Giáo trình nghề Kỹ thuật lắp ráp, sửa chữa máy tính - Môđun: Phân tích thiết kế hệ thống thông tin

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI PHÒNG  
TRƯỜNG CĐCN HẢI PHÒNG  
GIÁO TRÌNH  
Tên môn học: Phân tích thiết kế hệ thống thông tin  
Nghề:Kỹ thuật lắp ráp, sửa chữa máy tính  
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG  
Hải Phòng  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng  
nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành  
mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
LỜI GIỚI THIỆU  
”Phân tích thiết kế hệ thống thông tin” là môn học bắt buộc trong các trường nghề. Tuỳ  
thuộc vào đối tượng người học và cấp bậc học mà trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức  
cơ bản nhất.  
Để thống nhất chương trình và nội dung giảng dạy trong các nhà trường chúng tôi biên  
soạn cuốn giáo trình: Phân tích thiết kế hệ thống thông tin. Giáo trình được biên soạn phù hợp với  
các nghề trong các trường đào tạo nghề phục vụ theo yêu cầu của thực tế xã hội hiện nay.  
Tài liệu tham khảo để biên soạn gồm:  
- Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, NXB Đại học quốc gia Hà Nội-2006  
- Giáo trình phân tích và thiết kế hệ thống thông tin - NXB Đại học quốc gia Hà nội- 2003  
- Phân tích và thiết kế tin học hệ thống quản lý kinh doanh nghiệp vụ - NXB Giao thông vận  
tải- 2004  
- Phân tích thiết kế và cài đặt hệ thống thông tin quản lý - NXB Thanh niên- 2005  
Kết hợp với kiến thức mới có liên quan môn học và những vấn đề thực tế thường gặp trong  
sản xuất, đời sống để giáo trình có tính thực tế cao, giúp cho người học dễ hiểu, dễ dàng lĩnh hội  
được kiến thức môn học.  
Trong quá trình biên soạn giáo trình kinh nghiệm còn hạn chế, chúng tôi rất mong nhận  
được ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần hiệu đính sau được hoàn chỉnh hơn.  
 
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU  
Hệ thống thông tin là một ứng dụng tin học đầy đủ và toàn diện nhất các thành  
tựu của công nghệ thông tin vào một tổ chức. Ngày nay, không một tổ chức hay một  
đơn vị nào là không có nhu cầu xây dựng các hệ thống thông tin. Không những nhu  
cầu xây dựng các hệ thống thông tin tăng lên, mà quy mô và mức độ phức tạp của  
chúng cũng không ngừng tăng lên. Do đặc thù của các hệ thống thông tin là sản phẩm  
đơn lẻ (không giống với bất kỳ cái nào trước đó), với quy mô và độ phức tạp ngày  
càng tăng, lại là sản phẩm “không nhìn thấy”, nên phân tích và thiết kế trở thành một  
yêu cầu bắt buộc để có được một hệ thống tốt.  
Có thể hình dung phân tích thiết kế một hệ thống thông tin là quá trình tìm hiểu  
và mô phỏng lại hiện tượng, quy trình nghiệp vụ trong thế giới thực từ đó xây dựng hệ  
thống để giải quyết bài toán đặt ra trên máy tính (hình 0-1).  
Hình 0-1. Mối quan hệ giữa thế giới thực và phần mềm  
Theo điều tra của công ty IBM trong giai đoạn 1970-1980 cho thấy, những sai  
sót trong phân tích và thiết kế làm cho chi phí bảo trì trung bình của các hệ thống  
thông tin chiếm tới gần 60% tổng chi phí. Có hiện tượng này là vì mức độ chi phí sửa  
chữa một sai lầm bị bỏ sót qua các giai đoạn phát triển hệ thống tăng lên đáng kể: một  
lỗi bị bỏ sót trong giai đoạn phân tích đến khi lập trình và cài đặt mới phát hiện ra thì  
chi phí sửa chữa tăng lên đến 40 lần, và để đến giai đoạn bảo trì mới phát hiện ra thì  
chi phí sửa chữa tăng tới 90 lần. Thêm vào đó, nếu thiếu các tài liệu phân tích và thiết  
kế tốt thì sẽ không bảo trì được hệ thống. Hình vẽ 0-2 cho ta hình dung việc xây dựng  
một phần mềm nếu như không có thiết kế và có thiết kế sẽ khác nhau như thế nào.  
 
Hình 0-2. Sự khác nhau giữa xây dựng phần mềm có thiết kế và không thiết kế  
Do tầm quan trọng và nhu cầu thực tế, phân tích các hệ thống thông tin đã trở  
thành một nghề nghiệp có tính chuyên môn hóa cao. Một kỹ sư công nghệ thông tin  
bất kỳ, không thể không biết đọc các bản vẽ phân tích và thiết kế hệ thống thông tin.  
