Đông y Việt Nam thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945)

63  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC  
(TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NĂM 1945)  
MAI THỊ MỸ VỊ*  
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945), hệ thống Tây y được bảo hộ, y học cổ  
truyền của Việt Nam bị chính quyền thuộc địa không ngừng hạn chế và tìm cách  
loại bỏ. Tuy nhiên, y học cổ truyền, hay còn gọi là Đông y, vẫn được người dân  
tín nhiệm và đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của người  
dân. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích sử liệu và cách tiếp cận của lịch  
sử y tế để tìm hiểu tình hình hoạt động Đông y dưới thời Pháp thuộc. Đặc biệt là  
hoạt động Đông y dưới tác động của những chính sách, quy định về y tế được  
ban hành của chính quyền thuộc địa Pháp.  
Từ khóa: Đông y, chính sách y tế, thời Pháp thuộc, nửa đầu thế kỷ XX  
Nhận bài ngày: 31/7/2021; đưa vào biên tập: 2/8/2021; phản biện: 29/8/2021; duyệt  
đăng: 9/9/2021  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
dịch bệnh hoành hành ở Viễn Đông  
ảnh hưởng đến người Pháp và người  
bản xứ, đồng thời mở rộng ảnh  
hưởng văn hóa Pháp đến vùng đất  
này. Cùng với việc mở rộng và phổ  
biến hệ thống y tế phương Tây ở Việt  
Nam, các hình thức khám chữa bệnh  
cổ truyền, trong đó có y học truyền  
thống bị xem nhẹ và bị kìm hãm.  
Chính quyền thuộc địa đã ban hành  
nhiều quy định và điều luật hà khắc  
nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động  
của các loại hình y học truyền thống ở  
Việt Nam. Mặc dù luôn trong tình  
Cuối những năm 1880, sau khi chiếm  
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, người  
Pháp muốn xây dựng một chiến lược  
gọi là “sứ mệnh khai hóa” để biện  
minh sự hiện diện của mình, và y tế  
được xem như là sự hỗ trợ cần thiết  
cho quá trình thực dân hóa. Họ đã  
thiết lập hệ thống y tế hiện đại theo  
mô hình phương Tây để nghiên cứu  
khoa học về bệnh lý và điều trị các  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
64  
trạng bị chính quyền thuộc địa không Trước khi Pháp thiết lập chế độ thuộc  
địa và bảo hộ ở Việt Nam, nền y học  
phổ biến nhất ở Việt Nam là Đông y  
(thuốc Bắc), nền y học chịu ảnh  
hưởng của Trung Quốc, và y học cổ  
truyền Việt Nam (thuốc Nam), được  
phổ biến trong dân chúng thông qua  
sự truyền miệng, qua kinh nghiệm  
chữa bệnh trong các gia đình. Nhìn  
chung, cả hai hình thức chữa bệnh và  
điều trị theo Đông y ít nhiều tuân theo  
quy tắc, phương pháp chữa trị và  
dùng nhiều nguyên liệu thuốc giống  
nhau. Về sau, khi Tây y phổ biến ở  
Việt Nam, sự phân biệt thuốc Bắc,  
thuốc Nam không nhiều so với sự  
khác biệt Đông - Tây nên cả hai đều  
được gọi chung là Đông y.  
ngừng hạn chế và tìm cách loại bỏ, y  
học truyền thống vẫn duy trì sức sống  
bền vững trong thời kỳ này.  
