Giáo trình PHP nâng cao

Bài 1: Lập trình website theo mô hình MVC  
1. Giới thiệu mô hình MVC  
MVC là từ viết tắt bởi 3 từ Model – View – Controller. Đây là mô hình thiết  
kế sử dụng trong kỹ thuật phần mềm. Mô hình source code thành 3 phần, tương ứng  
mỗi từ. Mỗi từ tương ứng với một hoạt động tách biệt trong một mô hình.  
Để hiểu rõ hơn, sau đây chúng ta sẽ cùng đi phân tích từng thành phần:  
Mô hình MVC và các thành phần bên trong của MVC.  
Model (M):  
Là bộ phận có chức năng lưu trữ toàn bộ dữ liệu của ứng dụng. Bộ phận này  
là một cầu nối giữa 2 thành phần bên dưới là View và Controller. Model thể hiện  
dưới hình thức là một cơ sở dữ liệu hoặc có khi chỉ đơn giản là một file XML bình  
thường. Model thể hiện rõ các thao tác với cơ sở dữ liệu như cho phép xem, truy  
xuất, xử lý dữ liệu,…  
View (V):  
Đây là phần giao diện (theme) dành cho người sử dụng. Nơi mà người dùng  
có thể lấy được thông tin dữ liệu của MVC thông qua các thao tác truy vấn như tìm  
kiếm hoặc sử dụng thông qua các website.  
Thông thường, các ứng dụng web sử dụng MVC View như một phần của hệ  
thống, nơi các thành phần HTML được tạo ra. Bên cạnh đó, View cũng có chức năng  
ghi nhận hoạt động của người dùng để tương tác với Controller. Tuy nhiên, View  
không có mối quan hệ trực tiếp với Controller, cũng không được lấy dữ liệu từ  
Controller mà chỉ hiển thị yêu cầu chuyển cho Controller mà thôi.  
Ví dụ: Nút “delete” được tạo bởi View khi người dùng nhấn vào nút đó sẽ có  
một hành động trong Controller.  
Controller (C):  
Bộ phận có nhiệm vụ xử lý các yêu cầu người dùng đưa đến thông qua view.  
Từ đó, C đưa ra dữ liệu phù hợp với người dùng. Bên cạnh đó, Controller còn có  
chức năng kết nối với model.  
Luồng tương tác giữa các thành phần trong MVC.  
Ví dụ: Chức năng thêm bài viết mới trong trang quản trị website. Nơi đây có 2 trường  
nhập về tiêu đề và nội dung bài viết, thì trong đó:  
• View sẽ hiển thị ra phần nhập form tiêu đề và nội dung.  
• Controller lấy dữ liệu từ 2 trường và gửi tới Model.  
• Model lúc này sẽ nhận dữ liệu từ Controller để lưu trữ trong cơ sở dữ liệu.  
Mỗi bộ phận thực hiện chức năng nhất định, nhưng chúng có sự thống nhất, liên  
kết với nhau tạo nên mô hình MVC. Mô hình này tương đối nhẹ. Nó có thể tích hợp  
được nhiều tính năng có trong ASP.NET hiện giờ. Ví dụ như authentication (quá  
trình xác thực).  
Luồng đi trong mô hình MVC như thế nào?  
Chúng ta có thể hình dung, khi một yêu cầu từ máy client gửi tới server,  
Controller sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình đó là tiếp nhận và xử lý yêu cầu. Trong  
trường hợp cần thiết, nó có thể liên hệ Model – bộ phận làm việc với database để hỗ  
trợ.  
Khi xử lý xong yêu cầu, kết quả sẽ được trả về View. Tại View sẽ tạo mã  
HTML thành giao diện và trả về hiển thị trên trình duyệt.  