Là một nghề nghiệp, phân tích và thiết kế hệ thống thông tin cũng có những phương  
pháp riêng, công nghệ và công cụ riêng và cần có kinh nghiệm nghề nghiệp. Một kỹ  
sư công nghệ thông tin sau một năm có thể trở thành một nhà lập trình giỏi, thì họ  
phải cần nhiều năm mới trở thành một nhà phân tích và thiết kế viên, và sau nhiều  
năm nữa mới trở thành một nhà phân tích và thiết kế cao cấp. Để trở thành một nhà  
phân tích và thiết kế đòi hỏi một người phải có ít nhất bốn loại kỹ năng: kỹ năng phân  
tích, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng về nghiệp vụ và quản lý, kỹ năng giao tiếp.  
Nhu cầu xã hội về nghề nghiệp này ngày càng lớn. Ở các nước phát triển (Mỹ, Nhật),  
càng ngày số các nhà phân tích thiết kế càng tăng và đã xấp xỉ các lập trình viên. Do  
vậy, môn học phân tích và thiết kế hệ thống thông tin là môn học bắt buộc đối với  
những người làm công nghệ thông tin để có thể hành nghề tốt.  
Trong phạm vi môn học sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất  
về phân tích thiết kế hệ thống, đặc bitệ chú trọng đến mặt vận dụng thực hành của nó.  
Vì vậy ngoài các nội dung về phương pháp luận, phương pháp, công nghệ và công cụ  
cơ bản, để có thể truyền đạt cho sinh viên nắm được một quy trình hoàn thiện để phân  
tích thiết kế một hệ thống, bài giảng đã đưa ra một ví dụ xuyên suốt là hệ thống quản  
lý vật tư, từ đó sinh viên có thể thực hành theo.  
Nội dung của bài giảng bao gồm 5 chương  
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản - sẽ giới thiệu với sinh viên về những  
khái niệm đầu tiên của phân tích thiết kế hệ thống và nói chung về một số  
phương pháp luận phân tích thiết kế hệ thống.  
Chương 2: Khảo sát hệ thống – đây là bước đi đầu tiên trước khi một xây  
dựng một hệ thống, trong chương này sẽ hướng dẫn sinh viên một phương  
pháp tiếp cận đến hệ thống.  
Chương 3: Phân tích hệ thống về chức năng - hướng dẫn sinh viên từng  
bước để phân tích chức năng của hệ thống.  
Chương 4: Phân tích hệ thống về dữ liệu - hướng dẫn sinh viên từng bước  
để phân tích dữ liệu hệ thống. Chủ đạo của phương pháp phân tích dữ liệu  
sử dụng trong bài giảng là mô hình thực thể liên kết.  
Chương 5: Thiết kế hệ thống – đây là công đoạn sau cùng trước khi mã hóa  
một hệ thống, trong chương này hướng dẫn sinh viên những vấn đề thiết kế  
cơ bản của một hệ thống.  
Yêu cầu của môn học, sau khi học xong sinh viên phải nắm được quy trình  
phân tích thiết kế hệ thống và áp dụng được quy trình đó để phân tích thiết kế một hệ  
thống thông tin cụ thể như: hệ thống quản lý điểm, hệ thống quản lý sinh viên…  
CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ THỐNG  
1.1. Hệ thống và hệ thống thông tin  
1.1.1 Khái niệm hệ thống  
Thuật ngữ hệ thống không phải là mới. Từ lâu người ta đã nói đến hệ thống mặt  
trời, hệ thống triết học, hệ thống luật pháp, hệ thống thuỷ lực, hệ thống cơ khí, hệ  
thống tuần hoàn, hệ thống thông tin...  
Một cách đơn giản và vắn tắt nhất, ta có thể hiểu: Hệ thống là một tập hợp  
gồm nhiều phần tử, có các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động  
hướng tới một mục đích chung.  
1.1.2. Các thành phần của hệ thống  
Trong định nghĩa về hệ thống đã đề cập đến các thành phần sau của hệ thống  
a. Các phần tử của hệ thống  
Các phần tử ở đây là các thành phần hợp thành hệ thống, được hiểu theo nghĩa  
rất rộng rãi.  
Các phần tử có thể rất đa dạng, chẳng hạn trong lĩnh vực vật lý có hệ thống mặt  
trời với phần tử của nó là: mặt trời, quả đất, hoả tinh,... Trong lĩnh vực sinh vật có hệ  
thống thần kinh với các phần tử của nó là: bộ óc, tuỷ sống, các dây thần kinh... Trong  
xã hội loài người có các hệ thống kinh tế xã hội với các phần tử của nó là: các cơ quan  
nhà nước, các tổ chức kinh doanh...  
Các phần tử không nhất thiết là đơn giản, sơ đẳng, mà thường là những thực  
thể phức tạp, khiến khi đi sâu vào chúng, ta lại phải xem chúng là các hệ thống. Ví dụ  
xét hệ thống sinh vật trong cơ thể con người thì các phần tử của nó là hệ tuần hoàn, hệ  
tiêu hoá, hệ hô hấp... cũng có thể xem là một hệ thống.  
