổng thông thường trên máy tính xách tay  
- Cổng nối tiếp (serial port) và cổng song song (parallel port): là hai trong số các loại cổng xưa nhất (hình  
1.12) được tìm thấy trên một máy vi tính. Cổng nối tiếp là cổng mà nó có thể gởi dữ liệu chỉ một bit tại một  
thời điểm, vì thế tốc độ trao đổi dữ liệu chậm so với các công nghệ mới hơn. Tốc độ tối đa mà một cổng nối  
tiếp chuẩn có thể truyền dữ liệu là 15 Kbps. Thiết bị chuột và moderm là những ví dụ của thiết bị có thể sử  
dụng cổng nối tiếp. Cổng song song là loại cổng có thể gởi dữ liệu trong nhóm các bit, tốc độ lên tới 500  
Kbps, vì thế phương thức truyền dữ liệu nhanh hơn cổng nối tiếp. Các máy in cũ thường được nối với máy  
tính qua cổng song song.  
Cổng và đầu nối song song  
Hình 1.12, Cổng và đầu nối của các cổng nối tiếp và song song  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Cổng và đầu nối nối tiếp  
Trang 12  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
-
-
Cổng USB (universal serial bus): cổng này có thể giao tiếp giao tiếp với nhiều thiết bị ngoại vi khác  
nhau. Cổng USB có thể truyền dữ liệu ở tốc độ cao. Cổng USB ban đầu, được biết như USB 1.1, có tốc  
độ có thể 12 Mbps. Các phiên bản mới, USB 2.0 (hay còn gọi là Hi-Speed USB), có thể đạt tốc độ 480  
Mbps – gấp 40 lần tốc độ USB 1.1 và hơn 400 lần một cổng nối tiếp. Thiết bị sử dụng cổng USB bao  
gồm bàn phím, chuột, máy in, máy nghe nhạc MP3 và PDA, …, USB 3.0 (còn được gọi là SuperSpeed  
USB) có tốc độ băng thông tối đa là 5 Gbps (gigabits mỗi giây). Tức có thể đạt tốc độ truyền dữ liệu là  
640 MBps (MB mỗi giây), nhanh hơn gấp 10 lần so với USB  
2.0. (hình 1.13)  
Cổng FireWire (FireWire port): (hình 1.14) được phát triển  
bởi Apple và còn được gọi là IEEE 1394, là một phương tiện  
truyền tải dữ liệu nhanh chóng. FireWire 400 có tốc độ truyền  
Hình 1.13: Cổng và đầu nối USB  
dữ liệu 400 Mbps, trong khi FireWire 800 mới hơn truyền dữ  
liệu ở tốc 800 Mbps! Cổng này thường được sử dụng để kết nối  
các thiết bị cần chuyển một lượng lớn dữ liệu đến một máy tính  
một cách nhanh chóng, chẳng hạn như máy ảnh kỹ thuật số hoặc  
máy ghi video kỹ thuật số hoặc ổ đĩa cứng gắn ngoài. Cổng  
FireWire là tiêu chuẩn trên nhiều sản phẩm của Apple, nhưng  
thường chỉ được tìm thấy trên Windows PC và các thiết bị ngoại  
vi cao cấp. (hình 1.14)  
Hình 1.14: Cổng và đầu nối  
FireWir  
-
Các cổng nối kết mạng: (hình 1.15) chẳng hạn như cổng  
Ethernet và modem, được sử dụng để kết nối máy tính vào mạng  
nội bộ hoặc Internet. Một cổng Ethernet, cũng được biết đến như  
một jack RJ-45, tương tự như một jack cắm điện thoại chuẩn,  
nhưng lớn hơn một chút. Các cổng Ethernet được sử dụng để  
truy cập mạng và cũng có thể được sử dụng để kết nối với một  
Hình 1.15: Cổng và đầu nối nối  
kết mạng  
modem hoặc router để truy cập Internet. Một cổng modem là cùng kích thước và hình dạng như một  
jack cắm điện thoại và được sử dụng để kết nối modem với một hệ thống điện thoại, cho phép quay số  
truy cập Internet. Tốc độ truyền dữ liệu tối đa đối với một modem 56 Kbps, trong khi tiêu chuẩn phổ  
biến nhất Ethernet, Fast Ethernet, truyền dữ liệu với tốc độ 100 Mbps. Tuy nhiên, Gigabit Ethernet, khả  
năng tốc độ truyền là 1.000 Mbps  
1.2.2 Phần mềm  
1.2.2.1 Khái niệm phần mềm  
Phần cứng máy tính bao gồm các thành phần vật lý của hệ thống. Tuy nhiên, chưa có phần mềm, máy tính  
sẽ chỉ là một tập hợp các bộ phận cơ khí. Phần mềm cung cấp các hướng dẫn cho máy tính phải làm gì. Để  
thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, máy tính đòi hỏi một bộ các hướng dẫn, gọi là chương trình. Các chương  
trình này cho phép người dùng sử dụng máy tính mà không cần kỹ năng lập trình đặc biệt. Chúng ta không  
thể thấy hoặc sờ được phần mềm, mặc dầu ta có thể hiển thị được chương trình trên màn hình. Có hai loại  
phần mềm máy tính: phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng  
1.2.2.2 Phần mềm hệ thống (Operating System Software)  
Phần mềm hệ thống cung cấp các hướng dẫn mà máy tính cần phải thực hiện. Nó chứa các hướng dẫn cần  
thiết để khởi động máy tính (được biết đến như quá trình khởi động), kiểm tra để đảm bảo mọi thứ đều trong  
làm việc tốt, và cho phép bạn giao tiếp máy tính và thiết bị ngoại vi của nó. Phần mềm hệ thống bao gồm  
hai loại chương trình chính: hệ điều hành (operating system) và các chương trình tiện ích (utility programs)  
1.2.2.2.1 Hệ điều hành (operating system)  
Hệ điều hành (OS) là một chương trình máy tính đặc biệt, nó có mặt trên tất cả các máy tính để bàn hoặc  
máy tính xách tay, từ máy tính lớn đến các thiết bị cầm tay thông minh. Các hệ điều hành điều khiển cách  
những máy tính làm việc từ khi nó được bật cho đến khi nó được tắt. Các hệ điều hành hệ thống quản lý các  
thành phần phần cứng khác nhau, bao gồm cả CPU, bộ nhớ, thiết bị lưu trữ, và các thiết bị ngoại vi. Nó còn  
phối hợp với các ứng dụng phần mềm khác để các phần mềm này có thể được chạy. Phần mềm hệ thống phổ  
biến hiện nay ở Việt nam là 3 hệ điều hành chính: Microsoft Windows, Mac OS, and Linux.  