Ưu điểm của mô hình MVC  
Nhẹ, tiết kiệm băng thông: MVC không sử dụng viewstate nên khá tiết kiệm  
diện tích băng thông. Khi sử dụng, người dùng có thể sử dụng ứng dụng trên web  
cần tương tác gửi và nhận dữ liệu một cách liên tục. Do đó, việc giảm băng thông  
giúp cho website hoạt động tốt và ổn định hơn.  
• Kiểm tra dễ dàng: Với MVC, bạn có thể dễ dàng kiểm tra, rà soát lỗi phần  
mềm trước khi tới tay người tiêu dùng, đảm bảo chất lượng và độ uy tín cao  
hơn.  
• Chức năng control: Trên các nền website thì ngôn ngữ lập trình như CSS,  
HTML, Javascript có một vai trò vô cùng quan trọng. Việc sử dụng mô hình  
MVC sẽ giúp bạn có một bộ control ưu việt trên nền tảng các ngôn ngữ hiện  
đại với nhiều hình thức khác nhau.  
• View và size: View sẽ là nơi lưu trữ các dữ liệu. Càng nhiều yêu cầu được  
thực hiện thì kích thước càng tệp càng lớn. Khi đó, đường truyền mạng cũng  
giảm tốc độ load. Việc sử dụng mô hình MVC sẽ giúp bạn tiết kiệm được diện  
tích băng thông một cách tối ưu.  
• Chức năng Soc (Separation of Concern): Chức năng này cho phép bạn phân  
tách rõ ràng các phần như Model, giao diện, data, nghiệp vụ.  
• Tính kết hợp: Việc tích hợp ở mô hình MVC cho phép bạn thoải mái viết  
code trên nền tảng website. Khi đó, server của bạn sẽ được giảm tải khá nhiều.  
• Đơn giản: Đây là một mô hình với kết cấu tương đối đơn giản. Dù bạn không  
có quá nhiều chuyên môn cũng có thể sử dụng được.  
Nhược điểm của mô hình MVC  
MVC thường được sử dụng vào những dự án lớn. Do đó, với các dự án nhỏ,  
mô hình MVC có thể gây cồng kềnh, tốn thời gian trong quá trình phát triển cũng  
như thời gian trung chuyển dữ liệu.  
2. Ứng dụng mô hình MVC vào lập trình  
Mô hình MVC được ứng dụng trong nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau,  
nhưng phổ biến nhất là ứng dụng ASP.NET MVC hay PHP MVC.  
MVC đang là mô hình được ứng dụng rất nhiều trong lập trình.  
Hệ thống MVC phát triển tốt sẽ cho phép phát triển front – end, back – end  
cùng trên hệ thống mà không có sự can thiệp, chia sẻ, chỉnh sửa các tập tin trong khi  
một hoặc hai bên vẫn đang làm việc.  
Việc sử dụng mô hình tương đối đơn giản. Chỉ cần hiểu rõ quy trình vận hành,  
nắm được các chức năng của từng bộ phận thì việc triển khai mô hình MVC tương  
đối dễ dàng.  
Xây dựng chức năng đăng nhập bằng MVC  
Phần này hướng dẫn tạo chức năng đăng nhập theo mô hình MVC.  
Bước 1: Tạo một thư mục mới. Trong thư mục mới này, tạo 3 thư mục mới khác với  
tên controller, model, view tương ứng và cũng tạo một trang PHP với tên index.php.  
• new folder  
– controller  
– model  
– view  
– index.php  
Bước 2: Trong thư mục controller, tạo một trang PHP với tên Controller và viết  
đoạn mã sau:  
<?php  
include_once(“model/Model.php”);  
class Controller {  
public $model;  
public function __construct()  
{
$this->model = new Model();  
}
public function invoke()  
{
$reslt = $this->model->getlogin();  
// gọi hàm  
getlogin() của lớp model và lưu giá trị trả về của hàm  
này vào biến reslt.  