Vì thế, hệ thống thường có tính chất phân cấp: hệ thống hợp thành từ nhiều hệ  
thống con, và trong mỗi hệ thống con đó lại có nhiều hệ thống nhỏ hơn...  
b. Quan hệ giữa các phần tử  
Các phần tử của một hệ thống không phải tập hợp lại một cách ngẫu nhiên, rời  
rạc, mà giữa chúng luôn tồn tại những quan hệ (hay các mỗi ràng buộc lẫn nhau), tạo  
thành một cấu trúc (hay một tổ chức). Chẳng hạn, trong một hệ thống hành chính,  
gồm các cán bộ và nhân viên, thì giữa họ tồn tại các mối ràng buộc về phân cấp, phân  
   
quyền, các quan hệ về đoàn thể, các quan hệ về dân sự...  
Mối quan hệ giữa các phần tử của hệ thống có thể là mối quan hệ cơ học, năng  
lượng hay thông tin… mối quan hệ đó thể hiện bản chất của hệ thống. Người ta có thể  
xác định quan hệ giữa các phần tử dựa trên các thông số như số lượng, chiều hướng,  
cường độ…  
Cần phân biệt các quan hệ ổn định, tồn tại lâu dài. Ví dụ, A là thủ tướng của B,  
A là giám đốc của B. Các quan hệ bất thường, tạm thời. Ví dụ, A và B vừa được cử đi  
công tác cùng nhau. Khi xem xét tính tổ chức của một hệ thống, đương nhiên người ta  
phải đề cập trước hết đến các quan hệ ổn định, lâu dài.  
Tuy nhiên nói đến ổn định, không nhất thiết phải hiểu là hoàn toàn bất biến,  
tĩnh tại. Trái lại phần lớn các hệ thống đáng quan tâm đều có tính biến động. Biến  
động song vẫn giữ sự ổn định trong tổ chức, trong các quan hệ giữa các phần tử, nghĩa  
là vẫn giữ cái bản chất, hay các đặc trưng cốt lõi của hệ thống.  
1.1.3. Sự hoạt động và mục đích của hệ thống  
a. Sự hoạt động của hệ thống  
Sự biến động của hệ thống thể hiện trên hai mặt: Sự tiến triển, tức là các thành  
phần của nó (các phần tử và các quan hệ) có thể có phát sinh, có tăng trưởng, có suy  
thoái, có mất đi. Sự hoạt động, tức là các phần tử của hệ thống, trong các mối ràng  
buộc đã định, cùng cộng tác với nhau để thực hiện một mục đích chung của hệ thống.  
b. Mục đích  
Mục đích của hệ thống thường thể hiện ở chỗ hệ thống nhận những cái vào để  
chế biến thành những cái ra nhất định. Chẳng hạn, một hệ thống thu hình, nhận vào  
năng lượng điện cùng các sóng vô tuyến từ đài phát, để biến thành các hình ảnh trên  
màn hình; Một hệ thống sản xuất nhận vào các nguyên vật liệu, tiền và dịch vụ để sản  
xuất ra các thành phẩm, hàng hoá.  
1.1.4. Môi trường bên ngoài  
Một câu hỏi đặt ra: hệ thống nhận cái vào từ đâu ? và đưa cái ra ra đâu ? Đó  
chính là môi trường.  
Môi trường  
Hệ thống  
Quan hÖ  
PhÇn tö  
PhÇn tö  
Đầu vào  
Đầu ra  
PhÇn tö  
PhÇntö  
PhÇn tö  
Hình 0-1. Quan hệ của hệ thống và môi trường  
Để phân biệt hệ thống và môi trường xung quanh, cần phải xác định giới hạn  
của hệ thống (cả về vật lý và khái niệm). Một trong những cách để xác định giới hạn  
hệ thống là mô tả hệ thống. Với các loại hệ thống khác nhau, cách mô tả hệ thống  
cũng rất phong phú và đa dạng có thể mô tả hệ thống bằng các phương pháp định tính  
hay định lượng. Việc xác định biên một cách chính xác và hợp lý là rất cần thiết, đặc  
biệt có ý nghĩa đối với giai đoạn khảo sát hệ thống.  
Cần lưu ý rằng, giới hạn của hệ thống phụ thuộc chặt chẽ vào mục tiêu của hệ  
thống đó. Ta có thể đưa ra khái niệm môi trường bên ngoài như sau Môi trường bên  
ngoài là tập hợp các phần tử không phụ thuộc vào hệ thống nhưng có mối liên hệ  
với hệ thống: hoặc chịu sự tác động của hệ thống, hoặc là tác động lên hệ thống.  
Có thể phân biệt hệ thống thành 2 loại hệ thống tự nhiên: hệ mặt trời, hệ thống  
cơ thể con người,… Hệ thống do con người xây dựng: hệ thống pháp luật, hệ thống  
của một cơ quan, một công ty, một trường học… Trong môn học này, ta quan tâm đến  
các hệ thống do con người xây dựng. Cụ thể là hệ thống kinh doanh/dịch vụ.  
1.1.5. Hệ thống kinh doanh / dịch vụ  
a. Khái niệm  
Là hệ thống mà mục đích là kinh doanh hay dịch vụ. Kinh doanh là hoạt động  
của con người nhằm mang lại lợi nhuận (tức thu giá trị thặng dư). Chẳng hạn sản xuất,  
phân phối hay lưu thông sản phẩm là các hoạt động kinh doanh. Dịch vụ là hoạt động  
của con người nhằm mang lại lợi ích (tức là cung cấp giá trị sử dụng). Chú ý có những  
dịch vụ là phi lợi nhuận (bởi ở đó không thể có tăng năng suất, để từ đó tạo ra giá trị  
thặng dư), ví dụ các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện...  