-
Phần mềm Microsoft Windows: có thị phần lớn nhất trong ba hệ điều hành chính và được tìm thấy  
trên hầu hết các máy tính để bàn và máy tính xách tay hiện nay. Đã có rất nhiều phiên bản của Microsoft  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 13  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
Windows, bao gồm Windows 3.0, Windows 95, Windows 98, Windows ME và Windows Vista,  
Windows 7, Windows 8, Windows 10.  
-
-
Phần mềm Mac OS: Mac OS là một hệ điều hành được thiết kế đặc biệt cho máy tính Macintosh của  
Apple. Hệ điều hành Mac xuất hiện tương tự như Windows, vì nó cũng sử dụng một giao diện đồ họa.  
Trong thực tế, Apple là công ty đầu tiên giới thiệu hệ điều hành giao diện đồ họa mang tính thương mại.  
Nhưng, vì sự phổ biến áp đảo của các máy tính dựa trên Windows, Mac OS có một thị phần nhỏ hơn  
nhiều. Một số phiên bản Mac OS như Mac OS X Tiger, MacOS Sierra.  
Phầm mềm Linux: Linux là một hệ điều hành thay thế dựa trên điều hành UNIX, được phát triển cho  
các máy tính lớn. Linux là một hệ điều hành mã nguồn mở, có nghĩa là nó không phải là thuộc sở hữu  
của một công ty và một số phiên bản có sẵn miễn phí. Một số hệ điều hành Linux phổ biến như: Ubuntu  
Linux, Linux Mint, Arch Linux, Deepin, Fedora, Debian, openSUSE.  
1.2.2.2.2 Chương trình tiện ích (utility programs)  
Phần mềm hệ điều hành là phần mềm quan trọng nhất trên máy tính, vì máy tính không thể hoạt động được  
khi không có phần mềm hệ điều hành. Tuy nhiên, các chương trình tiện ích là một thành phần quan trọng  
của phần mềm hệ thống. Chương trình tiện ích là ứng dụng nhỏ xử lý nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan  
đến việc quản lý và bảo trì hệ thống của bạn. Chương trình tiện ích có thể được sử dụng để sao lưu các tập  
tin quan trọng, loại bỏ các tập tin hoặc các chương trình không mong muốn từ hệ thống của bạn, và lịch các  
tác vụ khác nhau để giữ cho hệ thống của bạn chạy mượt. Một số các tiện ích được bao gồm trong các hệ  
điều hành, hoặc một số tiện ích có phiên bản độc lập mà bạn có thể mua hoặc tải về miễn phí. Ví dụ, trên  
môi trường Windows. Một số tiện ích quản lý file như Win Zip để nén tập tin, tiện ích Aladdin Easy Uninstall  
2.0 gỡ bỏ các ứng dụng không mong muốn. Các tiện ích chuẩn đoán và bảo trì hệ thống như Task Manager  
của Windows, Norton Ghost, Norton SystemWorks, …  
1.2.2.3 Phần mềm ứng dụng (Application Software)  
Phần mềm ứng dụng rất phong phú và đa dạng, bao gồm những chương trình được viết ra cho một hay nhiều  
mục đích ứng dụng cụ thể như phần mềm soạn thảo văn bản, phần mềm tài chính, phân tích số liệu, tổ chức  
hệ thống, bảo mật thông tin, đồ họa, chơi games, …,  
1.2.2.3.1 Phần mềm xử lý văn bản  
Phần mềm xử lý văn bản được sử dụng để tạo, chỉnh sửa, định dạng, và lưu các tài liệu các định dạng tập tin  
văn bản khác nhau. Phần mềm xử lý văn bản Microsoft Word cho phép bạn tạo hoặc chỉnh sửa văn bản, các  
báo cáo, một cách nhanh chóng và dễ dàng. Tài liệu được tạo với phần mềm này cũng có thể bao gồm đồ  
họa, biểu đồ, và các yếu tố đồ họa khác. Microsoft Word, Lotus Lời Pro, và Corel WordPerfect là những ví  
dụ của các chương trình xử lý văn bản. Một số phần mềm xử lý văn bản mã nguồn mở như LibreOffice  
Writer, OpenOffice Writer.  