if($reslt == ‘login’)  
{
include ‘view/Afterlogin.php’;  
}
else  
{
include ‘view/login.php’;  
}
}
}
?>  
Bước 3: Trong thư mục model, tạo một trang PHP với tên Model và viết đoạn mã  
sau:  
<?php  
include_once(“model/Book.php”);  
class Model {  
public function getlogin()  
{
if(isset($_REQUEST[‘username’]) &&  
isset($_REQUEST[‘password’])){  
if($_REQUEST[‘username’]==’admin’ &&  
$_REQUEST[‘password’]==’admin’){  
return ‘login’;  
}
else{  
return ‘invalid user’;  
}
}
}
}
?>  
Bước 4: Trong thư mục view, tạo hai trang PHP với tên lần lượt là login.php,  
Afterlogin.php và viết đoạn mã sau:  
login.php  
<html>  
<head></head>  
<body>  
<?php  
echo $reslt;  
?>  
<form action=”” method=”POST”>  
<p>  
<label>Username</label>  
<input id=”username” value=”” name=”username”  
type=”text” required=”required” /><br>  
</p>  
<p>  
<label>Password</label>  
<input id=”password” name=”password”  
type=”password” required=”required” />  
</p>  
<br />  
<p>  
<button type=”submit” name=”submit”><span>Login  
</span> </button>  
<button type=”reset”><span>Cancle</span></button>  
</p>  
</form>  
</body>  
</html>  
Afterlogin.php  
<html>  
<head></head>  
<body>  
<?php  
echo $reslt;  
?>  
</body>  
</html>  
Bước 5: Mở tệp index.php và viết mã sau:  
<?php  
include_once(“controller/Controller.php”);  
$controller = new Controller();  
$controller->invoke();  
?>  
Bài 2: Các kỹ thuật lập trình MySQL với PHP nâng cao  
1. Kết nối và truy vấn cơ sở dữ liệu sử dụng PDO  
Giới thiệu PDO - PHP Data Objects  
PHP Data Objects (PDO) là một lớp truy xuất cơ sở dữ liệu cung cấp một  
phương pháp thống nhất để làm việc với nhiều loại cơ sở dữ liệu khác nhau. Khi làm  
việc với PDO bạn sẽ không cần phải viết các câu lệnh SQL cụ thể mà chỉ sử dụng  
các phương thức mà PDO cung cấp, giúp tiết kiệm thời gian và làm cho việc chuyển  
đổi Hệ quản trị cơ sở dữ liệu trở nên dễ dàng hơn, chỉ đơn giản là thay đổi Connection  
String (chuỗi kết nối CSDL).  
Chúng ta chỉ cần nắm rõ API mà PDO cung cấp là có thể làm việc được với  
nhiều Hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau như MySQL, SQLite, PostgreSQL,  
Microsoft SQL Server,... và có thể dễ dàng chuyển đổi chúng.  
Các Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Database Management System) mà PDO hỗ trợ  
gồm có:  
Tên driver  
DBMS  
PDO_CUBRID  
PDO_DBLIB FreeTDS  
PDO_FIREBIRD  
PDO_IBM  
Cubrid  
Microsoft SQL Server / Sybase  
Firebird  
IBM DB2  
PDO_INFORMIX  
PDO_MYSQL  
PDO_OCI  
IBM Informix Dynamic Server  
MySQL 3.x/4.x/5.x  
Oracle Call Interface  
Tên driver  
DBMS  
PDO_ODBC  
PDO_PGSQL  
PDO_SQLITE  
PDO_SQLSRV  
PDO_4D  
ODBC v3 (IBM DB2, unixODBC and win32 ODBC)  
PostgreSQL  
SQLite 3 and SQLite 2  
Microsoft SQL Server / SQL Azure  
4D  
Kết nối cơ sở dữ liệu  
Mỗi DBMS sẽ có các phương thức kết nối khác nhau (có loại cần Username,  
Password, đường dẫn đới Database, Port, có loại không). Connection String của các  
DBMS phổ biến hầu hết đều có dạng như sau:  
$conn = new PDO('mysql:host=localhost;dbname=izlearn', $username, $password);  
Với mysql là tên của DBMS, localhost có ý nghĩa database được đặt trên cùng  
server, izlearn là tên của database. $username và $password là 2 biến chứa thông tin  
xác thực.  
