Đông y Việt Nam thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945)
63
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
(TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NĂM 1945)
MAI THỊ MỸ VỊ*
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945), hệ thống Tây y được bảo hộ, y học cổ
truyền của Việt Nam bị chính quyền thuộc địa không ngừng hạn chế và tìm cách
loại bỏ. Tuy nhiên, y học cổ truyền, hay còn gọi là Đông y, vẫn được người dân
tín nhiệm và đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của người
dân. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích sử liệu và cách tiếp cận của lịch
sử y tế để tìm hiểu tình hình hoạt động Đông y dưới thời Pháp thuộc. Đặc biệt là
hoạt động Đông y dưới tác động của những chính sách, quy định về y tế được
ban hành của chính quyền thuộc địa Pháp.
Từ khóa: Đông y, chính sách y tế, thời Pháp thuộc, nửa đầu thế kỷ XX
Nhận bài ngày: 31/7/2021; đưa vào biên tập: 2/8/2021; phản biện: 29/8/2021; duyệt
đăng: 9/9/2021
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
dịch bệnh hoành hành ở Viễn Đông
ảnh hưởng đến người Pháp và người
bản xứ, đồng thời mở rộng ảnh
hưởng văn hóa Pháp đến vùng đất
này. Cùng với việc mở rộng và phổ
biến hệ thống y tế phương Tây ở Việt
Nam, các hình thức khám chữa bệnh
cổ truyền, trong đó có y học truyền
thống bị xem nhẹ và bị kìm hãm.
Chính quyền thuộc địa đã ban hành
nhiều quy định và điều luật hà khắc
nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động
của các loại hình y học truyền thống ở
Việt Nam. Mặc dù luôn trong tình
Cuối những năm 1880, sau khi chiếm
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, người
Pháp muốn xây dựng một chiến lược
gọi là “sứ mệnh khai hóa” để biện
minh sự hiện diện của mình, và y tế
được xem như là sự hỗ trợ cần thiết
cho quá trình thực dân hóa. Họ đã
thiết lập hệ thống y tế hiện đại theo
mô hình phương Tây để nghiên cứu
khoa học về bệnh lý và điều trị các
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
64
trạng bị chính quyền thuộc địa không Trước khi Pháp thiết lập chế độ thuộc
địa và bảo hộ ở Việt Nam, nền y học
phổ biến nhất ở Việt Nam là Đông y
(thuốc Bắc), nền y học chịu ảnh
hưởng của Trung Quốc, và y học cổ
truyền Việt Nam (thuốc Nam), được
phổ biến trong dân chúng thông qua
sự truyền miệng, qua kinh nghiệm
chữa bệnh trong các gia đình. Nhìn
chung, cả hai hình thức chữa bệnh và
điều trị theo Đông y ít nhiều tuân theo
quy tắc, phương pháp chữa trị và
dùng nhiều nguyên liệu thuốc giống
nhau. Về sau, khi Tây y phổ biến ở
Việt Nam, sự phân biệt thuốc Bắc,
thuốc Nam không nhiều so với sự
khác biệt Đông - Tây nên cả hai đều
được gọi chung là Đông y.
ngừng hạn chế và tìm cách loại bỏ, y
học truyền thống vẫn duy trì sức sống
bền vững trong thời kỳ này.
Trong bài viết này, tác giả chủ yếu
dựa vào các ghi chép về các tổ chức
y tế dưới triều Nguyễn trong các tác
phẩm như Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ hay Đại Nam nhất thống
chí; báo cáo về luật pháp liên quan
đến y tế, báo cáo hoạt động thương
mại liên quan đến dược phẩm Tây y,
dược liệu Đông y… của chính quyền
thuộc địa; và các công trình nghiên
cứu trong nước, nước ngoài về dược
phẩm, dược liệu và y tế của Việt Nam
thời Pháp thuộc để tổng hợp và phân
tích làm rõ trọng tâm. Bằng phương
pháp phân tích sử liệu và cách tiếp
cận của lịch sử y tế cùng với nguồn tư
liệu nói trên, tác giả đưa ra những
phân tích về vai trò của thuốc men
trong chính sách chăm sóc sức khỏe
của Pháp ở Việt Nam. Trong đó đề
cập đến tình hình hoạt động của
Đông y trong bối cảnh thuộc địa, đặc
Từ lâu, nền y học của Trung Quốc
(Đông y) đã được các triều đại Việt
Nam tiếp thu và xem là dòng y học
chính thống. Mặc dù Đông y là một bộ
phận quan trọng trong xã hội Việt
Nam khi đó, nhưng nền y học này
chưa bao giờ được thể chế hóa như
một hệ thống đào tạo chính thức hoặc
biệt là những ảnh hưởng của các truyền thụ kiến thức trong các triều đại
chính sách ban hành của chính
quyền thuộc địa Pháp. Bài viết cũng
trình bày chi tiết về bối cảnh dẫn đến
những quyết định ban hành các chính
sách của Pháp đối với Đông y và
những nghịch lý, hạn chế khi thực thi
ở Việt Nam. Qua đó càng thấy rõ
được vai trò quan trọng của Đông y
trong đời sống của người dân Việt
Nam trong nửa đầu thế kỷ XX.
trước đó. Chỉ đến thời Nhà Nguyễn,
với việc thành lập Thái Y viện vào
năm 1823 (được thành lập dưới thời
Gia Long và được hoàn thiện dưới
triều vua Minh Mạng) thì nền y học
này mới thực sự có một hệ thống đào
tạo (cấp Trung ương). Nhiệm vụ chính
yếu của Thái Y viện là khám chữa
bệnh cho nhà vua, hoàng gia, triều
thần và binh sĩ, phòng chống các
bệnh dịch; nghiên cứu và soạn thảo
sách thuốc; đào tạo y sinh (Đỗ Bang,
2. TÌNH HÌNH Y TẾ Ở VIỆT NAM
TRƯỚC KHI PHÁP XÂM LƯỢC
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
65
2020: 108). Vào năm 1829, Quan những Dưỡng tế sở, người dân khi
ốm đau thường nhờ đến “thầy lang”,
người chuyên về thuốc Bắc và thuốc
Nam đến khám và chữa bệnh. Những
“thầy lang” này giữ một địa vị xã hội
rất khó đánh giá (Monnais-Rousselot,
2003: 5).
chức Thái Y viện gồm Viện sứ quan
hàm Chánh tứ phẩm, các ngự y có
Ngự y chính, Ngự y phó, tả, hữu Viện
phán, y sinh (Quốc sử quán triều
Nguyễn, 1992: 54-55). Cuối triều Minh
Mạng, quan chức Thái Y viện có 43
người. Năm 1840, nhà Thái Y viện
được xây dựng 5 gian để các quan
làm việc (Nội các triều Nguyễn, 1993:
421). Đến năm 1856, vua Tự Đức cho
Có thể thấy rằng về cơ cấu nhân sự
cũng như trình độ chuyên môn và
mạng lưới y tế ở địa phương của triều
Nguyễn còn nhiều hạn chế. Khi địa
mở nhà dạy học thuốc của Thái Y viện. phương có dịch bệnh thì Thái Y viện
phải cắt cử người về cùng đội ngũ y tế
ở địa phương để chữa trị cho dân
chúng (Nguyễn Thị Dương, 2017: 21).