1.2.2.3.2 Phần mềm bảng tính  
Phần mềm bảng tính cho phép bạn thực hiện các tính toán và các tác vụ toán học khác. Tương tự như các tài  
liệu được sử dụng bởi các kế toán, bảng tính chứa dữ liệu nhập vào trong các cột và các hàng và cho phép  
bạn thực hiện các phép tính, phân tích, tạo biểu đồ và đồ thị. Một tiện ích quan trọng của phần mềm bảng  
tính là khả năng tính toán lại bảng tính mà không cần người dùng can thiệp. Khi dữ liệu được sử dụng trong  
một phép tính hoặc sửa công thức được thay đổi, phần mềm bảng tính tự động cập nhật các bảng tính với kết  
quả đúng. Microsoft Excel, Lotus 1-2-3, và Corel Quattro Pro là những ví dụ của các chương trình bảng  
tính. Một số phần mềm xử lý văn bản mã nguồn mở như LibreOffice Calc, OpenOffice Calc.  
1.2.2.3.3 Phần mềm cơ sở dữ liệu  
Cơ sở dữ liệu được sử dụng để lưu trữ và tổ chức một lượng lớn dữ liệu. Thông thường, phần mềm cơ sở dữ  
liệu có thể được sử dụng để quản lý các loại thông tin khác nhau như hàng tồn kho, lịch sử đặt hàng, và lập  
hoá đơn. Cơ sở dữ liệu giúp bạn nhập, lưu trữ, sắp xếp, lọc, lấy, và tóm tắt các thông tin và sau đó tạo ra các  
báo cáo có ý nghĩa. Chương trình cơ sở dữ liệu phổ biến như Microsoft Access, Lotus Approach, và Corel  
Paradox.  
1.2.2.3.4 Phần mềm trình chiếu  
Phần mềm này được sử dụng để tạo các bài thuyết trình đồ họa, được gọi là slide show, nó có thể được chiếu  
lớn bằng phương tiện như máy chiếu hoặc hiển thị trên Web. Phần mềm trình chiếu cũng được sử dụng để  
tạo ra các tài liệu phân phát cho khán giả (handout), những ghi chú cho người thuyết trình và các tài liệu  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 14  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
khác có thể được sử dụng trong một bài thuyết trình. Microsoft PowerPoint, Lotus Freelance Graphics, và  
Corel Presentations là những ví dụ của các chương trình phần mềm trình chiếu. Một số phần mềm trình chiếu  
mã nguồn mở như LibreOffice Impress, OpenOffice Impress.  
1.2.2.3.5 Phần mềm thương mại  
Phần mềm thương mại là bất cứ phần mềm hoặc chương trình được thiết kế và phát triển cho việc cấp phép  
hoặc bán cho người dùng cuối hoặc phục vụ mục đích thương mại. Phần mềm thương mại đã từng được coi  
là phần mềm thuộc quyền sở hữu, nhưng hiện nay một số ứng dụng phần mềm miễn phí và mã nguồn mở  
được cấp phép hoặc bán cho người dùng cuối. Các sản phẩm của Microsoft như các hệ điều hành Windows  
và MS Office là một trong những ví dụ nổi tiếng nhất của phần mềm thương mại.  
Hầu hết các chương trình phần mềm thương mại yêu cầu người sử dụng đăng ký chương trình để công ty có  
thể theo dõi người dùng được ủy quyền. Một số chương trình phần mềm thương mại, chẳng hạn như các  
phiên bản mới hơn của chương trình Microsoft và Adobe, yêu cầu người dùng đăng ký các chương trình để  
tiếp tục sử dụng sau thời gian dung thử (trial).  
Trong khi hầu hết các chương trình phần mềm thương mại được bán thường chứa trong đĩa CD hoặc DVD  
và đi kèm trong một hộp vật lý, nhiều phần mềm thương mại ngay nay có sẵn bằng cách tải về từ trang web  
của công ty. Người dùng trả tiền cho phần mềm trực tiếp trên website và tải nó vào máy tính của mình.  
Một cách phổ biến khác của việc mua phần mềm thương mại trực tuyến chỉ đơn giản là trả tiền cho một khóa  
đăng ký (registration key), để mở ra các tính năng của một chương trình phần mềm chia sẻ (shareware) để  
thành phiên bản thương mại. Shareware cũng là miễn phí để sử dụng, nhưng thường hạn chế tính năng của  
chương trình hoặc số lượng thời gian các phần mềm có thể được sử dụng.  