Đối với SQLite, DBMS này không có cơ chế xác thực bằng Username và  
Password mà chỉ đơn giản là đường dẫn tới file dữ liệu:  
$conn = new PDO("sqlite:your/database/path/izlearn.db");  
Đế ngắt kết nối khi không cần thao tác với database nữa, chúng ta chỉ cần sét  
biến $conn về null;  
$conn = null;  
Insert và Update  
Thêm mới (insert) và cập nhật (update) dữ liệu là những hoạt động cơ bản khi  
thao tác với database. Với PDO, mỗi hoạt động insert hay update được thực hiện qua  
3 quá trình sử dụng cơ chế Prepared Statement  
• Prepare statement: Chuẩn bị một câu lệnh SQL làm khung/mẫu được gọi là  
Prepared Statement với các Placeholder (có thể hiểu placeholder đóng vai trò  
như tham số của các phương thức khi bạn khai báo hàm)  
• Bind params: Gắn giá trị thực vào các placeholder (tương tự như khi bạn  
truyền giá trị vào các tham số của phương thức)  
• Execute: Thực thi câu lệnh.  
Prepared Statement  
Có 2 loại Placeholder trong Prepared Statement là Placeholder không định  
danh (Unnamed Placeholder) và Placeholder định danh (Named Placeholder) như ví  
dụ sau:  
$stmt = $conn->prepare('INSERT INTO users (name, email, age) values (?, ?, ?)');  
$stmt = $conn->prepare('INSERT INTO users (name, email, age) values (:name,  
:mail, :age)');  
Dòng lệnh thứ nhất sử dụng Placeholder không định danh là các dấu hỏi - ?.  
Dòng lệnh thứ 2 sử dụng Placeholder định danh: :name, :mail, :age (lưu ý dấu hai  
chấm và placeholder không nhất thiết phải giống tên column). Sau đây là toàn bộ quá  
trình Insert và Update sử dụng 2 loại Placeholder nêu trên.  
Unnamed Placeholder  
//Khởi tạo Prepared Statement từ biến $conn ở phần trước  
$stmt = $conn->prepare('INSERT INTO users (name, email,  
age) values (?, ?, ?)');  
//Gán các biến (lúc này chưa mang giá trị) vào các  
placeholder theo thứ tự tương ứng  
$stmt->bindParam(1, $name);  
$stmt->bindParam(2, $mail);  
$stmt->bindParam(3, $age);  
//Gán giá trị và thực thi  
$name = "Vu Hoang Lam"<  
$mail = "lamvh@live.com";  
$age = 22;  
$stmt->execute();  
//Gán những giá trị khác và tiếp tục thực thi  
$name = "Nguyen Van A";  
$mail = "nva@live.com";  
$age = 23;  
$stmt->execute();  
Như chúng ta thấy ta chỉ cần khởi tạo Prepared Statement một lần và có thể sử  
dụng lại nhiều lần. Với mỗi column - placeholder ta phải thực hiện gán tham số một  
lần, điều này sẽ không sao với những table có ít column như ví dụ trên, nhưng sẽ rất  
bất tiện nếu bảng có nhiều table, rất may mắn ta có cách khác để làm việc này, đó là  
lưu toàn bộ giá trị vào trong một mảng và truyền mảng này vào phương thức  
execute(), cụ thể như sau:  
$stmt = $conn->prepare('INSERT INTO users (name, email, age)  
values (?, ?, ?)');  
$data = array('Vu Hoang Lam', '[email protected]', 22);  
//Phương thức execute() dưới đây sẽ gán lần lượt giá trị trong  
mảng vào các Placeholder theo thứ tự  
$stmt->execute($data);  
Named Placeholder  
Đối với Named Placeholder, cách thực hiện cũng khá tương đồng với  
Unnamed Placeholder, chỉ khác là chúng ta không dùng thứ tự placeholder để gán  