Trong bài viết này, tác giả chủ yếu  
dựa vào các ghi chép về các tổ chức  
y tế dưới triều Nguyễn trong các tác  
phẩm như Khâm định Đại Nam hội  
điển sự lệ hay Đại Nam nhất thống  
chí; báo cáo về luật pháp liên quan  
đến y tế, báo cáo hoạt động thương  
mại liên quan đến dược phẩm Tây y,  
dược liệu Đông y… của chính quyền  
thuộc địa; và các công trình nghiên  
cứu trong nước, nước ngoài về dược  
phẩm, dược liệu và y tế của Việt Nam  
thời Pháp thuộc để tổng hợp và phân  
tích làm rõ trọng tâm. Bằng phương  
pháp phân tích sử liệu và cách tiếp  
cận của lịch sử y tế cùng với nguồn tư  
liệu nói trên, tác giả đưa ra những  
phân tích về vai trò của thuốc men  
trong chính sách chăm sóc sức khỏe  
của Pháp ở Việt Nam. Trong đó đề  
cập đến tình hình hoạt động của  
Đông y trong bối cảnh thuộc địa, đặc  
Từ lâu, nền y học của Trung Quốc  
(Đông y) đã được các triều đại Việt  
Nam tiếp thu và xem là dòng y học  
chính thống. Mặc dù Đông y là một bộ  
phận quan trọng trong xã hội Việt  
Nam khi đó, nhưng nền y học này  
chưa bao giờ được thể chế hóa như  
một hệ thống đào tạo chính thức hoặc  
biệt là những ảnh hưởng của các truyền thụ kiến thức trong các triều đại  
chính sách ban hành của chính  
quyền thuộc địa Pháp. Bài viết cũng  
trình bày chi tiết về bối cảnh dẫn đến  
những quyết định ban hành các chính  
sách của Pháp đối với Đông y và  
những nghịch lý, hạn chế khi thực thi  
ở Việt Nam. Qua đó càng thấy rõ  
được vai trò quan trọng của Đông y  
trong đời sống của người dân Việt  
Nam trong nửa đầu thế kỷ XX.  
trước đó. Chỉ đến thời Nhà Nguyễn,  
với việc thành lập Thái Y viện vào  
năm 1823 (được thành lập dưới thời  
Gia Long và được hoàn thiện dưới  
triều vua Minh Mạng) thì nền y học  
này mới thực sự có một hệ thống đào  
tạo (cấp Trung ương). Nhiệm vụ chính  
yếu của Thái Y viện là khám chữa  
bệnh cho nhà vua, hoàng gia, triều  
thần và binh sĩ, phòng chống các  
bệnh dịch; nghiên cứu và soạn thảo  
sách thuốc; đào tạo y sinh (Đỗ Bang,  
2. TÌNH HÌNH Y TẾ Ở VIỆT NAM  
TRƯỚC KHI PHÁP XÂM LƯỢC  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
65  
2020: 108). Vào năm 1829, Quan những Dưỡng tế sở, người dân khi  
ốm đau thường nhờ đến “thầy lang”,  
người chuyên về thuốc Bắc và thuốc  
Nam đến khám và chữa bệnh. Những  
“thầy lang” này giữ một địa vị xã hội  
rất khó đánh giá (Monnais-Rousselot,  
2003: 5).  
chức Thái Y viện gồm Viện sứ quan  
hàm Chánh tứ phẩm, các ngự y có  
Ngự y chính, Ngự y phó, tả, hữu Viện  
phán, y sinh (Quốc sử quán triều  
Nguyễn, 1992: 54-55). Cuối triều Minh  
Mạng, quan chức Thái Y viện có 43  
người. Năm 1840, nhà Thái Y viện  
được xây dựng 5 gian để các quan  
làm việc (Nội các triều Nguyễn, 1993:  
421). Đến năm 1856, vua Tự Đức cho  
Có thể thấy rằng về cơ cấu nhân sự  
cũng như trình độ chuyên môn và  
mạng lưới y tế ở địa phương của triều  
Nguyễn còn nhiều hạn chế. Khi địa  
mở nhà dạy học thuốc của Thái Y viện. phương có dịch bệnh thì Thái Y viện  
phải cắt cử người về cùng đội ngũ y tế  
ở địa phương để chữa trị cho dân  
chúng (Nguyễn Thị Dương, 2017: 21).  
Tuy nhiên, các thầy thuốc ở triều đình  
nhiều khi cũng tỏ ra bất lực khi phải  
chữa trị hàng loạt người trong các trận  
dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở thời  
Nguyễn do mất mùa đói kém và do  
tình trạng kém vệ sinh trong nếp sống  
sinh hoạt lúc bấy giờ.  
Ở các địa phương cấp trấn tỉnh đạo,  
có các cơ quan như Lương y ty và  
Dưỡng tế sở để chăm sóc sức khỏe  
quan lại, binh sĩ cũng như người dân  
sở tại nhưng lực lượng này khá mỏng.  