Đặc điểm chung của các hệ thống kinh doanh/dịch vụ so với các hệ thống khác,  
như các hệ thống vật lý, kỹ thuật hay sinh học, là: chúng là của con người và có con  
người tham gia. Của con người, cho nên mục tiêu của chúng là do con người định ra.  
Có con người tham gia, nên con người thường xuyên góp phần thúc đẩy hay kìm hãm  
sự phát triển của hệ thống  
Đặc điểm chung nói trên dẫn tới hai nét nổi bật của các hệ thống kinh  
doanh/dịch vụ là vai trò của cơ chế điều khiển (trong kinh doanh thường gọi là sự  
quản lý) là rất quan trọng, nhằm giữ cho hệ thống hướng đúng địch và đạt kết quả với  
chất lượng cao. Vai trò của thông tin cũng rất quan trọng, nhằm phục vụ cho nhu cầu  
giao tiếp, trao đổi giữa con người với nhau.  
b. Các hệ thống con trong hệ thống kinh doanh / dịch vụ  
Bởi sự tồn tại của nhiệm vụ quản lý bên cạnh nhiệm vụ sản xuất như đã nói ở  
trên, cho nên các hệ thống kinh doanh / dịch vụ luôn bao gồm hai hệ thống con: Hệ  
thống tác nghiệp, gồm con người, phương tiện, phương pháp trực tiếp tham gia vào  
quá trình biến đổi luồng những cái vào thành luồng những cái ra (thể hiện mục đích  
kinh doanh hay dịch vụ) của hệ thống. Hệ thống quản lý, gồm con người, phương  
tiện, phương pháp cho phép điểu khiển, kiểm soát hoạt động tác nghiệp hướng đúng  
vào mục đích kinh doanh hay dịch vụ.  
Về mặt hình thức hoạt động quản lý luôn luôn là một dãy nối tiếp của hai việc  
đề xuất một quyết định kinh doanh và thực thi quyết định kinh doanh.  
Ta hiểu quyết định là một sự lựa chọn lựa một trong những phương pháp hành  
động có thể để giải quyết một vấn đề nào đó. Quyết định có thể ở nhiều mức (hay tầm  
quan trọng) khác nhau và mọi quyết định đều được đề xuất qua hai bước tìm hiểu vấn  
đề và chọn lựa phương pháp.  
Như vậy, trước khi ra quyết định cần phải thu thập các thông tin liên quan.  
Thông thường thì các thông tin có ích cho quyết định phải được kết xuất từ nhiều  
nguồn thông tin phức tạp, thông qua các quá trình thu gom, lưu trữ, xử lý. Sau khi ra  
quyết định, quyết định phải được truyền đạt đến nơi thực hiện, cùng với những thông  
tin cần thiết cho việc thực thi quyết định đó. Nói thế có nghĩa là, trong quản lý, bên  
cạnh nhiệm vụ đề xuất các quyết định kinh doanh, luôn có nhiệm vụ xử lý thông tin.  
Vì vậy hệ thống (con) quản lý trong hệ thống kinh doanh / dịch vụ lại có thể tách  
thành hai hệ thống con: Hệ quyết định, gồm con người, phương tiện, phương pháp  
thực hiện việc đề xuất các quyết định kinh doanh. Hệ thông tin, gồm con người,  
phương tiện, phương pháp tham gia vào việc xử lý các thông tin kinh doanh.  
Tóm lại, hệ thống kinh doanh/ dịch vụ có 3 hệ thống con: hệ tác nghiệp, hệ  
quyết định và hệ thông tin, mà mối liên quan về thông tin giữa chúng được diễn tả như  
trong hình 1.3, ở đó thấy rõ vai trò trung gian của hệ thống thông tin trong doanh  
nghiệp.  
HÖ quyÕt ®Þnh  
HÖ  
th«ng  
tin  
Th«ngtin vµo  
Th«ng tin ra  
Nguyªn vËtliÖu  
S¶n phÈm/dÞch vô  
HÖt¸cnghiÖp  
M«i tr−êng  
Hình 0-2. Các hệ thống con của hệ thống kinh doanh/dịch vụ  
Chú ý rằng việc phân chia hệ thống kinh doanh/dịch vụ thành 3 hệ thống con  
như trên chỉ có ý nghĩa phương pháp luận, nhằm cho ta 1 cách nhìn, một cách nghiên  
cứu đối với hệ thống, chứ không phải là một sự phân chia về tổ chức. Thực vậy giữa  
các hệ thống con đó khó có thể vạch được ranh giới thật rành mạch: chẳng hạn có thể  
có người vừa làm công tác lãnh đạo, vừa làm công tác chuyên môn, vừa tham gia xử  
lý thông tin, như thế anh ta là thành viên của cả 3 hệ con. Mặt khác trên thực tế, các cơ  
quan được tổ chức thành các phòng, ban, khoa, bộ môn, phân xưởng, cửa hàng... để  
phân công thực hiện các chức năng quản lý hay tác nghiệp; nhưng các chức năng này  
thường đan xen với nhau trong các bộ phận, mà không chia tách một cách hoàn toàn  
giữa các bộ phận đó.  