giá trị (bind) mà dùng chính tên của placeholder:  
//Khởi tạo Prepared Statement từ biến $conn ở phần trước  
$stmt = $conn->prepare('INSERT INTO users (name, email, age) values (:name,  
:mail, :age)');  
//Gán các biến (lúc này chưa mang giá trị) vào các placeholder theo tên của chúng  
$stmt->bindParam(':name', $name);  
$stmt->bindParam(':mail', $mail);  
$stmt->bindParam(':age', $age);  
//Gán giá trị và thực thi  
$name = "Vu Hoang Lam";  
$mail = "lamvh@live.com";  
$age = 22;  
$stmt->execute();  
Chúng ta cũng có thể sử dụng mảng để rút gọn:  
//Lưu ý: Không cần thiết phải sử dụng dấu hai chấm cho các key  
$data = array('name' => 'Vu Hoang Lam', 'mail' => '[email protected]om', 'age' => 22);  
Một mẹo hữu ích khác khi sử dụng Named Placeholder đó là insert Object  
class $user  
{
public $name;  
public $mail;  
public $age;  
}
$person = new $user();  
$person->name = 'Vu Hoang Lam';  
$person->mail = '[email protected]';  
$person->age = 22;  
$stmt = $conn->prepare('INSERT INTO users (name, email, age)  
values (:name, :mail, :age)');  
$stmt->execute((array)$person);  
Ở dòng cuối cùng, chúng ta đã thực hiện "ép kiểu" (cast) Object $person thành  
array để truyền vào phương thức execute();  
Việc sử dụng Prepared Statement sẽ giúp chúng ta tránh được SQL Injection.  
Select Data - "Đọc" dữ liệu từ database  
Khi đọc dữ liệu từ database, PDO sẽ trả về dữ liệu theo cấu trúc mảng (array) hoặc  
đối tượng (object) thông qua phương thức fetch(). Bạn nên thiết lập trước cấu trúc dữ  
liệu trước khi gọi phương thức này, PDO hỗ trợ các tuỳ chọn sau:  
• PDO::FETCH_ASSOC: Trả về dữ liệu dạng mảng với key là tên của column  
(column của các table trong database)  
• PDO::FETCH_BOTH (default): Trả về dữ liệu dạng mảng với key là tên của  
column và cả số thứ tự của column  
• PDO::FETCH_BOUND: Gán giá trị của từng column cho từng biến đã khởi  
tạo trước đó qua phương thức bindColumn()  
• PDO::FETCH_CLASS: Gán giá trị của từng column cho từng thuộc tính  
(property/attribute) của một lớp Class theo tên column và tên thuộc tính.  
• PDO::FETCH_INTO: Gán giá trị của từng column cho từng thuộc tính của  
một Class Instance (thể hiện của một lớp)  
• PDO::FETCH_LAZY:  
Gộp  
chung  
PDO::FETCH_BOTH/PDO::FETCH_OBJ  
• PDO::FETCH_NUM: Trả về dữ liệu dạng mảng với key là số thứ tự của  
column  
• PDO::FETCH_OBJ: Trả về một Object của stdClass (link is external) với tên  
thuộc tính của Object là tên của column.  
Trong thực tế, chúng ta chỉ thường dùng 3 kiểu fetch đó là: FETCH_ASSOC,  
FETCH_CLASS và FETCH_OBJ. Để thiết lập cấu trúc dữ liệu (Fetch Style hay  
Fetch Mode) trước khi fetch ta dùng câu lệnh sau:  
$stmt->setFetchMode(PDO::FETCH_ASSOC);  
Hoặc nếu muốn bạn cũng có thể thiết lập kiểu fetch khi gọi hàm fetch():  
$stmt->fetch(PDO::FETCH_ASSOC);  
FETCH_ASSOC  
Kiểu fetch này sẽ tạo ra một mảng kết hợp lập chỉ mục theo tên column (nghĩa  
là các key của mảng chính là tên của column), tương tự như khi ta dùng  
MySQL/MySQLi Extension.  