1.2.2.3.6 Phần mềm nguồn mở  
Phần mềm nguồn mở là phần mềm với mã nguồn mà ai cũng có thể sử dụng, nghiên cứu và đặc biệt là sửa  
đổi và nâng cao. Bất cứ ai cũng có thể sử dụng chương trình cho mục đích nào đó; không có lệ phí cấp giấy  
phép hoặc hạn chế khác về phần mềm. Các nhà phát triển phần mềm tại cùng một thời điểm ủy quyền hợp  
pháp cho bất kỳ sửa đổi và họ phân phối nguồn của phần mềm để đưa các nhà phát triển khác trong một điều  
kiện dễ dàng chỉnh sửa nó. Có điều kiện giấy phép gắn liền với phần mềm miễn phí này, ví dụ bạn không tự  
thể bán nó và nếu bạn thay đổi mã nguồn và cho ra phiên bản mới, phiên bản của bạn phải miễn phí. Ví dụ  
phần mềm nguồn mở điển hình nhất là hệ điều hành Linux.  
1.2.3 Hiệu năng máy tính  
Nhìn chung, hiệu năng của máy tính phụ thuộc vào các thiết bị hoạt động với nhau. Nếu chúng ta nâng cấp  
một phần thiết bị của máy tính trong khi để lại phần khác lỗi thời thì sẽ không cải thiện hiệu năng. Các yếu  
tố ảnh hưởng đến hiệu suất máy tính bao gồm tốc độ của bộ xử lý trung tâm (CPU), dung lượng và tốc bộ  
nhớ RAM, tốc độ đĩa cứng và card đồ họa (graphic card)  
-
Tốc độ của bộ xử lý trung tâm (CPU): tốc độ CPU có liên hệ với tần số đồng hồ làm việc của nó (tính  
bằng các đơn vị như MHz, GHz, v.v..). Đối với các CPU cùng loại, tần số này cao hơn cũng có nghĩa là  
tốc độ xử lý cao hơn. Đối với CPU khác loại, điều này chưa chắc đã đúng. Ví dụ: CPU Intel Core 2 Duo  
có tần số 2,6 GHz có thể xử lí nhanh hơn CPU Intel Pentium 4 có tần số 3,4 GHz. Tốc độ CPU còn phụ  
thuộc vào bộ nhớ đệm - bộ nhớ dùng để lưu các lệnh/dữ liệu thường dùng hay có khả năng sẽ được dùng  
trong tương lai gần, giúp giảm bớt thời gian chờ đợi của CPU. Ví dụ: Intel Core 2 Duo sử dụng chung  
cache L2 (shared cache, L1 có vùng bộ nhớ đệm 128 KB, L2 là 256-512KB) giúp cho tốc độ xử lý của  
hệ thống hai nhân mới này cao hơn so với hệ thống hai nhân thế hệ thứ nhất (Intel Pentium D) với mỗi  
nhân từng bộ nhớ đệm L2 riêng biệt.  
-
Dung lượng và tốc bộ nhớ RAM: dung lượng và tốc độ của bộ nhớ RAM trong máy tính của bạn tạo  
sự khác biệt rất lớn cách thực hiện máy tính của bạn. Nếu bạn đang cố gắng để chạy Windows XP với  
64 MB bộ nhớ RAM thì có lẽ nó không làm việc. Khi các máy tính sử dụng hết tất cả dung lượng RAM  
có sẵn, máy tính bắt đầu sử dụng ổ cứng để làm bộ nhớ ảo. Việc chuyển đổi dữ liệu giữa RAM và bộ  
nhớ ảo (bộ nhớ ổ đĩa cứng) làm chậm máy tính xuống đáng kể. Đặc biệt là khi cố gắng tải các ứng dụng  
hay tập tin. Ngoài ra tốc độ của bộ nhớ RAM của bạn có thể bị ảnh hưởng. Tốc độ bình thường của bộ  
nhớ RAM trong hầu hết các máy tính hiện nay là PC100 (100MHz). Điều này chạy tốt cho hầu hết các  
ứng dụng. Các máy cao cấp có thể được sử dụng DDR (double data rate - tốc độ dữ liệu kép) RAM. Nó  
mới hơn và đắt tiền hơn, nhưng chạy nhanh hơn đáng kể (266MHz).  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 15  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
-
-
Tốc độ đĩa cứng (disk speed): yếu tố lớn nhất trong hoạt động của máy tính của bạn là tốc độ đĩa cứng,  
tốc độ các ổ đĩa cứng có thể tìm, đọc, viết, và chuyển dữ liệu sẽ làm cho một khác biệt lớn trong cách  
máy tính của bạn thực hiện. Hầu hết các ổ cứng ngày nay quay tại 7.200 rpm, máy tính xách tay vẫn  
quay tại 5.200 rpm, đó là một trong những lý do máy tính xách tay thường xuất hiện chậm chạp với một  
máy tính để bàn tương đương. Dung lượng của ổ đĩa cứng của bạn đóng một vai trò trong hiệu năng của  
một máy tính. Miễn là bạn có đủ không gian trống cho bộ nhớ ảo và giữ cho đĩa chống phân mảnh máy  
tính sẽ thực hiện cũng không có vấn đề gì kích thước.  
Tốc độ card đồ họa: nếu bạn chạy các trò chơi 3-D hoặc các chương trình chỉnh sửa video, tốc độ card  
đồ họa của bạn có thể trở nên quan trọng ảnh hưởng hiệu năng của máy tính. Card đồ họa giúp với hiệu  
suất của máy tính bằng cách nhận trách nhiệm xử lý đồ họa 3D và các nhiệm vụ phức tạp khác.  