Tuy nhiên, nhìn 1 cách khái quát vào 1 doanh nghiệp hay cơ quan, ta luôn thấy  
có những người nhiệm vụ chính là đề xuất các quyết định (các cán bộ lãnh đạo các  
cấp), có những người nhiệm vụ chính là xử lý thông tin (nhân viên phòng ban), có  
những người nhiệm vụ chính là trực tiếp sản xuất hay dịch vụ (công nhân, kỹ sư, bác  
sĩ, thầy giáo...) Vì thế mà cách tiếp cận hệ thống như trên vẫn là có ích. Khi muốn tin  
học hóa một doanh nghiệp, chúng ta sẽ quan tâm đến hệ thống thông tin, làm sao để  
thu thập, lưu trữ và xử lý thông tin một cách nhanh nhất. Vì vậy ta cần đi sâu nghiên  
cứu về hệ thống thông tin.  
1.1.6. Hệ thống thông tin  
a. Khái niệm  
Hệ thống thông tin (Information System) là một hệ thống mà mục tiêu tồn tại  
của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong tổ chức nào  
đó. Ta còn có thể hiểu hệ thống thông tin là hệ thống mà mối liên hệ giữa các thành  
phần của nó cũng như mối liên hệ giữa nó với các hệ thống khác là sự trao đổi  
thông tin. Ví dụ máy tính, hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống kế toán, hệ thống quản  
lý điểm, hệ thống quản lý thư viện…  
b. Chức năng của hệ thống thông tin  
Hệ thống thông tin có bốn chức năng chính là nhận thông tin vào, lưu trữ, xử lý  
và đưa ra thông tin. Nhận thông tin vào dưới dạng các dữ liệu gốc về một chủ điểm,  
một sự kiện hoặc một đối tượng nào đó trong hệ thống, các yêu cầu xử lý hoặc cung  
cấp thông tin, các lệnh. Xử lý dữ liệu: sắp xếp dữ liệu theo một thứ tự nào đó, sửa  
chữa, thay đổi dữ liệu trong bộ nhớ, thực hiện các tính toán tạo ra thông tin mới, thống  
kê, tìm kiếm các thông tin thoả mãn một điều kiện nào đó. Lưu trữ các loại thông tin  
khác nhau có cấu trúc đa dạng, phục vụ nhu cầu xử lý khác nhau. Đưa ra thông tin: có  
thể đưa dữ liệu với các khuôn dạng khác nhau ra các thiết bị như bộ nhớ ngoài, màn  
hình, máy in, thiết bị mạng hoặc các thiết bị điều khiển.  
c. Thông tin và xử lý thông tin trong doanh nghiệp  
Nhiệm vụ của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp là xử lý các thông tin kinh  
doanh. Ta hiểu xử lý thông tin là tập hợp những thao tác áp dụng lên các thông tin  
nhằm chuyển chúng về một dạng trực tiếp sử dụng được: làm cho chúng trở thành  
hiểu được, tổng hợp hơn, truyền đạt được, hoặc có dạng đồ hoạ...  
Nói cụ thể hơn một xử lý thông tin đề cập một hay một số trong các thao tác cơ  
bản sau ghi nhận và lưu trữ một thông tin lên một giá mang. Sắp xếp các thông tin  
theo một trật tự nào đó. Tham khảo thông tin (tham khảo một tệp, một cơ sở dữ liệu,  
tìm kiến tư liệu...). Điều chỉnh dạng của thông tin. Điều chỉnh nội dung thông tin (cập  
nhật, biến đổi). Từ một số thông tin rút ra một thông tin khác (tính toán, kết xuất).  
Chuyển thông tin đi xa (viễn thông). Phân phối thông tin tới một người hay một nhóm  
người (truyền đạt)  
Thông tin kinh doanh (tức thông tin dùng cho mục đích quản lý trong các  
doanh nghiệp) thường được phân theo hai loại chính thông tin tự nhiên: là các thông  
tin sinh ra và thu nhận bởi con người trực tiếp bằng các cơ quan biểu đạt hay cảm thụ  
tự nhiên của con người. Thông tin có cấu trúc (dữ liệu): là các thông tin được chắt  
lọc từ các thông tin tự nhiên, bằng cách cấu trúc hoá lại, làm cho cô đọng hơn, chặt  
chẽ hơn. Các thông tin chứa đựng trong các loại sổ sách, trong các tệp máy tính đều là  
các thông tin có cấu trúc. Chúng không còn có dáng vẻ tự nhiên nữa và nói chung  
chúng là các dãy giá trị (số, chữ...) được bố trí theo một quy cách nào đấy (cú pháp)  
và được hiểu nghĩa theo một cách nào đấy (ngữ nghĩa).  