Thông thường ở mỗi tỉnh, số lượng  
nhân sự của Lương y ty gồm có 1  
Chánh cửu phẩm Y sinh và 10 Y  
thuộc, có nơi số Y thuộc chỉ có 5  
người, (Viện Sử học, 1993: 173-177).  
Trình độ chuyên môn của các nhân Mặc dù nhà Nguyễn có chú trọng đến  
phát triển nền y học quốc gia nhưng  
không đem lại hiệu quả, còn nhiều  
hạn chế, đặc biệt là Đông y, không thể  
phát triển thành một hệ thống y tế có  
thể đáp ứng được nhu cầu phòng  
bệnh và chữa bệnh cho người dân.  
Điểm yếu của nền y học này càng bộc  
lộ khi Tây y xuất hiện với thế mạnh  
của nền y học giải phẫu, chữa bệnh  
bằng cách hiểu, trị liệu và đề phòng  
các bệnh truyền nhiễm.  
viên trong Lương y ty không cao,  
trường hợp trấn Sơn Tây khi thiết lập  
Lương y ty vào năm 1829 thì “Thị lại  
Ty Chiêm hậu là Đỗ Công Hiệu ở trấn  
ấy làm Thí sai Y sinh” còn các Y thuộc  
thì được chiêu mộ từ dân ngoại tịch  
“hơi biết làm nghề thuốc” (Nội các  
triều Nguyễn, 1993: 424).  
Mỗi tỉnh đều có ít nhất một Dưỡng tế  
sở, là nơi chăm sóc cho bệnh nhân và  
những người nghèo khổ ở tập trung.  
Tuy nhiên do triều đình không cấp đủ  
kinh phí và về sau không mấy quan  
3. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN  
THUỘC ĐỊA PHÁP ĐỐI VỚI ĐÔNG Y  
tâm nên các Dưỡng tế sở hoạt động Những năm đầu thế kỷ XX, song song  
không hiệu quả và không đạt kết quả với việc thiết lập hệ thống y tế theo  
như mong muốn đề ra lúc đầu. Ngoài  
mô hình phương Tây, chính quyền  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
66  
thuộc địa cho giải tán hệ thống tổ thống của Việt Nam vẫn thường bị  
chức y tế của nhà Nguyễn ở Việt Nam.  
Các hình thức khám chữa bệnh cổ  
truyền, trong đó có Đông y bị xem nhẹ.  
Nhà chức trách thuộc địa thể hiện thái  
độ kỳ thị, đồng thời ban hành nhiều  
quy định nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt  
động khám chữa bệnh theo Đông y.  
các quan chức chính quyền thuộc địa  
và các bác sĩ thuộc địa tố cáo là “chủ  
nghĩa kinh nghiệm thô thiển”, và  
được thực hiện bởi những lang băm  
vô lương tâm, những người gây nguy  
hiểm cho sức khỏe của người dân  
thuộc địa (Monnais-Rousselot, Thompson,  
Wahlberg, 2012: 8). Đông y được cho  
là lạc hậu trong bối cảnh thuộc địa,  
nơi y học phương Tây được coi là  
chìa khóa của sự tiến bộ. Cụ thể,  
chính quyền thuộc địa và các bác sĩ  
Pháp cho rằng việc bào chế thuốc ở  
Việt Nam không đảm bảo vệ sinh vì  
không được thông qua bất kỳ các  
khâu phân tích hay kiểm định nào.  
Các dược sĩ bào chế thuốc không có  
một bằng cấp nào cụ thể và các  
nguyên tắc trong việc bảo đảm vệ sinh  
cho dược liệu không được xem trọng.  
3.1. Thái độ của chính quyền Pháp  
đối với Đông y  
Đối với chủ nghĩa thực dân, y học là  
một công cụ “khai hóa” quan trọng  
trên khắp các đế chế thuộc địa của  
phương Tây trong thế kỷ XIX và XX.  