Tuy nhiên, các thầy thuốc ở triều đình
nhiều khi cũng tỏ ra bất lực khi phải
chữa trị hàng loạt người trong các trận
dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở thời
Nguyễn do mất mùa đói kém và do
tình trạng kém vệ sinh trong nếp sống
sinh hoạt lúc bấy giờ.
Ở các địa phương cấp trấn tỉnh đạo,
có các cơ quan như Lương y ty và
Dưỡng tế sở để chăm sóc sức khỏe
quan lại, binh sĩ cũng như người dân
sở tại nhưng lực lượng này khá mỏng.
Thông thường ở mỗi tỉnh, số lượng
nhân sự của Lương y ty gồm có 1
Chánh cửu phẩm Y sinh và 10 Y
thuộc, có nơi số Y thuộc chỉ có 5
người, (Viện Sử học, 1993: 173-177).
Trình độ chuyên môn của các nhân Mặc dù nhà Nguyễn có chú trọng đến
phát triển nền y học quốc gia nhưng
không đem lại hiệu quả, còn nhiều
hạn chế, đặc biệt là Đông y, không thể
phát triển thành một hệ thống y tế có
thể đáp ứng được nhu cầu phòng
bệnh và chữa bệnh cho người dân.
Điểm yếu của nền y học này càng bộc
lộ khi Tây y xuất hiện với thế mạnh
của nền y học giải phẫu, chữa bệnh
bằng cách hiểu, trị liệu và đề phòng
các bệnh truyền nhiễm.
viên trong Lương y ty không cao,
trường hợp trấn Sơn Tây khi thiết lập
Lương y ty vào năm 1829 thì “Thị lại
Ty Chiêm hậu là Đỗ Công Hiệu ở trấn
ấy làm Thí sai Y sinh” còn các Y thuộc
thì được chiêu mộ từ dân ngoại tịch
“hơi biết làm nghề thuốc” (Nội các
triều Nguyễn, 1993: 424).
Mỗi tỉnh đều có ít nhất một Dưỡng tế
sở, là nơi chăm sóc cho bệnh nhân và
những người nghèo khổ ở tập trung.
Tuy nhiên do triều đình không cấp đủ
kinh phí và về sau không mấy quan
3. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN
THUỘC ĐỊA PHÁP ĐỐI VỚI ĐÔNG Y
tâm nên các Dưỡng tế sở hoạt động Những năm đầu thế kỷ XX, song song
không hiệu quả và không đạt kết quả với việc thiết lập hệ thống y tế theo
như mong muốn đề ra lúc đầu. Ngoài
mô hình phương Tây, chính quyền
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
66
thuộc địa cho giải tán hệ thống tổ thống của Việt Nam vẫn thường bị
chức y tế của nhà Nguyễn ở Việt Nam.
Các hình thức khám chữa bệnh cổ
truyền, trong đó có Đông y bị xem nhẹ.
Nhà chức trách thuộc địa thể hiện thái
độ kỳ thị, đồng thời ban hành nhiều
quy định nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt
động khám chữa bệnh theo Đông y.
các quan chức chính quyền thuộc địa
và các bác sĩ thuộc địa tố cáo là “chủ
nghĩa kinh nghiệm thô thiển”, và
được thực hiện bởi những lang băm
vô lương tâm, những người gây nguy
hiểm cho sức khỏe của người dân
thuộc địa (Monnais-Rousselot, Thompson,
Wahlberg, 2012: 8). Đông y được cho
là lạc hậu trong bối cảnh thuộc địa,
nơi y học phương Tây được coi là
chìa khóa của sự tiến bộ. Cụ thể,
chính quyền thuộc địa và các bác sĩ
Pháp cho rằng việc bào chế thuốc ở
Việt Nam không đảm bảo vệ sinh vì
không được thông qua bất kỳ các
khâu phân tích hay kiểm định nào.
Các dược sĩ bào chế thuốc không có
một bằng cấp nào cụ thể và các
nguyên tắc trong việc bảo đảm vệ sinh
cho dược liệu không được xem trọng.
3.1. Thái độ của chính quyền Pháp
đối với Đông y
Đối với chủ nghĩa thực dân, y học là
một công cụ “khai hóa” quan trọng
trên khắp các đế chế thuộc địa của
phương Tây trong thế kỷ XIX và XX.
Tại Việt Nam, “sứ mệnh văn minh”
này đã trở thành chính sách chính
thức với việc thực hiện chính sách y
tế bản địa vào năm 1905. Trong năm
này, Toàn quyền Đông Dương Paul
Beau chính thức thành lập kế hoạch
gọi là Hỗ trợ y tế bản địa (Assistance
Médicale Indigène - AMI) nhằm phục Một bác sĩ nước ngoài đã viết: “Ít nhất
vụ nhu cầu y tế cho người dân, nhưng
theo mô hình y tế của Pháp. Hỗ trợ y
tế bản địa như một phương tiện thúc
đẩy để đưa nền văn minh, bằng con
đường theo cải cách y tế đến thuộc
địa. Ưu tiên của kế hoạch này là
phòng ngừa tập thể, tập trung vào
công tác chống các dịch bệnh đặc
hữu lưu hành (đậu mùa, dịch tả, dịch
hạch, sốt rét), và giáo dục vệ sinh
(Monnais-Rousselot, 2003: 3).