Việc sử dụng thông tin có cấu trúc thay vì thông tin tự nhiên mang lại 2 điều lợi  
Tính cô đọng; ngắn gọn mà thông tin có cấu trúc được truyền đạt nhanh hơn, với độ  
tin cậy cao hơn, và khi lưu giữ trên giá mang (giấy, vật liệu từ...) chúng chiếm không  
gian bé hơn. Có cú pháp chặt chẽ, thông tin có cấu trúc cho phép thực hiện các tính  
toán, các xử lý theo giải thuật: từ một tập hợp các thông tin, có thể nhận được một  
cách tự động những thông tin mới (thông tin kết xuất).  
Nói chung cả hai loại thông tin tự nhiên và có cấu trúc đều tham gia vào quá  
trình quản lý, song các thông tin tự nhiên chủ yếu chỉ bó gọn trong công tác văn thư,  
còn các mặt hoạt động quan trọng của quản lý, như quản lý tài chính, nhân sự, thiết bị,  
khách hàng... chủ yếu sử dụng các thông tin có cấu trúc. Vì vậy, khi phân tích một hệ  
thống ta lưu ý nhiều đến các thông tin có cấu trúc mà ít nhắc đến các thông tin tự  
nhiên.  
Tóm lại vấn để đặt ra ở đây là mục đích của việc xử lý thông tin trong doanh  
nghiệp là từ những dữ liệu đã có, phải đưa ra được những thông tin có ích cho  
kinh doanh.  
d. Hai thành phần cơ bản của hệ thống thông tin  
Nếu không kể con người và thiết bị, hệ thống thông tin trong doanh nghiệp có  
hai thành phần cơ bản các dữ liệu ghi nhận thực trạng của doanh nghiệp, các quy trình  
xử lý cho phép biến đổi các dữ liệu  
Các dữ liệu: Đó là các thông tin được lưu và duy trì nhằm phản ánh thực trạng  
hiện thời hay quá khứ của doanh nghiệp. Có thể tách dữ liệu thành hai phần: Các dữ  
liệu phản ánh cấu trúc nội bộ của cơ quan, như dữ liệu về nhân sự, nhà xưởng, thiết  
bị... Cấu trúc cơ quan không phải là cố định, mà có thể biến động khi có một sự kiện  
tiến hoá xảy ra (chẳng hạn khi một nhân viên chết, một thiết bị mới được bổ sung). Sự  
kiện tiến hoá thường xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn của con người. Sự điều chỉnh lại  
các dữ liệu cho thích hợp khi có sự kiện tiến hoá xảy ra gọi là sự cập nhật. Các dữ liệu  
phản ánh các hoạt động kinh doanh / dịch vụ của cơ quan, như là dữ liệu về sản xuất,  
mua bán, giao dịch... Hoạt động kinh doanh/ dịch vụ nhằm biến đổi luồng vào/ ra của  
doanh nghiệp có thể xem là sự tiếp nối của hàng loạt các sự việc sơ đẳng, gọi là các sự  
kiện hoạt động (chẳng hạn nhận một lô hàng, hoàn thành một mẻ sản phẩm, một đơn  
hàng tới, thanh toán một hoá đơn...) Khi có một sự kiện hoạt động xảy ra thì phải ghi  
nhận (hay thu thập) nó, và như vậy làm thay đổi các dữ liệu phản ánh các hoạt động  
kinh doanh/ dịch vụ của doanh nghiệp.  
Các xử lý: Đó là quá trình biến đổi thông tin, nhằm vào hai mục đích chính.  
Sản sinh các thông tin theo thể thức quy định, chẳng hạn các chứng từ giao dịch (đơn  
mua hàng, hoá đơn...), các báo cáo, các bản thống kê... Trợ giúp cho các quyết định,  
thông thường là cung cấp những thông tin cần thiết cho việc chọn lựa một quyết định  
của lãnh đạo, nhưng cũng có thể là thực hiện một sự chọn lựa quyết định (một cách tự  
động), nếu đó là loại quyết định dựa trên giải thuật (khác với loại quyết định dựa trên  
trực quan).  
Mỗi xử lý thường là 1 sự áp dụng một quy tắc quản lý định sẵn và diễn ra theo  
một trật tự định sẵn (gọi là thủ tục). Các quy tắc quản lý và các thủ tục có thể được ấn  
định bởi hệ thống quyết định của doanh nghiệp, và như vậy chúng có thể bị điều chỉnh  
theo ý muốn (chẳng hạn các quy tắc tiêu thụ sản phẩm, phương pháp phân phối các trợ  
cấp, các quy định về khuyến mại...), nhưng chúng có thể được ấn định từ bên ngoài  
doanh nghiệp, đặc biệt là bởi nhà nước (ví dụ quy tắc tính thuế VAT, cách tính lương  
và bảo hiểm xã hội...) và như vậy doanh nghiệp không được tuỳ tiện thay đổi.  