Tại Việt Nam, “sứ mệnh văn minh”  
này đã trở thành chính sách chính  
thức với việc thực hiện chính sách y  
tế bản địa vào năm 1905. Trong năm  
này, Toàn quyền Đông Dương Paul  
Beau chính thức thành lập kế hoạch  
gọi là Hỗ trợ y tế bản địa (Assistance  
Médicale Indigène - AMI) nhằm phục Một bác sĩ nước ngoài đã viết: “Ít nhất  
vụ nhu cầu y tế cho người dân, nhưng  
theo mô hình y tế của Pháp. Hỗ trợ y  
tế bản địa như một phương tiện thúc  
đẩy để đưa nền văn minh, bằng con  
đường theo cải cách y tế đến thuộc  
địa. Ưu tiên của kế hoạch này là  
phòng ngừa tập thể, tập trung vào  
công tác chống các dịch bệnh đặc  
hữu lưu hành (đậu mùa, dịch tả, dịch  
hạch, sốt rét), và giáo dục vệ sinh  
(Monnais-Rousselot, 2003: 3).  
một nửa trong thành phần của thuốc  
nước và thuốc viên Trung Hoa là cáu  
và bụi bẩn” (dẫn theo Bùi Thị Hà,  
2014: 59-60). Điều này hoàn toàn  
khác biệt so với nước Pháp, nơi mà  
những ngành nghề này đã được hệ  
thống hóa nghiêm ngặt và lĩnh vực  
hành nghề y cũng được xác định rõ  
ràng trong suốt thế kỷ XIX. Một đạo  
luật của Pháp được thiết lập vào năm  
1803 đã quy định về việc đào tạo và  
thực hành dược phẩm, trong đó các  
quy tắc bào chế và bán thuốc (quy  
định về việc chuẩn bị thuốc tại các  
hiệu thuốc và nhà sản xuất theo  
chuẩn trong luật về thuốc của Pháp)  
(Monnais-Rousselot, 2003: 5). Các  
Với sự thống trị của nền y học độc  
quyền của Pháp đã thực sự hạn chế  
quyền tự do tồn tại và hoạt động của  
các “thầy lang” Việt Nam (Monnais-  
Rousselot, Thompson, Wahlberg, 2012:  
8). Đến những năm 1930, y học truyền  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
67  
nhà chức trách y tế của Pháp bấy giờ qua trường lớp đào tạo bài bản y  
coi các phương pháp chữa bệnh bí dược học. Nếu một thầy thuốc kiêm  
truyền là mối đe dọa lớn đối với sức luôn công việc kê đơn, bốc thuốc thì  
khỏe cộng đồng. Cho nên trong bộ còn có thể chấp nhận được. Nhưng  
luật về thuốc còn có một số văn bản một người bán thuốc tự coi mình có  
nhằm kiểm soát việc bán các phương khả năng chữa bệnh, kê đơn thuốc  
thuốc bí truyền, tức là những loại như một thầy lang thì họ quá coi  
thuốc không được nêu trong luật, thường mạng sống của người dân và  
không được công bố hợp pháp và coi thường ngành y. Và đó là nguy cơ  
không được mua hoặc phân phối lớn nhất của ngành y học cổ truyền.  
công khai bởi chính phủ thì sẽ không Nếu được hiểu và hành nghề theo  
được điều chế cho từng bệnh nhân cụ cách này thì bất kỳ ngành y nào cũng  
thể theo đơn của bác sĩ hoặc nhân sẽ trở hành một mối hiểm họa đối với  
viên y tế. Và mỗi loại thuốc chữa bách xã hội (dẫn theo Bùi Thị Hà, 2014: 60).  
bệnh mới phải nhận được sự cho  
phép từ Học viện Y khoa để được bán  
bởi người phát minh ra nó (Monnais-  
Rousselot, 2003: 5). Thời kỳ này ở  
Việt Nam không hệ thống giáo dục  
nào xác định bằng cấp hành nghề hay  
đặc quyền của thầy thuốc. Ở trung  
ương, có tổ chức sát hạch quan chức  
Từ những kết luận về những nghịch lý  
và yếu kém trong việc chăm sóc sức  
khỏe của Đông y như vậy nên chính  
quyền Pháp cho rằng cần phải đẩy  
mạnh việc du nhập y học phương Tây  
vào Việt Nam. Đồng thời kiểm soát  
chặt chẽ đối với những người hành  
nghề Đông y ở Việt Nam và cả việc  
Thái Y viện để tìm ra thầy thuốc giỏi, sử dụng và phân phối các sản phẩm  
được coi là độc hại; việc cố định các  
công thức pha trộn và liều lượng cho  
các loại thuốc trong Đông y.  
còn ở địa phương, các dược sĩ Đông  
y không được đào tạo bài bản và  
không phân thành các chuyên khoa.  