một nửa trong thành phần của thuốc
nước và thuốc viên Trung Hoa là cáu
và bụi bẩn” (dẫn theo Bùi Thị Hà,
2014: 59-60). Điều này hoàn toàn
khác biệt so với nước Pháp, nơi mà
những ngành nghề này đã được hệ
thống hóa nghiêm ngặt và lĩnh vực
hành nghề y cũng được xác định rõ
ràng trong suốt thế kỷ XIX. Một đạo
luật của Pháp được thiết lập vào năm
1803 đã quy định về việc đào tạo và
thực hành dược phẩm, trong đó các
quy tắc bào chế và bán thuốc (quy
định về việc chuẩn bị thuốc tại các
hiệu thuốc và nhà sản xuất theo
chuẩn trong luật về thuốc của Pháp)
(Monnais-Rousselot, 2003: 5). Các
Với sự thống trị của nền y học độc
quyền của Pháp đã thực sự hạn chế
quyền tự do tồn tại và hoạt động của
các “thầy lang” Việt Nam (Monnais-
Rousselot, Thompson, Wahlberg, 2012:
8). Đến những năm 1930, y học truyền
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
67
nhà chức trách y tế của Pháp bấy giờ qua trường lớp đào tạo bài bản y
coi các phương pháp chữa bệnh bí dược học. Nếu một thầy thuốc kiêm
truyền là mối đe dọa lớn đối với sức luôn công việc kê đơn, bốc thuốc thì
khỏe cộng đồng. Cho nên trong bộ còn có thể chấp nhận được. Nhưng
luật về thuốc còn có một số văn bản một người bán thuốc tự coi mình có
nhằm kiểm soát việc bán các phương khả năng chữa bệnh, kê đơn thuốc
thuốc bí truyền, tức là những loại như một thầy lang thì họ quá coi
thuốc không được nêu trong luật, thường mạng sống của người dân và
không được công bố hợp pháp và coi thường ngành y. Và đó là nguy cơ
không được mua hoặc phân phối lớn nhất của ngành y học cổ truyền.
công khai bởi chính phủ thì sẽ không Nếu được hiểu và hành nghề theo
được điều chế cho từng bệnh nhân cụ cách này thì bất kỳ ngành y nào cũng
thể theo đơn của bác sĩ hoặc nhân sẽ trở hành một mối hiểm họa đối với
viên y tế. Và mỗi loại thuốc chữa bách xã hội (dẫn theo Bùi Thị Hà, 2014: 60).
bệnh mới phải nhận được sự cho
phép từ Học viện Y khoa để được bán
bởi người phát minh ra nó (Monnais-
Rousselot, 2003: 5). Thời kỳ này ở
Việt Nam không hệ thống giáo dục
nào xác định bằng cấp hành nghề hay
đặc quyền của thầy thuốc. Ở trung
ương, có tổ chức sát hạch quan chức
Từ những kết luận về những nghịch lý
và yếu kém trong việc chăm sóc sức
khỏe của Đông y như vậy nên chính
quyền Pháp cho rằng cần phải đẩy
mạnh việc du nhập y học phương Tây
vào Việt Nam. Đồng thời kiểm soát
chặt chẽ đối với những người hành
nghề Đông y ở Việt Nam và cả việc
Thái Y viện để tìm ra thầy thuốc giỏi, sử dụng và phân phối các sản phẩm
được coi là độc hại; việc cố định các
công thức pha trộn và liều lượng cho
các loại thuốc trong Đông y.
còn ở địa phương, các dược sĩ Đông
y không được đào tạo bài bản và
không phân thành các chuyên khoa.
Trong khi các sinh viên y khoa
phương Tây phải mất nhiều năm học
tập, nghiên cứu thì các thầy lang ở
đây chỉ cần học từ 1 đến 2 năm, có
khi không học hành gì và một ngày
nào đó tự nhiên trở thành thầy thuốc
(dẫn theo Bùi Thị Hà, 2014: 60). Họ
chỉ cần biết tên và phân biệt được các
loại thuốc là có thể mở cửa hàng bán
thuốc. Những thầy thuốc người bản
xứ bị gọi là lang băm (Charlatan), họ
chỉ chữa bệnh theo kinh nghiệm và
cảm tính và không trải qua, hoặc ít
3.2. Một số nghị định hạn chế sự
hoạt động của Đông y
Nhằm hạn chế hoạt động của y học
truyền thống, các nhà chức trách
Pháp đã đưa ra rất nhiều luật lệ về
thuốc và hành nghề y dược ở Việt
Nam. Họ muốn áp đặt tại đây một lối
suy nghĩ về bệnh tật, cách phòng
ngừa và cách chữa bệnh mới theo
Tây y, đồng thời xây dựng một quá
trình chuyên nghiệp hóa về y dược ở
xứ này. Ngoài ra, không thể không kể
đến những người trong ngành công
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
68
nghiệp dược phẩm Châu Âu cũng tìm Đông y cũng như không được dùng
cách mở rộng sản xuất bằng cách
dựa vào chính quyền thuộc địa và
chính sách y tế của họ.
với số lượng lớn ở Việt Nam (Monnais-
Rousselot, 2003: 8).
Năm 1914, “Quy chế buôn bán của các
Khởi điểm cho việc ban hành các điều hiệu thuốc và dược liệu Đông y ở Đông
luật cấm đoán với Đông y dược là sau Dương” (Réglementation du Commerce
vụ Hà Thành đầu độc năm 1908(1). des officines et des médicaments
Đối với chính quyền thuộc địa, vụ đầu Sino-Vietnamiens(2) en Indochine) được
độc năm 1908 cho thấy rằng các ban hành. Quy chế này tập trung vào
nguồn dược liệu bản địa có thể trở yêu cầu tối thiểu mà người Pháp cho
thành một thứ vũ khí được sử dụng là cần phải có để có một hiệu thuốc có
để chống lại chế độ thuộc địa và nhà thể hoạt động, đó là hiệu thuốc cần
chức trách của Pháp ở đây. Sau vụ phải có sự cấp phép hoạt động cũng
Hà Thành vài tháng, một điều luật về như quyền sở hữu, đồng thời phải có
thuốc được ban hành. Điều luật năm sự quy định về chất độc hại trong
1908 đã áp đặt một hệ thống kiểm tra dược liệu. Những chất này phải được
thống nhất hàng năm đối với tất cả liệt kê trong sổ đăng ký đặc biệt, và
các địa điểm sản xuất và bán thuốc được bán độc quyền khi có đơn thuốc
Tây y và Đông y, cho phép “kiểm tra của bác sĩ, liều lượng vừa phải và
chất lượng sản phẩm ... [thu giữ thuốc danh sách các sản phẩm đó rất ngắn
giả, nghi ngờ và không được phép (dẫn lại Monnais-Rousselot, 2003: 8).