Đầu vào của một xử lý có thể là các thông tin phản ánh cấu trúc doanh nghiệp  
và/ hoặc các thông tin phản ánh hoạt động của doanh nghiệp. Đầu ra có thể là các kết  
quả chuyển trực tiếp cho các cá nhân hay tổ chức ngoài doanh nghiệp (chẳng hạn đơn  
đặt hàng, hoá đơn, thống kê bán hàng, báo cáo tài chính...). Gọi đó là các kết quả  
ngoài. Các kết quả được lưu giữ trở lại vào trong hệ thống để sau này dùng là đầu vào  
cho các xử lý khác (thường là các thông tin về tình trạng, về lịch sử hay lưu trữ). Gọi  
đó là các kết quả trong.  
Có thể hình dung các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin, với các mối  
liên quan về dữ liệu giữa chúng như hình 1.4.  
C¸c sù kiÖn tiÕn ho¸  
(CËp nhËt)  
D÷ liÖu  
VÒ cÊu tróc  
c¬ quan  
Xö lý  
KÕt qungoµi  
KÕt qu¶ trong  
D÷  
liÖu  
vµo  
C¸c tham sè  
- C¸c quy t¾c qu¶n lý  
C¸c thñ tôc  
-
D÷ liÖu  
VÒ ho¹t ®éng kinh  
doanh/dÞch vô  
(Thu thËp)  
C¸c sù kiÖn ho¹t ®éng  
Hình 0-3. Các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin  
1.2. Xử lý thông tin bằng máy tính  
1.2.1. Các phương pháp xử lý thông tin của máy tính  
a. Xử lý tương tác  
Xử lý tương tác là xử lý thực hiện từng phần, phần xử lý bởi con người và bởi máy tính  
được thực hiện xen kẽ nhau; hai bên trao đổi qua lại với nhau dưới hình thức đối thoại.  
Như vậy, con người sẽ dẫn dắt quá trình xử lý và máy tính đóng vai trò trợ giúp tích c  
dụng xử lý giao tác khi hệ thống phải xử lý nhiều thông tin có mối quan hệ phức tạp với  
nhau, khó mô tả bằng công thức hay con người phải thường xuyên vận dụng những kinh  
nghiệm công tác của mình trong quá trình xử lý.  
b. Xử lý giao dịch  
Khi xử lý một yêu cầu cho đến khi ra kết quả, không có sự can thiệp từ ngoài  
vào. Một quá trình như vậy gọi là một giao dịch. Xử lý giao dịch thích hợp với những  
tiến trình có nhiều khâu độc lập với nhau để kiểm tra và xử lý thông tin. Ví dụ. Thủ  
tục rút tiền ATM là một dạng xử lý giao dịch  
Có thể lưu ý rằng một quá trình xử lý tương tác I là một dãy các giao dịch Ti  
(i = 1.. n), trong đó kết quả ra của giao dịch Tj, cùng với các thông tin bổ sung và  
quyết định đưa ra từ phía con người sẽ là đầu vào cho giao dịch Tj+1.  
c. Xử lý theo lô  
Còn gọi là xử lý trọn gói. Mỗi khi thông tin đến (hay khi yêu cầu xử lý xuất  
hiện), thì chưa được đem xử lý ngay, mà được gom lại cho đủ một số lượng nhất định  
(một lô hay một mẻ) mới được đem xử lý một cách tập thể. Là tiến trình tập hợp  
những thông tin sẵn có hoặc tạo ra thông tin mới theo định kỳ hàng tháng, hằng tuần.  
Xử lý theo lô thường áp dụng cho các xử lý mà việc truy cập thông tin diễn ra  
định kỳ (hàng tuần, hàng tháng..), khuôn dạng dữ liệu hoàn toàn xác định, thông tin  
thường khá ổn định trong hai lần xử lý liên tiếp. Các thống kê, các kết xuất, các báo  
cáo được xử lý theo lô thường in các chứng từ với khối lượng lớn (ví dụ in hoá đơn  
tiền điện, in thẻ thư viện cho sinh viên).  
d. Xử lý trực tuyến  
Hay còn gọi là xử lý trên dòng. Khi thông tin đến được đem xử lý ngay lập tức,  
một cách cá thể và bất kể vào lúc nào. Ví dụ: Dịch vụ gởi tiền tại ngân hàng, cách xử  
lý tại phòng bán vé máy bay, tàu hoả…  
Đặc trưng của xử lý trực tuyến là việc truy cập thông tin diễn ra hoàn toàn ngẫu  
nhiên, khuôn dạng và kiểu thông tin không hoàn toàn xác định, thông tin thay đổi liên  
 
tục, ngay trong khi thực hiện xử lý. Loại xử lý này thường áp dụng cho việc hiển thị,  
sửa chữa nội dung các tệp dữ liệu, phục vụ các giao dịch có khối lượng không nhiều,  
các giao dịch cần được thực hiện tại chỗ và cần có trả lời ngay (ví dụ bán vé máy bay).  
1.3. Sự phát triển hệ thống thông tin  
1.3.1. Tại sao một tổ chức cần phát triển hệ thống thông tin  
Việc xây dựng hệ thống thông tin thực sự là một giải pháp cứu cánh trong cuộc  
cạnh tranh cùng các đối thủ của nhiều doanh nghiệp và nó được xem đó là một giải  
pháp hữu hiệu cho nhiều vấn đề mà tổ chức gặp phải.  