Trong khi các sinh viên y khoa  
phương Tây phải mất nhiều năm học  
tập, nghiên cứu thì các thầy lang ở  
đây chỉ cần học từ 1 đến 2 năm, có  
khi không học hành gì và một ngày  
nào đó tự nhiên trở thành thầy thuốc  
(dẫn theo Bùi Thị Hà, 2014: 60). Họ  
chỉ cần biết tên và phân biệt được các  
loại thuốc là có thể mở cửa hàng bán  
thuốc. Những thầy thuốc người bản  
xứ bị gọi là lang băm (Charlatan), họ  
chỉ chữa bệnh theo kinh nghiệm và  
cảm tính và không trải qua, hoặc ít  
3.2. Một số nghị định hạn chế sự  
hoạt động của Đông y  
Nhằm hạn chế hoạt động của y học  
truyền thống, các nhà chức trách  
Pháp đã đưa ra rất nhiều luật lệ về  
thuốc và hành nghề y dược ở Việt  
Nam. Họ muốn áp đặt tại đây một lối  
suy nghĩ về bệnh tật, cách phòng  
ngừa và cách chữa bệnh mới theo  
Tây y, đồng thời xây dựng một quá  
trình chuyên nghiệp hóa về y dược ở  
xứ này. Ngoài ra, không thể không kể  
đến những người trong ngành công  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
68  
nghiệp dược phẩm Châu Âu cũng tìm Đông y cũng như không được dùng  
cách mở rộng sản xuất bằng cách  
dựa vào chính quyền thuộc địa và  
chính sách y tế của họ.  
với số lượng lớn ở Việt Nam (Monnais-  
Rousselot, 2003: 8).  
Năm 1914, “Quy chế buôn bán của các  
Khởi điểm cho việc ban hành các điều hiệu thuốc và dược liệu Đông y ở Đông  
luật cấm đoán với Đông y dược là sau Dương” (Réglementation du Commerce  
vụ Hà Thành đầu độc năm 1908(1). des officines et des médicaments  
Đối với chính quyền thuộc địa, vụ đầu Sino-Vietnamiens(2) en Indochine) được  
độc năm 1908 cho thấy rằng các ban hành. Quy chế này tập trung vào  
nguồn dược liệu bản địa có thể trở yêu cầu tối thiểu mà người Pháp cho  
thành một thứ vũ khí được sử dụng là cần phải có để có một hiệu thuốc có  
để chống lại chế độ thuộc địa và nhà thể hoạt động, đó là hiệu thuốc cần  
chức trách của Pháp ở đây. Sau vụ phải có sự cấp phép hoạt động cũng  
Hà Thành vài tháng, một điều luật về như quyền sở hữu, đồng thời phải có  
thuốc được ban hành. Điều luật năm sự quy định về chất độc hại trong  
1908 đã áp đặt một hệ thống kiểm tra dược liệu. Những chất này phải được  
thống nhất hàng năm đối với tất cả liệt kê trong sổ đăng ký đặc biệt, và  
các địa điểm sản xuất và bán thuốc được bán độc quyền khi có đơn thuốc  
Tây y và Đông y, cho phép “kiểm tra của bác sĩ, liều lượng vừa phải và  
chất lượng sản phẩm ... [thu giữ thuốc danh sách các sản phẩm đó rất ngắn  
giả, nghi ngờ và không được phép (dẫn lại Monnais-Rousselot, 2003: 8).  
thuốc men, [thu thập] mẫu để phân Quy chế này bị bác bỏ vì sự phản đối  
tích sau này” và, nếu cần, phạt tù đối của Tiến sĩ Paul-Louis Simond, Tổng  
với những người phạm tội bị kết tội Thanh tra Dịch vụ Y tế Đông Dương,  
(CAOM, Gougal, dossier 17165). Mục người am hiểu khá rõ về Đông Dương.  