thuốc men, [thu thập] mẫu để phân Quy chế này bị bác bỏ vì sự phản đối
tích sau này” và, nếu cần, phạt tù đối của Tiến sĩ Paul-Louis Simond, Tổng
với những người phạm tội bị kết tội Thanh tra Dịch vụ Y tế Đông Dương,
(CAOM, Gougal, dossier 17165). Mục người am hiểu khá rõ về Đông Dương.
tiêu chính của điều luật này là kiểm Ông phản đối ý tưởng đưa ra những
soát việc mua bán các chất độc hại hạn chế nghiêm trọng đối với các hoạt
nhằm tránh tình trạng đầu độc. Tuy động y tế địa phương, cho rằng “nhiều
nhiên, điều luật này khó thực thi vì loại thuốc mà chúng tôi tìm thấy trong
không phù hợp với tình hình thực tế dược điển Châu Âu cũng có trong
tại Việt Nam. Theo một tài liệu được dược điển bản địa” (CAOM, Gougal,
đưa ra vào tháng 7/1908 đã thiết lập dossier 17172) và các hiệu thuốc
một danh sách các chất nguy hiểm, Đông y có thể hữu ích trong việc phổ
không được phép mua hoặc bán bởi biến những lợi ích của một số loại
các dược sĩ và bác sĩ trị liệu bản xứ, thuốc Châu Âu đang được sử dụng
nhưng những chất này được đặt tên hiện tại ở xứ này. Mặc dù những ý
theo tiếng Pháp gây khó hiểu cho kiến của Simond cho thấy một thái độ
người Việt Nam, và chúng cũng không cởi mở hơn đối với các phương pháp
được sử dụng trong các vị thuốc trị liệu của người bản xứ, thì sự công
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
69
nhận chính thức vai trò của y tế bản Toàn quyền Đông Dương ra nghị
định ấn định các điều kiện buôn bán
và hành nghề thuốc Bắc, thuốc Nam
nhằm hạn chế hai nghề này ở Việt
Nam: Cấm sử dụng tất cả các máy
móc dành cho bào chế Âu dược;
Cấm sử dụng hóa chất; Đông y sĩ
nào muốn cấp thuốc cho bệnh nhân
phải theo điều kiện hành nghề của
Viện Dược (Hồ Đắc Duy - Bùi Văn Quế,
1998: 21).
xứ vẫn chưa bắt đầu.
Từ năm 1920 đến năm 1937, một loạt
các phán quyết khác nhằm kiểm soát
hoạt động của Đông y được ban
hành. Cụ thể, vào năm 1920, chính
quyền thuộc địa đã ra nghị định hạn
chế số lượng thầy thuốc Đông y ở
Nam Kỳ, cho phép không quá 500
người hoạt động (dẫn theo Bùi Thị
Hà, 2019: 147). Ngày 24/2/1936, Toàn
quyền Đông Dương Jean Decoux
ban hành quy định về hành nghề y ở
xứ thuộc địa, trong đó có nhiều quy
định hạn chế sự hoạt động của Đông
y. Ngày 15/6/1937, Sở Y tế Nam Kỳ
ra quy định cấm các cơ sở Đông y sử
dụng các loại dược chất có độc tính.
Lúc này giới Đông y Nam Kỳ đã đưa
ra kiến nghị Sở Y tế nên quy định cụ
thể loại hóa chất nào được sử dụng
và loại hóa chất nào thì cấm sử dụng
(dẫn theo Đỗ Hồng Ngọc, 2001: 30).
Nhiều phán quyết đưa ra khá hà khắc,
còn mang nhiều bất cập cho nên việc
thi hành các phán quyết này cũng bị
trì hoãn hoặc đình chỉ. Trong mỗi
trường hợp, các phán quyết đưa ra
đã gặp phải sự phản ứng của người
dân dường như đã khiến chính quyền
Pháp phải lùi bước trong nỗ lực kiểm
soát các hiệu thuốc Đông y. Vì vậy,
đến năm 1939, Toàn quyền Đông
Dương lại ra quyết định cho phép
giới Đông y sử dụng các chất có độc
tính nhưng yêu cầu giới y sĩ Đông
phải chịu trách nhiệm phần hình lẫn
phần hộ (dẫn theo Đỗ Hồng Ngọc,
2001: 30). Ngày 17/7/1943, De Coux -
Với mục đích xây dựng một hệ thống
tổ chức y tế theo kiểu phương Tây ở
Việt Nam và Đông Dương nói chung,
chính quyền thuộc địa đã đặt ra
những hạn chế ngày càng hà khắc đối
với thuốc cổ truyền và y học cổ truyền.
Mỗi năm chính quyền thuộc địa đưa ra
rất nhiều quy định hà khắc và tưởng
tượng khó có thể thực thi được. Tầm
nhìn và những chính sách mà Pháp
triển khai nhằm hạn chế hoạt động
của y học truyền thống của Việt Nam
dường như không phù hợp với ý định
ban đầu của các nhà chức trách Pháp
là đưa ra một chính sách chăm sóc
sức khỏe tối ưu cho những người dân
thuộc địa. Điều này cũng cho thấy sự
mơ hồ đặc trưng cho sự hiểu biết của
phương Tây về giá trị của y học cổ
truyền và Đông y, các phương pháp trị
liệu và chữa bệnh.
4. NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG THỰC
THI CHÍNH SÁCH VÀ TÌNH HÌNH
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG Y THỜI
PHÁP THUỘC
4.1. Quá trình “tái khám phá” Đông
y và những hạn chế về tiềm lực y tế
phương Tây ở Việt Nam
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
70
Có một điều nghịch lý là trong suốt Đông y, rốt cuộc, đều là những kẻ giả
thập niên 1920, đồng thời với việc
chính quyền thuộc địa đặt ra những
quy định, những hạn chế ngày càng
hà khắc đối với y học cổ truyền, họ
cũng bắt đầu “tái khám phá” giá trị
tiềm năng của dược liệu tại địa
phương. Lý do đầu tiên cho sự “tái
khám phá” này xuất phát từ sự quan
tâm nhất định của người Pháp với
Đông y và y học truyền thống của Việt
Nam. Sự quan tâm này đã bắt đầu từ
nửa sau thế kỷ XIX. Mối quan tâm này
mang tính chất khoa học thuần túy, là
một phần trong phong trào rộng lớn
mà các nhà văn Pháp ghi nhận tiềm
năng của một số loài thực vật địa
phương và khám phá ra sự đa dạng
sinh học đáng kinh ngạc của Việt Nam
(CAOM, Gougal, dossier 9831, 9848).