//Tạo Prepared Statement  
$stmt = $conn->prepare('SELECT email, age from users WHERE name =  
:name');  
//Thiết lập kiểu dữ liệu trả về  
$stmt->setFetchMode(PDO::FETCH_ASSOC);  
//Gán giá trị và thực thi  
$stmt->execute(array('name' => 'a'));  
//Hiển thị kết quả, vòng lặp sau đây sẽ dừng lại khi đã duyệt qua  
toàn bộ kết quả  
while($row = $stmt->fetch()) {  
echo $row['name'] , '\n';  
echo $row['email'] , '\n';  
echo $row['age'] , '\n';  
}
FETCH_OBJ  
Kiểu fetch này trả về một Object của stdClass cho mỗi row của kết quả.  
//Tạo Prepared Statement  
$stmt = $conn->prepare('SELECT email, age from users WHERE name =  
:name');  
//Thiết lập kiểu dữ liệu trả về  
$stmt->setFetchMode(PDO::FETCH_OBJ);  
//Gán giá trị và thực thi  
$stmt->execute(array('name' => 'a'));  
//Hiển thị kết quả, vòng lặp sau đây sẽ dừng lại khi đã duyệt qua  
toàn bộ kết quả trả về  
while($row = $stmt->fetch()) {  
echo $row->name , '\n';  
echo $row->email , '\n';  
echo $row->age , '\n';  
}
FETCH_CLASS  
Kiểu fetch này cho phép chúng ta đưa kết quả vào Object của một Class mà  
chúng ta chỉ định. Khi sử dụng FETCH_CLASS, thuộc tính của class sẽ được gán  
giá trị trước khi constructor của class đó được gọi (phải chú ý vì điều này rất quan  
trọng). Nếu không có thuộc tính khớp với tên của một column bất kỳ thì thuộc tính  
đó sẽ được tự động tạo ra (public).  
Giả sử table users có một ta đã có Class User được định nghĩa như sau:  
class User {  
public $name;  
public $email;  
public $isAdmin = 'No';  
function __construct() {  
if ($this->name == 'Vu Hoang Lam')  
$this->isAdmin = 'Yes';  
}
}
Khi query data từ database sử dụng đoạn code sau:  
//Tạo Prepared Statement  
$stmt = $conn->prepare('SELECT email, age from users WHERE name =  
:name');  
//Thiết lập kiểu dữ liệu trả về, chỉ định dữ liệu được đưa vào  
object của class User  
$stmt->setFetchMode(PDO::FETCH_CLASS, 'User');  
//Gán giá trị và thực thi  
$stmt->execute(array('name' => 'a'));  
//Hiển thị kết quả, vòng lặp sau đây sẽ dừng lại khi đã duyệt qua  
toàn bộ kết quả trả về  
while($obj = $stmt->fetch()) {  
echo $obj->email;  
echo $obj->isAdmin;  
}
Vì constructor được gọi sau khi thuộc tính $name được gán bằng Vu Hoang  
Lam nên isAdmin sẽ mang giá trị Yes. Nếu muốn constructor của class được gọi  
trước khi các thuộc tính được gán giá trị, chúng ta phải sử dụng thêm  
PDO::FETCH_PROPS_LATE. Cách sử dụng như sau:  
//Hãy thử sử dụng kiểu fetch trên và so sánh kết quả hiển thị  
$stmt->setFetchMode(PDO::FETCH_CLASS | PDO::FETCH_PROPS_LATE,  
'User');  
Nếu cần truyền các tham số cho constructor của class thông qua phương thức  
fetch(), chúng ta có thể đặt chúng trong một array theo thứ tự tương ứng cụ thể như  
sau:  
$stmt->setFetchMode(PDO::FETCH_CLASS, 'User', array('param1', 'param2',  
'param3'));  
Exceptions - Xử lý ngoại lệ  
PDO dùng các Exceptions để xử lý các lỗi phát sinh khi làm việc với database,  
vì thế tất cả những gì chúng ta làm với PDO nên được đặt trong một try/catch block.  