1.3 Mạng máy tính và truyền thông  
1.3.1 Khái niệm mạng máy tính  
Một mạng máy tính là một hệ thống trong đó nhiều máy tính được kết nối với nhau để chia sẻ thông tin và  
nguồn tài nguyên. Khi các máy tính được nối trong một mạng, mọi người có thể chia sẻ tập tin và thiết bị  
ngoại vi như modem, máy in, băng đĩa sao lưu, hoặc ổ đĩa CD-ROM. Khi các mạng được nối với Internet,  
người dùng có thể gửi e-mail, tiến hành hội nghị video trong thời gian thực với những người dùng khác từ  
xa. …, cho phép chia sẻ các chương trình phần mềm hoặc điều hành trên hệ thống từ xa.  
Mạng có thể được cấu hình theo nhiều cách. Có hai loại chính: Mạng ngang hàng (peer to peer - P2P) và  
mạng máy khách - máy chủ (client - server).  
Mạng ngang hàng: phổ biến nhất được tìm thấy trong cơ quan và doanh nghiệp nhỏ. Trong một mạng ngang  
hàng, mỗi nút (node) trên mạng có thể giao tiếp với tất cả các nút khác. Một nút (node) có thể là một máy  
tính, máy in, máy quét, modem, hoặc bất kỳ thiết bị ngoại vi khác có thể được kết nối với một máy tính.  
Mạng ngang hàng là tương đối dễ dàng thiết lập, nhưng có xu hướng là khá nhỏ.  
Mang Máy khách – Máy chủ: thường có hai loại máy tính khác nhau. Các máy chủ là máy tính cung cấp  
nguồn tài nguyên của nó, thường được lập trình để chờ đợi cho đến khi một người nào đó yêu cầu tài nguyên  
của nó. Các khách hàng là máy tính trong đó sử dụng các nguồn tài nguyên và gửi một yêu cầu đến máy chủ  
đang chờ đợi. (hình 1.16)  
Hình 1.16: mạng Client – Server  
-
-
Các máy khách (client) là các máy tính được sử dụng máy trạm (workstation) để viết thư, gửi e-mail,  
hóa đơn, hoặc thực hiện bất kỳ nhiều nhiệm vụ. Các máy khách là một trong các máy mà hầu hết người  
dùng tương tác trực tiếp với nó,  
Các máy tính server thường được giữ ở một nơi an toàn và được sử dụng để quản lý tài nguyên mạng.  
Nếu một máy chủ được phân công giải quyết chỉ có nhiệm vụ cụ thể, nó được biết đến như một máy chủ  
chuyên dụng. Ví dụ, một máy chủ Web được sử dụng để cung cấp các trang Web, một máy chủ tập tin  
được sử dụng để lưu trữ và kho lưu trữ tập tin, và một máy chủ in quản lý các nguồn tài nguyên in ấn  
cho mạng. Mỗi trong số này là một máy chủ chuyên dụng. Mô hình mạng client – server thường được  
sử dụng khi số nút (node) được nối kết trong mô hình vượt quá 10.  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 16  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.3.2 Mạng cục bộ (LAN) và mạng diện rộng (WAN)  
-
Mạng cục bộ (local area network - LAN): là mạng thường giới hạn trong một khu vực địa lý, chẳng hạn  
như một tòa nhà đơn lẻ hoặc một trường đại học (hình 1.17). Mạng LAN có thể phục vụ vài người sử  
dụng (ví dụ, trong một mạng lưới văn phòng nhỏ) hoặc vài trăm người sử dụng trong một văn phòng  
lớn hơn. mạng LAN bao gồm cáp, switch, router và các thành phần khác cho phép người dùng kết nối  
đến các máy chủ nội bộ, các trang web và các mạng LAN khác thông qua các mạng diện rộng (wide  
area network - WAN).  
Hình 1.17: Mạng LAN  
-
Mạng diện rộng (Wide Area Network – WAN): một mạng diện rộng (WAN) là mạng tồn tại trên một  
khu vực vùng địa lý lớn thường cho quốc gia hay cả lục địa, phạm vi vài trăm cho đến vài ngàn km (hình  
1.18). Mạng WAN kết nối các mạng LAN khác nhau và được sử dụng cho các khu vực địa lý rộng lớn  
hơn. Mạng WAN tương tự như một hệ thống ngân hàng, nơi hàng trăm chi nhánh ở các thành phố, quốc  
gia khác nhau được kết nối với nhau để chia sẻ dữ liệu của họ.  
Hình 1.18: Mạng WAN  
-
-
Internet: là một liên kết các mạng trên phạm vi toàn thế giới. Với sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu kết  
nối, Internet đã trở thành một xa lộ thông tin liên lạc cho hàng triệu người sử dụng. Internet ban đầu  
được hạn chế cho các tổ chức quân sự và học tập, ngày nay Internet có hàng tỷ trang web được tạo ra  
bởi con người và các công ty từ khắp nơi trên thế giới. Internet cũng có hàng ngàn dịch vụ giúp cho  
cuộc sống thuận tiện hơn. Ví dụ, nhiều tổ chức tài chính cung cấp cho ngân hàng trực tuyến cho phép  
người dùng quản lý và xem tài khoản trực tuyến của họ.  