Mối quan tâm này là cơ sở của một
phong trào khác đã hình thành trong
thập niên 1920 trở đi, phong trào
hướng tới việc khám phá rộng rãi hơn
về y học địa phương và tiềm năng
điều trị của nó.
mạo hay đầu độc; một số thậm chí
còn có kiến thức hữu ích (Monnais-
Rousselot, Tousignant, 2006: 17). Một
số bác sĩ người Pháp(3), thậm chí đã
gần thừa nhận mối quan tâm đến y
học địa phương. Bởi vì, trong một số
phương pháp điều trị phương Tây
dường như không có khả năng chữa
khỏi cho bệnh nhân. Cụ thể trong bối
cảnh chính sách chăm sóc sức khỏe
được “nhân đạo hóa” vào những năm
1920 và những năm 1930, những
bệnh nhân mắc bệnh phong đã khiến
một số bác sĩ Tây y ở thuộc địa yêu
cầu sự giúp đỡ của các nhà trị liệu
truyền thống (CAOM, RST NF dossier
3823).
Những trường hợp phải nhờ đến
phương pháp trị liệu của y học truyền
thống như vậy thực tế đã diễn ra
thường xuyên trước năm 1930, nhưng
phải đến những năm 1930, nhiều bác
sĩ người Pháp mới thừa nhận. Ở một
góc độ nào đó, việc tiếp xúc nhiều với
môi trường nhiệt đới Việt Nam đã dạy
cho một số bác sĩ phương Tây sự
khiêm tốn nhất định, và họ thừa nhận
rằng thuốc Tây không phải lúc nào
cũng có hiệu quả với bệnh nhân địa
phương, mà một số sản phẩm trong
kho thuốc điều trị của họ thậm chí có
thể gây nguy hiểm cho người dân
(dẫn lại Monnais, Laurence, 2003: 8).
Sự thừa nhận đối với Đông y đã phần
nào giải thích sự thất bại luật pháp
của chính quyền thuộc địa về thuốc
men, và xung đột với thái độ xem
thường của họ đối với y học truyền
Thực tế, các chuyên gia Tây y hành
nghề tại Việt Nam phải chịu nhiều hạn
chế thực tế như: ngân sách thiếu và
không đủ, cơ sở vật chất, nhân sự,
thuốc men thiếu nhất quán và thiếu
thông tin khoa học đầy đủ về các bệnh
nhiệt đới và triệu chứng đặc thù của
nó (Monnais-Rousselot, Thompson,
Wahlberg, 2012: 9). Trong một bài
diễn văn của Tổng Thanh tra Sở Y tế
vào những năm 1930 đã phản ánh
tiềm năng trị liệu của y học truyền
thống: “không phải tất cả các dược sĩ
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
71
thống từ những năm 1920 như chúng được thực hiện về chủ đề này trong
một thư viện trung tâm để các học giả
có thể tiếp cận được” (CAOM, Gougal
SE, C49 c2 (2)).
tôi đã dẫn chứng ở trên.
Nhằm tìm hiểu rõ về y dược học
truyền thống Việt Nam, vào năm 1933,
Tổng Thanh tra Vệ sinh và Y tế công
cộng (Inspection Générale de l’Hygiène
et de la Santé Publique) thành lập Ủy
ban Nghiên cứu dược liệu Đông y.
Đây là một tổ chức được đánh giá là
không thể thiếu trong việc soạn thảo
một văn bản pháp luật phù hợp, và
trên hết là một sáng kiến thực tế
trong nỗ lực kiểm soát ngành dược
liệu của y học truyền thống và Đông y.
Đến năm 1938, một Ủy ban điều tra
thứ hai đã giao cho một Tiểu ban
nhiệm vụ nghiên cứu lại quy định về
các chất độc hại (CAOM, Gougal SE,
C49 c 2 (2)). Một trong những báo
cáo được trình bày cho tiểu ban
nghiên cứu câu hỏi về quy chế dược
liệu Đông y năm 1938 đưa ra kết
luận:
Những điều nêu trên chứng tỏ các bác
sĩ Tây y và những nhà chức trách
thuộc địa đã thừa nhận rằng có nhiều
hiểu biết về các hoạt động y tế địa
phương sẽ giúp chống lại các lang
băm địa phương cũng như giáo dục
tốt hơn và Tây hóa các bệnh nhân
bản xứ (Monnais-Rousselot, 2003: 18).
Bên cạnh đó việc đưa vào giảng dạy
một khóa học về Đông y tại Trường Y
khoa Hà Nội vào năm 1938 nhằm đào
tạo một đội ngũ bác sĩ bản xứ, hạn
chế hoạt động của các lang băm.
Ngoài nhu cầu tìm hiểu về giá trị chữa
bệnh, lý do khiến người Pháp quan
tâm đến dược liệu Đông y là vì giá
thành của dược phẩm. Các dược
phẩm, các chất được các bác sĩ và
dược sĩ Pháp ở Đông Dương sử dụng
“- Kết hợp một số sản phẩm và một số thường được nhập khẩu trực tiếp từ
loại thực vật bản địa vào dược phẩm
phương Tây;
Pháp. Vì thế, các nguyên liệu đó đắt
tiền và thường xuyên không có sẵn,
ngay cả những sản phẩm cần thiết
nhất: một số báo cáo y tế cấp tỉnh cho
thấy vấn đề nguồn cung này là kẻ thù
số một của các dược sĩ và bác sĩ làm
việc ở đó (Monnais-Rousselot, 2003:
20). Nguồn cung dược phẩm này
không chỉ phụ thuộc vào chất lượng
vận chuyển mà còn liên quan đến chất
giả và thậm chí khí hậu nhiệt đới - gây
khó khăn trong khâu bảo quản thuốc.
- Trồng trọt và thu hoạch cây thuốc
với số lượng công nghiệp, nhằm xây
dựng một nguồn tài nguyên mới cho
Đông Dương, nơi hiện đang nhập
khẩu 80% nhu cầu từ Trung Quốc.