PDO cung cấp 3 chế độ xử lý lỗi (Error Mode) được thiết lập thông qua phương thức  
setAttribute():  
$conn->setAttribute( PDO::ATTR_ERRMODE, PDO::ERRMODE_SILENT );  
$conn->setAttribute( PDO::ATTR_ERRMODE, PDO::ERRMODE_WARNING );  
$conn->setAttribute( PDO::ATTR_ERRMODE, PDO::ERRMODE_EXCEPTION );  
PDO::ERRMODE_SILENT  
Đây là chế độ xử lý lỗi mặc định của PDO, khi gặp mỗt lỗi bất kỳ, PDO sẽ im  
lặng (silent) và chương trình vẫn tiếp tục chạy. Chúng ta có thể lấy mã lỗi và thông  
tin về các lỗi đã xảy ra qua PDO::errorCode() và PDO::errorInfo()  
PDO::ERRMODE_WARNING  
Ở chế độ này khi gặp phải lỗi PDO sẽ ném ra một PHP Warning, chương trình  
sẽ tiếp tục chạy.  
PDO::ERRMODE_EXCEPTION  
Đây là mode mà chúng ta nên sử dụng nhất, khi đặt trong một try/catch block  
sẽ giúp bạn kiểm soát các lỗi phát sinh một cách uyển chuyển và giấu các thông báo  
lỗi có thể khiến Attacker khai thác hệ thống của bạn.  
try {  
$stmt = new PDO('mysql:host=localhost;dbname=izlearn',  
'lamvh', 'talapassday');  
$stmt->setAttribute( PDO::ATTR_ERRMODE,  
PDO::ERRMODE_EXCEPTION );  
//Sai cú pháp, FORM thay vì FROM  
$stmt->prepare('SELECT name FORM people');  
}
catch(PDOException $e) {  
echo "ERROR! Co loi xay ra voi PDO";  
file_put_contents('PDOErrors.txt', $e->getMessage(),  
FILE_APPEND);  
}
Đoạn code trên sẽ ghi thông báo lỗi vào một file text với tên PDOErrors.txt  
Một số phương thức hữu ích khác  
$conn->lastInsertId();  
Phương thức trên trả về Auto Incremented ID của rows được thêm gần nhất.  
$conn->exec('DELETE FROM users WHERE uid = 1');  
Đối với các lệnh SQL không có dữ liệu trả về, và không cần thiết phải truyền  
tham số thì có thể sử dụng phương thức exec(). Phương thức này sẽ trả về số lượng  
row bị tác động sau khi thực hiện câu lệnh. Như ví dụ trên sẽ trả về số lượng row bị  
xoá.  
$conn = $DBH->quote($foo);  
Phương thức quote() sẽ giúp chúng ta thêm dấu nháy cho một string để string  
đó an toàn khi sử dụng để truy vấn, nếu chúng ta không muốn sử dụng Prepared  
Statement.  
$stmt->rowCount();  
Phương thức rowCount() trả về số lượng row bị tác động sau khi thực hiện các  
thao tác DELETE, INSERT và UPDATE. Dùng rowCount() cho thao tác SELECT  
có thể sẽ trả về kết quả không đúng với một số loại database.  
2. Kết nối và truy vấn cơ sở dữ liệu sử dụng MySQLi  
Mở kết nối tới MySQL  
Ví dụ (MySQLi Hướng đối tượng)  
<?php  
$servername = "localhost";  
$username = "username";  
$password = "password";  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 70 trang Thùy Anh 15820 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình PHP nâng cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_php_nang_cao.docx