Mạng nội bộ (Intranet): là một mạng riêng trong một doanh nghiệp, một tổ chức. Nó có thể bao gồm  
nhiều mạng cục bộ liên kết với nhau. Thông thường, một mạng nội bộ bao gồm các kết nối thông qua  
một hoặc nhiều cổng (gateway) máy tính liên kết Internet bên ngoài. Mục đích chính của một mạng nội  
bộ là để chia sẻ thông tin công ty và các tài nguyên máy tính giữa các nhân viên. Một mạng nội bộ cũng  
có thể được sử dụng để tạo điều kiện làm việc theo nhóm và hội nghị từ xa.  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 17  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
-
Mạng extranet: một extranet là giống như một mạng nội bộ, nhưng cung cấp truy cập được kiểm soát  
từ bên ngoài đối với khách hàng, các nhà cung cấp, đối tác, hoặc những người khác bên ngoài. Extranet  
là phần mở rộng, hoặc các phân đoạn của mạng intranet tư nhân được xây dựng bởi các doanh nghiệp  
để chia sẻ thông tin và thương mại điện tử.  
1.3.3 Các phương tiện truyền dẫn  
Phương tiện truyền thông đề cập đến các phương thức cung cấp và nhận dữ liệu hoặc thông tin. Trong mạng  
máy tính, có hai phương thức truyền thông: có đây và không dây. Phương tiện truyền thông có dây đề cập  
đến các loại cáp kết nối máy tính với nhau. Có rất nhiều loại khác nhau như cáp xoắn đôi (twisted-pair cable),  
cáp đồng trục (coaxial cable), cáp quang (fiber optics). Phương thức không dây gồm các phương thức truyền  
dẫn như sóng vô tuyến (radio wave), sóng vi ba (microwaves), vệ tinh (communication satellites).  
Khi đề cập đến một kết nối dữ liệu, băng thông, tốc độ truyền thông, hoặc tốc độ kết nối là tổng tốc độ truyền  
tối đa của một cáp mạng hoặc thiết bị. Về cơ bản, nó là một phép đo dữ liệu có thể được gửi qua một kết nối  
có dây hoặc không dây nhanh như thế nào, thường tốc độ đo bằng bit trên giây (bps).  
1.3.3.1 Các phương tiện truyền dẫn có dây  
1.3.3.1.1 Cáp xoắn đôi (twisted-pair cable)  
Cáp xoắn đôi là loại cáp phổ biến nhất được sử dụng trong các mạng máy tính. Nó là đáng tin cậy, linh hoạt  
và hiệu quả chi phí. Cáp xoắn đôi gồm nhiều cặp dây đồng xoắn lại với nhau nhằm chống phát xạ nhiễu điện  
từ. Có hai loại cáp xoắn đôi được sử dụng rộng rãi trong LAN là: loại có vỏ bọc chống nhiễu (Shielded  
Twisted Pair - STP) và loại không có vỏ bọc chống nhiễu (Unshielded Twisted Pair - UTP).  
-
Cáp xoắn đôi có vỏ bọc chống nhiễu STP (Shielded Twisted Pair): gồm nhiều cặp xoắn được phủ bên  
ngoài một lớp vỏ làm bằng dây đồng bện lại với nhau. Lớp vỏ này có tác dụng chống nhiễu cảm ứng từ  
(electromagnetic interference – EMI) từ ngoài và chống phát xạ nhiễu bên trong. Cáp này chi phí đắt  
tiền hơn cáp không vỏ bọc chống nhiễu, tốc độ truyền có thể 500Mbps.  
-
- Cáp xoắn đôi không có vỏ bọc chống nhiễu (Unshielded Twisted Pair – UTP): gồm nhiều cặp xoắn  
như cáp STP nhưng không có lớp vỏ đồng chống nhiễu. Do giá thành rẻ  
nên đã nhanh chóng trở thành loại cáp mạng cục bộ được ưu chuộng nhất.  
Không có vỏ bọc chống nhiễu nên dễ bị nhiễu khi đặt gần các thiết bị và  
cáp khác do đó thông thường dùng để đi dây trong nhà. Tốc độ truyền tùy  
thuộc vào loại cáp và có thể truyền 100 Mbps.  
Cáp xoắn đôi thường được sử dụng nhất là cáp Ethernet trên các mạng có dây  
và kết nối các thiết bị trên mạng cục bộ như máy tính, thiết bị định tuyến  
(router), và chuyển mạch (switche). Tốc độ cáp Ethernet tùy vào loại như: Cáp  
loại 5 (Category 5 cable - cat 5) cáp Fast Ethernet có tốc độ 100 Mbps, Gigabit  
Hình 1.19: Cáp xoắn đôi  
Ethernet có tốc độ 1000 Mbps. Cáp loại 6 (Category 6 cable -cat 6) có thể truyền tốc độ 10 Gbps (hình 1.19).  