- Nghiên cứu một cách hệ thống về
dược liệu Đông y với thái độ khách
quan khoa học cần thiết, để sinh viên
ngành y hoặc dược có thể tận dụng
lợi thế – nhưng cũng tránh được
những nguy hiểm – của dược lý này.
Và một điều quan trọng khác, đó là giá
- Bản dịch các cuốn sách về y học thành của thuốc Tây luôn cao và khó
tiếp cận hơn dược liệu của địa
Trung Quốc, tích lũy công việc đã
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
72
phương. Thực tế, có những bệnh thôn và những người có địa vị xã hội
nhân ở Việt Nam sẵn sàng tiếp cận khiêm tốn. Ngay cả khi họ hoàn toàn
với người chuyên về bốc thuốc tại địa tin tưởng vào các đệ tử của Claude
phương và có thể yêu cầu bốc cho họ Bernard và Marcelin Berthelot, những
những gì họ muốn, và không nhất thư ký khiêm tốn của chúng tôi, những
thiết phải hỏi ý kiến bác sĩ. Nhưng người kiếm được 40-60 piastres mỗi
ngược lại sẽ càng khó khăn hơn đối tháng sẽ từ chối trả 3-5 piastres cho
với người bệnh bản xứ khi tìm đến một lần đến phòng khám. Đồng thời,
một dược sĩ người Pháp. Đầu tiên là những người dân nông thôn sẽ
sẽ giới thiệu những sản phẩm mà không tự mình đi một vòng 100km để
người bệnh hiếm khi biết đến, những được chữa trị bởi những loại chuyên
sản phẩm đắt tiền hơn và đặc biệt nghiệp vốn chỉ có ở các tỉnh lẻ, nếu
dược sĩ sẽ yêu cầu phải có đơn thuốc không phải ở thủ đô Sài Gòn hay Hà
của bác sĩ (CAOM, Gougal, dossier Nội”(5).
17171). Những vấn đề này đã khiến
cho các bác sĩ Pháp yêu cầu thành
khám phá” này được thúc đẩy bởi một
lập một ngành công nghiệp dược liệu
Thực tế cho thấy rằng phong trào “tái
số nhu cầu về khoa học, chính trị cũng
thô sơ của địa phương và sử dụng
như kinh tế và xuất phát từ yêu cầu
các phương thuốc địa phương được
thực tiễn. Và tất nhiên, phong trào này
người bản xứ tin tưởng vì tính hiệu
còn vì nhu cầu của ngành dược phẩm
quả của chúng (dẫn lại Monnais-
Pháp trong cuộc cạnh tranh với các
Rousselot, 2003: 20). Vào cuối những
nước về tìm kiếm các chất có thể
năm 1930, một số bài viết xuất hiện
được sản xuất, chiết xuất, hoặc phân
trên báo chí ở Đông Dương đã đồng
phối theo cách kinh tế nhất. Tuy nhiên,
loạt minh họa những trở ngại này. Tờ
thực tế phong trào này xảy ra trong
La Tribune Indochinoise (Diễn đàn
bối cảnh các điều luật về y tế của
Đông Dương), số ra ngày 27/7/1938
chính quyền thực thi không đạt hiệu
có bài Vận động ủng hộ Đông y minh
quả, những áp lực chính trị do một số
chứng khả năng tiếp cận thuốc Tây y
nhóm lợi ích nhất định quan tâm khi
của người bản xứ: “Sự biến mất của
thấy dược liệu Đông y tiếp tục tồn tại.
những người chữa bệnh thường
4.2. Ảnh hưởng của những người
kinh doanh và hành nghề Đông y ở
Việt Nam
được gọi là lang băm không nhất
thiết sẽ dẫn đến sự gia tăng số lượng
những người theo phương pháp
Pasteurian(4)… Nhiều trở ngại hiện
đang cản đường - và sẽ tiếp tục như
vậy - về sự chấp nhận rộng rãi các
phương pháp trị liệu ở Châu Âu trong
Các điều luật về thuốc của chính
quyền đã ít nhiều ảnh hưởng đến lĩnh
vực kinh doanh thuốc của các thương
nhân bản địa, dẫn đến sự can thiệp và
số đông đảo đồng bào của chúng ta, tranh luận về việc bác bỏ luật pháp
đặc biệt là những người sống ở nông của chính quyền thuộc địa liên quan
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
73
đến lĩnh vực hành nghề của họ. Trước kiến của các thầy thuốc cổ truyền đấu
khi Pháp đầu tư và khai thác ở Việt
Nam, hoạt động sản xuất và buôn bán
thuốc rất sinh lợi, đặc biệt là đối với
cộng đồng người Hoa, phần lớn ở Sài
Gòn - Chợ Lớn, Hà Nội, Hải Phòng.
Bên cạnh đó, một số tờ báo quốc ngữ
ra đời, tham gia quảng cáo về thuốc
men và các vấn đề về sức khỏe, như
Phụ nữ tân văn, Nam phong(6) đã đem
đến những bằng chứng để tin rằng
những người buôn bán này được
hưởng lợi đặc biệt từ nhiều loại
“phương pháp chữa bệnh bí truyền” ở
Việt Nam. Trong số đó, các phương
pháp chữa bệnh chống hoa liễu dường
như được bán rộng rãi nhất (CAOM,
RST NF, dossier 3856), cũng như
những phương pháp chữa bệnh khác
từ các nước Trung Quốc và Nhật Bản.
tranh cho việc duy trì các hoạt động
Đông y Đông dược (dẫn theo Đỗ
Hồng Ngọc, 2001: 34).
Ngoài việc liên hiệp lại để bảo vệ
quyền lợi nghề nghiệp, các hội Đông y
ở Bắc - Trung - Nam còn tham gia vào
việc phát triển dược liệu và chấn hưng
Đông y. Thời kỳ này có nhiều cuốn
sách về y dược học Đông y được xuất
bản, như: Vệ sinh yếu chỉ của Bùi Văn
Trung ở Giao Thủy, Nam Định; Bí
truyền tập yếu của Lê Tư Thùy ở Duy
Tiên, Hà Nam; Trung Việt dược tính
nhược biên của Đinh Nho Chấn ở Hà
Tĩnh; Ngoại khoa bí yếu y lý phương
Đông và Nam dược bộ của Nguyễn
An Cư ở Nam Bộ; Việt Nam dược học
của Phó Đức Thành, Hội Y học Vinh;
Y học tùng thư của Nguyễn An Nhân,
Hà Nội (Lê Trần Đức, 1990: 49).