Thực tế cho thấy một tổ chức thường xây dựng hệ thống thông tin khi họ gặp  
phải những vấn đề làm cản trở hoặc hạn chế không cho phép họ thực hiện thành công  
những điều mong đợi, hay muốn có những ưu thế mới, những năng lực mới để có thể  
vượt qua những thách thức và chớp cơ hội trong tương lai hoặc do yêu cầu của đối tác  
Xây dựng hệ thống thông tin không đơn thuần chỉ là một giải pháp kỹ thuật. Nó  
là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể phát triển tổ chức, tức là cần  
được tiến hành đồng thời, đồng bộ với nhiều giải pháp khác. Vì vậy cần có một tiến  
trình chuyển dịch tổ chức cả về mặt tổ chức và quản lý từ trạng thái hiện tại đến một  
trạng thái tương lai để thích hợp với một hệ thống thông tin mới được thiết lập.  
1.3.2. Những nội dung cơ bản của việc phát triển hệ thống thông tin  
Ba vấn đề lớn liên quan đến quá trình phát triển một hệ thống thông tin là  
Các hoạt động phát triển một hệ thống thông tin và trình tự thực hiện  
chúng (được gọi là phương pháp luận phát triển hệ thống)  
Các phương pháp, công nghệ và công cụ được sử dụng  
Tổ chức và quản lý quá trình phát triển một hệ thống thông tin quản lý  
Sau đây sẽ trình bày lần lượt các nội dung này.  
a. Tiến hóa của cách tiếp cận phát triển httt  
Phát triển hệ thống thông tin dựa trên máy tính bắt đầu từ những năm 1950.  
Cho đến nay đã hơn 50 năm phát triển. Nhiều công nghệ mới về phần cứng, phần  
mềm không ngừng phát triển, nhiều vấn đề mới của thực tế luôn luôn đặt ra. Vì vậy  
cách tiếp cận để phát triển một hệ thống thông tin cũng thay đổi. Ta có thể kể đến bốn  
cách tiếp cận chính để phát triển một hệ thống thông tin:  
Tiếp cận hướng tiến trình  
Tiếp cận hướng dữ liệu  
 
Tiếp cận hướng cấu trúc  
Tiếp cận hướng đối tượng  
Trừ cách tiếp cận đầu tiên, mỗi cách tiếp cận sau đều gắn với việc giải quyết  
những vấn đề đặt ra và sự phát triển của một công nghệ mới.  
b. Tiếp cận định hướng tiến trình  
Thời gian đầu khi máy tính mới ra đời, tốc độ máy rất chậm, bộ nhớ làm việc  
còn rất nhỏ nên người ta tập trung vào các quá trình mà phần mềm phải thực hiện. Vì  
vậy, hiệu quả xử lý của các chương trình trở thành mục tiêu chính. Tất cả sự cố gắng  
lúc đó là tự động hóa các tiến trình đang tồn tại (như mua hàng, bán hàng…) của  
những bộ phận chương trình riêng rẽ.  
Lúc này người ta đặc biệt quan tâm đến thuật toán (phần xử lý) để giải được bài  
toán đặt ra và cách sử dụng khéo léo bộ nhớ làm việc rất hạn hẹp. Các dữ liệu được tổ  
chức trong cùng một file với chương trình.  
Sau này, với sự tiến bộ về khả năng lưu trữ, các file dữ liệu được tổ chức tách  
biệt với chương trình. Mặc dù vậy, thiết kế một HTTT vẫn dựa trên trình tự mà nó sẽ  
thực hiện. Đối với cách tiếp cận này, phần lớn các dữ liệu được lấy trực tiếp từ các  
nguồn của nó qua từng bước xử lý. Những phần khác nhau của HTTT làm việc theo  
những sơ đồ khác nhau và tốc độ khác nhau. Kết quả là, tồn tại một số file dữ liệu tách  
biệt trong những ứng dụng và chương trình khác nhau, và dẫn đến có nhiều file trong  
những ứng dụng khác nhau có thể chứa cùng các phần tử dữ liệu như nhau.  
Hình 0-4. Mối quan hệ giữa dữ liệu và ứng dụng theo cách tiếp cận truyền thống  
Nhược điểm của cách tiếp cận này là mỗi khi một phần tử riêng lẻ thay đổi hay  
có sự thay đổi trong một tiến trình xử lý kéo theo phải thay đổi các file dữ liệu tương  
ứng. Việc tổ hợp các file dữ liệu chuyên biệt rất khó khăn, vì mỗi file mang tên và  
định dạng dữ liệu khác nhau. Cách tiếp cận này tạo ra sự dư thừa dữ liệu, hao phí rất  
nhiều công sức cho việc thu thập và tổ chức dữ liệu, và các dữ liệu sử dụng kém hiệu  
quả do không thể chia sẻ giữa các ứng dụng với nhau. Do các nhược điểm trên nên  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 125 trang Thùy Anh 21061 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình nghề Kỹ thuật lắp ráp, sửa chữa máy tính - Môđun: Phân tích thiết kế hệ thống thông tin", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nghe_ky_thuat_lap_rap_sua_chua_may_tinh_modun_pha.pdf