Bảng dưới đây tóm tắt chuẩn mạng Ethernet theo chuẩn IEEE 802.3 (Institute of Electrical and Electronics  
Engineers) và cáp xoắn đôi tương thích  
Tên  
Ethernet  
Chuẩn IEEE  
802.3  
Tốc độ  
10 Mbps  
Các loại truyền tải  
Cáp: UTP cat 3;  
10Base-T  
Khoảng cách tối da  
100 meters  
Fast Ethernet/  
100Base-T  
802.3u  
100 Mbps  
Cáp: UTP cat 5;  
100Base-TX  
100 meters  
100Base-FX  
2000 meters  
Gigabit Ethernet/ 802.3z  
GigE  
1000 Mbps Cáp: UTP cat 5/5e/6;  
1000Base-T  
100 meters  
1000Base-SX  
1000Base-LX  
275/550 meters  
550/5000 meters  
10 Gigabit  
Ethernet  
IEEE 802.3ae 10 Gbps  
Cáp: UTP cat 6;  
10GBase-SR  
300 meters  
10GBase-LX4  
10GBase-LR/ER  
300m MMF/ 10km SMF  
10km/40km  
10GBase-SW/LW/EW 300m/10km/40km  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 18  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
1.3.3.1.2 Cáp đồng trục (coaxial cable)  
Cáp đồng trục được sử dụng trong các mạng máy tính và trong việc truyền tải  
video, thông tin liên lạc, và âm thanh. Cáp đồng trục bao gồm một lõi dây  
đồng nằm chính giữa để truyền tín hiệu và được bọc lại bởi một lớp điện môi  
không dẫn điện, chung quanh quấn thêm một lớp kim loại, ngoài cùng lại một  
lớp phủ nhựa. Hai loại đồng trục được sử dụng trong mạng: cáp đồng trục  
mỏng, còn được gọi là Thinnet và cáp đồng trục dày, còn được gọi là Thicknet.  
(hình 1.20)  
Hình 1.20: Cáp đồng trục  
-
Cáp đồng trục thinnet: là cáp đồng trục đường kính 0,64 cm (0,25 inch). Cáp đồng trục thinnet có thể  
truyền một tín hiệu cho một khoảng cách lên đến khoảng 185 mét và tốc độ đạt 10Mbps  
Cáp đồng trục thicknet: là cáp đồng trục đường kính 1,27 cm. Cáp đồng trục thicknet có thể truyền  
một tín hiệu cho một khoảng cách lên đến khoảng 500 mét và tố độ đạt 10Mbps  
-
1.3.3.1.3 Cáp quang (fiber optics)  
Cáp quang bao gồm một hoặc nhiều sợi thủy tinh, mỏng hơn một sợi tóc  
người được bao trong một vỏ bọc cách điện. Cáp quang được sử dụng để  
gửi dữ liệu bằng xung ánh sáng. Trung tâm của mỗi sợi được gọi là "lõi -  
core" cung cấp đường cho ánh sáng di chuyển và được bao quanh bởi một  
lớp thủy tinh gọi là "vỏ bọc" để phản chiếu ánh sáng phía trong tránh mất  
tín hiệu và cho phép ánh sáng đi qua khúc cua trong cáp. Cáp sợi quang  
mang tín hiệu giao tiếp sử dụng xung ánh sáng được tạo ra bởi laser nhỏ  
hoặc điốt phát sáng (light-emitting diodes - LED). Các loại cáp được thiết  
kế với khoảng cách nối kết dài, hiệu suất trao dữ liệu rất cao. Chúng hỗ trợ  
nhiều hệ thống Internet, truyền hình cáp và điện thoại của thế giới. Cáp  
Hình 1.21: cáp quang  
quang có hai loại chính: sợi đơn mode (single mode fiber) và đa mode (multi mode fiber). (hình 1.21)  
-
Sợi đơn mode (single mode fiber): có đường kính lõi nhỏ (9 µm - micrometer), khoảng cách có thể hỗ  
trợ từ 2 đến 10000 mét và sử dụng nguồn phát laser truyền tia sáng  
-
Sợi đa mode (multi mode fiber): có đường kính lõi lớn (50 µm hoặc 62.5 µm), khoảng cách có thể đạt  
tới 550 m. Và sử dụng điốt phát sáng hoặc laser để truyền tia sáng  
Cáp quang cung cấp nhiều lợi thế hơn cáp đồng truyền thống bao gồm:  
-
Dung lượng cao: số lượng băng thông mạng cáp quang có thể mang theo dễ dàng vượt trội so với một  
cáp đồng với độ dài tương tự. Tốc độ cáp quang có thể 10 Gbps, 40 Gbps và thậm chí là 100 Gbps.  
Phạm vi truyền dài: ánh sáng có thể di chuyển khoảng cách xa mà không suy giảm tín hiệu.  
Ít bị nhiễu - cáp mạng truyền thống đòi hỏi vỏ bọc đặc biệt để bảo vệ nó khỏi nhiễu điện từ. Lớp vỏ bọc  
này không đủ ngăn khi các cáp buộc lại với nhau ở khoảng cách gần. Các tính chất vật lý của dây cáp  
quang tránh hầu hết các vấn đề này.  
-
-
Mặc dù cáp quang có nhiều thuận lơi, nhưng vẫn không được sử dụng phổ biến cáp xoắn đôi. Việc lắp đặt  
cáp quang khó khăn, thường đòi hỏi kỹ thuật viên có tay nghề với các công cụ chuyên ngành và chi phí cao.  