Bên cạnh các hoạt động kinh tế của
cộng đồng này, thì sức nặng chính trị
của các thầy thuốc người Hoa và Việt
ở Việt Nam cũng minh họa cho những
trở lực không nhỏ trong việc thực thi
các chính sách của chính quyền thuộc
địa. Các thầy thuốc Đông y hầu hết
được liên kết lại trong các hiệp hội
bảo vệ quyền “nghề nghiệp” như Y
Hiệp hội (1900), trụ sở Bến Vân Đồn,
hay Hội Đông y Nam Kỳ (1937), để
phản đối một số luật mà chính quyền
áp đặt lên Đông y. Vào tháng 4/1939,
ông Đặng Thúc Liêng, Chủ tịch Hội
Đông y Nam Kỳ cùng ông Phó Đức
Thành, Chủ tịch Việt Nam Y Dược hội
ở Vinh (Nghệ An) đã tổ chức Hội chợ
và Hội thảo Chấn hưng Đông y toàn
quốc tổ chức tại Vinh, nhằm tập hợp ý
4.3. Tình hình thực tế sử dụng
thuốc men của người dân Việt Nam
Khi người Pháp thiết lập nền y tế
phương Tây ở Việt Nam thì họ cũng
gặp phải một số trở ngại về những
thực tế văn hóa xã hội ở đây. Vào
năm 1895, bác sĩ Péralle (1895: 17-27)
đã nêu ra những lý do giải thích cho
việc người Việt Nam không tin tưởng
vào y học phương Tây là: người Việt
Nam sợ đổi mới; chi phí tư vấn và kê
đơn dược phẩm cao, người bản xứ
thiếu hiểu biết về “nghi thức hấp thụ”
của thuốc (chẳng hạn uống thuốc
trong bao lâu, liều lượng ra sao),
người Đông Dương quan niệm rằng
thuốc Tây không được sản xuất phù
hợp cho thể trạng ốm yếu của người
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
74
Châu Á; họ từ chối các biện pháp nhận vai trò của Đông y. Trước thực
phòng ngừa và phẫu thuật; và tất tế sử dụng Tây y và yêu cầu ngày
nhiên “hành vi mê tín” liên quan đến càng gay gắt của các hiệp hội thầy
nỗi sợ hãi những người dùng thuốc thuốc Đông y chống lại các quy định
Tây có thể bị tổ tiên đánh giá xấu vì quá nghiêm ngặt thì chính quyền cũng
đã bỏ truyền thống của Việt Nam (dẫn từng bước nới lỏng, không hoàn toàn
lại Monnais-Rousselot, 2003: 19). Các khuyến khích nhưng đã bớt cấm đoán,
bác sĩ Pháp trong những năm 1920 làm ngơ cho các cơ sở Đông y của
cũng đã ít nhiều đưa ra những lý do người bản xứ được hoạt động. Trong
tương tự để giải thích cho sự thờ ơ bối cảnh luôn bị chính quyền không
của người dân bản xứ đối với thuốc ngừng hạn chế và tìm cách loại bỏ, y
của phương Tây.
học cổ truyền và Đông y ở Việt Nam
đã phát huy sức sống bền vững của
mình trong đời sống người dân, vừa
phải vươn lên, đấu tranh chống lại sự
kỳ thị của chính quyền thuộc địa. Và
sau hơn cả nửa thế kỷ chiếm đóng
của người Pháp, Đông y vẫn giữ vai
trò quan trọng trong nền y học Việt
Nam. Đông đảo dân chúng thuộc địa
chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế
hiện đại, việc chữa bệnh của dân
chúng vẫn phụ thuộc vào Đông y là
chính.
Ở một khía cạnh khác, người Việt
Nam từ chối sử dụng thuốc Tây không
phải là từ chối dựa trên sự tin tưởng
mà là dựa trên sự cần thiết. Điều này
dẫn đến một xu hướng là nhiều bệnh
nhân tìm đến các nguồn thuốc cổ
truyền địa phương. Ngoại trừ các
bệnh viện nơi bệnh nhân được chăm
sóc miễn phí và được tiếp cận miễn
phí với các loại thuốc kê cho họ,
người Việt Nam ít được tiếp cận với
các sản phẩm thuốc của Tây y mà họ
có thể mong muốn sử dụng. Việc ít có 5. KẾT LUẬN
khả năng tiếp cận có nghĩa là sẽ ít biết
về chúng, và do đó thuốc Tây hay Tây
y sẽ không thể nào xuất hiện trong thế
giới quan về y học của người dân.
Trong những thập niên đầu thế kỷ XX,
nhằm phục vụ cho công cuộc khai
thác quy mô lớn về kinh tế, người
Pháp đã cố gắng áp dụng một số yếu
tố của nền y học hiện đại vào Việt
Nam, đồng thời đưa ra nhiều chính
sách nhằm hạn chế và loại bỏ y học
truyền thống của Việt Nam. Tuy nhiên,
với những khó khăn trong việc ban
hành các điều luật nhằm hạn chế
hoạt động của y học cổ truyền Việt
Nam của chính quyền thuộc địa, cùng
Ngoài ra, hệ thống các cơ sở y tế, cơ
sở vật chất, nhân viên y tế… của
chính quyền thuộc địa chưa đủ đáp
ứng được nhu cầu của số đông dân
chúng lúc bấy giờ. Chính vì thế, trong
thời kỳ Pháp thuộc, sự trường tồn của
Đông y không chỉ là hiện thực mà còn
là điều cần thiết.
Như vậy, từ cuối những năm 1920 trở với thái độ của người Việt Nam đối
đi, chính quyền thuộc địa ít nhiều thừa
với sức khỏe và thuốc men, đã khiến
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
75
hoạt động y tế ở Việt Nam trở nên vô nguyên về y tế của Việt Nam giai đoạn
sau này.
cùng phức tạp. Một phần nguyên
nhân của sự phức tạp này bắt nguồn
từ những đặc thù về môi trường, bệnh
lý và văn hóa xã hội nơi đây, có nhiều
khác biệt so với những đặc điểm mà
các nhà quản lý thuộc địa và bác sĩ
phương Tây đã quen thuộc. Những
khác biệt này rõ ràng đã tác động lớn
đến việc áp dụng mô hình y tế
phương Tây và thực tế hoạt động y
tế ở Việt Nam.