Một nhược điểm tìm ẩn của việc thực hiện cáp quang là chi phí trang bị thêm các thiết bị mạng hiện có. Cáp  
quang không tương thích với hầu hết các thiết bị mạng điện tử. Điều này có nghĩa rằng bạn phải mua cáp  
quang thích hợp phần cứng mạng.  
1.3.3.2 Các phương tiện truyền dẫn không dây  
-
Truyền thông không dây là truyền thông tin giữa hai hoặc nhiều điểm không được nối với nhau bằng  
một dây dẫn điện. Phương tiện truyền thông truyền dẫn không dây gửi tín hiệu thông tin liên lạc bằng  
cách sử dụng sóng vô tuyến (wave radio), sóng vi ba (microwaves), vệ tinh (satellites), và các tín hiệu  
hồng ngoại (infrared signals)  
-
-
Sóng vô tuyến (wave radio): là công nghệ không dây phổ biến nhất sử dụng radio. Với sóng radio  
khoảng cách có thể ngắn, chẳng hạn như một vài mét cho truyền hình hay như xa như hàng ngàn hoặc  
thậm chí hàng triệu km cho không gian truyền thông radio.  
Tín hiệu hồng ngoại (infrared signals): là một phương tiện truyền thông truyền dẫn không dây. Nó  
gửi tín hiệu bằng cách sử dụng sóng ánh sáng hồng ngoại. Truyền hồng ngoại đòi hỏi thiết bị gửi và  
thiết nhận phải phù hợp, không có gì cản trở đường đi của sóng ánh sáng hồng ngoại.  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 19  
Chương 1: Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính  
-
-
Sóng vi ba (microwaves): đây là những sóng vô tuyến cung cấp một tín hiệu truyền dẫn tốc độ cao từ  
một trạm vi sóng tới một trạm vi sóng khác. Các trạm vi sóng thường được đặt trên đỉnh của tòa nhà,  
tháp hoặc núi. Tín hiệu vi sóng phải được truyền như đường thẳng, không bị các vật cản giữa các anten  
vi sóng.  
Vệ tinh (satellites): là một trạm không gian nhận được tín hiệu sóng ngắn (microwave) hoặc tần số vô  
tuyến điện từ một trạm trên mặt đất, khuếch đại các tín hiệu và phát sóng tín hiệu trở lại trên một diện  
tích rộng tới các trạm trên mặt đất. Sự truyền từ trái đất đến một vệ tinh được gọi là một đường lên; Sự  
truyền từ một vệ tinh tới một trạm mặt đất được gọi là một đường xuống. Để tránh nhiễu tín hiệu, các tổ  
chức quốc tế quy định các dãy tần số cho các tổ chức nào đó được phép sử dụng.  
1.3.4 Các thiết bị liên kết mạng  
Có rất nhiều thiết bị mạng khác nhau, mỗi thiết bị có một đặc điểm và vai trò riêng, sau đay là một số thiết  
bị nối kết mạng thông dụng như Repeater, Bridge, Router, Gateway Hub và Switch  
1.3.4.1 Bộ tiếp sức - Repeater  
Repeater là loại thiết bị phần cứng đơn giản nhất trong các thiết bị liên kết mạng, nó được hoạt động trong  
tầng vật lý của mô hình hệ thống mở OSI (hình 1.22). Repeater dùng để nối 2 mạng giống nhau hoặc các  
phần một mạng cùng có một nghi thức và một cấu hình. Khi Repeater nhận được một tín hiệu từ một phía  
của mạng thì nó sẽ phát tiếp vào phía kia của mạng (hình 1.23)  
Hình 1.22: Mô hình OSI  
Hình 1.23: Mô hình liên kết mạng của Repeater  
Repeater không có xử lý tín hiệu mà nó chỉ loại bỏ các tín hiệu méo, nhiễu, khuếch đại tín hiệu đã bị suy hao  
(vì đã được phát với khoảng cách xa) và khôi phục lại tín hiệu ban đầu. Việc sử dụng Repeater đã làm tăng  
thêm chiều dài của mạng.  
Hiện nay có hai loại Repeater đang được sử dụng là Repeater điện và Repeater điện quang.  
-
Repeater điện nối với đường dây điện ở cả hai phía của nó, nó nhận tín hiệu điện từ một phía và phát lại  
về phía kia. Khi một mạng sử dụng Repeater điện để nối các phần của mạng lại thì có thể làm tăng khoảng  
cách của mạng, nhưng khoảng cách đó luôn bị hạn chế bởi một khoảng cách tối đa do độ trễ của tín hiệu.  
Ví dụ với mạng sử dụng cáp đồng trục 50 thì khoảng cách tối đa là 2.8 km, khoảng cách đó không thể  
kéo thêm cho dù sử dụng thêm Repeater.  
-
Repeater điện quang liên kết với một đầu cáp quang và một đầu là cáp điện, nó chuyển một tín hiệu điện  
từ cáp điện ra tín hiệu quang để phát trên cáp quang và ngược lại. Việc sử dụng Repeater điện quang  
cũng làm tăng thêm chiều dài của mạng.  
Giáo trình ứng dụng CNTT – Cơ bản  
Trang 20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 281 trang Thùy Anh 16260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Ứng dụng Công nghệ thông tin cơ bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_co_ban.pdf