Ngoài ra, các chính sách của Pháp đối
với Đông y cho thấy sự xung đột giữa
lý thuyết và thực tế thực thi ở thuộc
địa, giữa ý định của nhà cầm quyền
và hành động thực tiễn, giữa các mục
tiêu của y tế hóa và ứng dụng của
chúng trên thực địa, giữa môi trường
thành thị và nông thôn ở Việt Nam
thời kỳ này. Việc nhìn nhận vấn đề
như vậy có thể sẽ mang đến hữu ích
nhất định trong việc cố gắng hiểu một
số khía cạnh của chính sách y tế ở
Việt Nam hiện nay, cũng như ở các
quốc gia khác, nơi các hoạt động y tế
truyền thống vốn là lối sống, đã bám
rễ trong văn hóa truyền thống của địa
phương.
Thông qua việc tìm hiểu tình hình hoạt
động của Đông y Việt Nam trong thời
Pháp thuộc, phần nào cho thấy sự
xung đột giữa hai nền y học Đông và
Tây y, nhưng đồng thời cũng tạo tiền
đề cho sự giao thoa giữa hai hệ thống
y tế và sự phát triển hệ thống đa
CHÚ THÍCH
(1) Đây là vụ mưu sát và binh biến trong hàng ngũ bồi bếp và binh lính người Việt Nam phục
vụ cho quân Pháp đóng ở thành Hà Nội diễn ra ngày 27/6/1908. Mục đích của những người
bồi bếp và binh lính là nhằm đầu độc quân Pháp (bằng cà độc dược) để chiếm Hà Nội, thêm
sự tiếp ứng và chỉ đạo từ bên ngoài của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, cùng với sự tham
gia của Phan Bội Châu trong việc vạch kế hoạch để tạo cuộc khởi nghĩa đánh đuổi người
Pháp.
(2) Des médicaments Sino-Vietnamiens tức dược liệu Đông y, bao gồm tất cả các thực hành
cổ truyền không phân biệt vùng miền, nguồn gốc hoặc nội dung cụ thể (cả thuốc Bắc và
thuốc Nam). Điều này phù hợp với cách mà chính quyền thuộc địa và các bác sĩ Pháp mặc
định cho nền y học của Việt Nam.
(3) Điển hình là Albert Sallet ở Huế (ông có nhiều sách viết về các loại thuốc này, cả tên và
cách dùng của nhiều loại thuốc).
(4) Là phương pháp thanh trùng là hay còn gọi là tiệt trùng, khử khuẩn. Phương pháp này
được nhà vi sinh vật và hóa học người Pháp Louis Pasteur nghĩ ra nên đã được đặt theo
tên ông.
(5) La Tribune indochinoise (Diễn đàn Đông Dương). “Plaidoirie en faveur de la médecine
sino-annamite” (Vận động ủng hộ Đông y). Ngày 27/7/1938.
(6) Các tờ báo, tạp chí này cũng là một nguồn thông tin không thể thiếu về các vấn đề y tế và
dược phẩm.
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…
76
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bùi Thị Hà. 2014. “Sự phổ biến y học Pháp”. Tạp chí Xưa và Nay, số 451 (tháng 9), tr.
59-61.
2. Bùi Thị Hà. 2019. Y tế phương Tây ở Bắc kỳ từ năm 1873 đến năm 1945. Luận án
tiến sĩ. Học viện Khoa học Xã hội.
3. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), Fonds du Gouvernement général (Gougal)
dossier 6719, 9831, 9848, 17171, 17172, 17165.
4. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), Gougal “Service économique” (SE), C49 c
2 (2).
5. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM). Résidence Supérieure du Tonkin Nouveau
Fonds (RST NF) dossier 3683, 3823, 3856.
6. Đỗ Bang. 2020. “Thái y viện triều Nguyễn – Đỉnh cao trong lịch sử phòng, chữa bệnh,
tổ chức và đào tạo lương y Việt Nam thời quân chủ”. Tạp chí Khoa học Đại học Huế:
Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tập 129, số 6E, tr. 105-113.
7. Đỗ Hồng Ngọc (chủ biên). 2001. Y tế Sài Gòn - TPHCM 300 năm (1698-1998).
TPHCM: Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khỏe.
8. Hồ Đắc Duy - Bùi Văn Quế. 1998. “Y tế Sài Gòn xưa”. Tạp chí Xưa và Nay, số 55B.
9. La Tribune indochinoise. “Plaidoirie en faveur de la médecine sino-annamite”.
27/7/1938.
10. Lê Trần Đức. 1990. “Sơ lược lịch sử y học dân tộc”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3.
11. Monnais, Laurence, Tousignant, Noémi. 2006. “The Colonial Life of Pharmaceuticals:
Accessibility to Healthcare, Consumption of Medicines, and Medical Pluralism in French
Vietnam, 1905-1945”. Journal of Vietnamese Studies, Vol. 1, No. 1-2 (February/August),
12. Monnais-Rousselot, Laurence, Thompson, C. Michele, Wahlberg, Ayo. 2012.
Southern Medicine for Southern People: Vietnamese Medicine in the Making. Newcastle:
Cambridge Scholars Publishing.
13. Monnais-Rousselot, Laurence. 2003. “Which Medications Did They Trust? The rRole
of French Colonialism in Vietnamese Attitudes Towards Pharmaceuticals, 1858-1939”.
Paper Presented at Princeton Workshop in the History of Science: Science Across
Cultures – Historical and Philosophical Perspectives (24 October). New Jersey:
Princeton University.
14. Nguyễn Thị Dương. 2017. “Chính quyền nhà Nguyễn với việc cải cách Đông y (thế
kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX)”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1.
15. Nội các triều Nguyễn (Nguyễn Danh Chiên dịch). 1993. Khâm định Đại Nam hội điển
sự lệ – Tập 15: Q.244 - Q.262. Huế: Nxb. Thuận Hóa.
16. Péralle, Dr. 1895. “De la diffusion de la médecine européenne en Cochinchine”.
Bulletin de la Société des Etudes indochinoises, pp. 17-27.
17. Quốc sử quán triều Nguyễn. 1992. Đại Nam nhất thống chí – Tập 1. Huế: Nxb.
Thuận Hóa.
18. Viện Sử học. 1993. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ – Tập
2: Q.10. Huế: Nxb. Thuận Hóa.
Bạn đang xem tài liệu "Đông y Việt Nam thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dong_y_viet_nam_thoi_phap_thuoc_tu_dau_the_ky_xx_den_nam_194.pdf