tiêu chính của điều luật này là kiểm Ông phản đối ý tưởng đưa ra những  
soát việc mua bán các chất độc hại hạn chế nghiêm trọng đối với các hoạt  
nhằm tránh tình trạng đầu độc. Tuy động y tế địa phương, cho rằng “nhiều  
nhiên, điều luật này khó thực thi vì loại thuốc mà chúng tôi tìm thấy trong  
không phù hợp với tình hình thực tế dược điển Châu Âu cũng có trong  
tại Việt Nam. Theo một tài liệu được dược điển bản địa” (CAOM, Gougal,  
đưa ra vào tháng 7/1908 đã thiết lập dossier 17172) và các hiệu thuốc  
một danh sách các chất nguy hiểm, Đông y có thể hữu ích trong việc phổ  
không được phép mua hoặc bán bởi biến những lợi ích của một số loại  
các dược sĩ và bác sĩ trị liệu bản xứ, thuốc Châu Âu đang được sử dụng  
nhưng những chất này được đặt tên hiện tại ở xứ này. Mặc dù những ý  
theo tiếng Pháp gây khó hiểu cho kiến của Simond cho thấy một thái độ  
người Việt Nam, và chúng cũng không cởi mở hơn đối với các phương pháp  
được sử dụng trong các vị thuốc trị liệu của người bản xứ, thì sự công  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
69  
nhận chính thức vai trò của y tế bản Toàn quyền Đông Dương ra nghị  
định ấn định các điều kiện buôn bán  
và hành nghề thuốc Bắc, thuốc Nam  
nhằm hạn chế hai nghề này ở Việt  
Nam: Cấm sử dụng tất cả các máy  
móc dành cho bào chế Âu dược;  
Cấm sử dụng hóa chất; Đông y sĩ  
nào muốn cấp thuốc cho bệnh nhân  
phải theo điều kiện hành nghề của  
Viện Dược (Hồ Đắc Duy - Bùi Văn Quế,  
1998: 21).  
xứ vẫn chưa bắt đầu.  
Từ năm 1920 đến năm 1937, một loạt  
các phán quyết khác nhằm kiểm soát  
hoạt động của Đông y được ban  
hành. Cụ thể, vào năm 1920, chính  
quyền thuộc địa đã ra nghị định hạn  
chế số lượng thầy thuốc Đông y ở  
Nam Kỳ, cho phép không quá 500  
người hoạt động (dẫn theo Bùi Thị  
Hà, 2019: 147). Ngày 24/2/1936, Toàn  
quyền Đông Dương Jean Decoux  
ban hành quy định về hành nghề y ở  
xứ thuộc địa, trong đó có nhiều quy  
định hạn chế sự hoạt động của Đông  
y. Ngày 15/6/1937, Sở Y tế Nam Kỳ  
ra quy định cấm các cơ sở Đông y sử  
dụng các loại dược chất có độc tính.  
Lúc này giới Đông y Nam Kỳ đã đưa  
ra kiến nghị Sở Y tế nên quy định cụ  
thể loại hóa chất nào được sử dụng  
và loại hóa chất nào thì cấm sử dụng  
(dẫn theo Đỗ Hồng Ngọc, 2001: 30).  
Nhiều phán quyết đưa ra khá hà khắc,  
còn mang nhiều bất cập cho nên việc  
thi hành các phán quyết này cũng bị  
trì hoãn hoặc đình chỉ. Trong mỗi  
trường hợp, các phán quyết đưa ra  
đã gặp phải sự phản ứng của người  
dân dường như đã khiến chính quyền  
Pháp phải lùi bước trong nỗ lực kiểm  
soát các hiệu thuốc Đông y. Vì vậy,  
đến năm 1939, Toàn quyền Đông  
Dương lại ra quyết định cho phép  
giới Đông y sử dụng các chất có độc  
tính nhưng yêu cầu giới y sĩ Đông  
phải chịu trách nhiệm phần hình lẫn  
phần hộ (dẫn theo Đỗ Hồng Ngọc,  
2001: 30). Ngày 17/7/1943, De Coux -  
Với mục đích xây dựng một hệ thống  
tổ chức y tế theo kiểu phương Tây ở  
Việt Nam và Đông Dương nói chung,  
chính quyền thuộc địa đã đặt ra  
những hạn chế ngày càng hà khắc đối  
với thuốc cổ truyền và y học cổ truyền.  
Mỗi năm chính quyền thuộc địa đưa ra  
rất nhiều quy định hà khắc và tưởng  
tượng khó có thể thực thi được. Tầm  
nhìn và những chính sách mà Pháp  
triển khai nhằm hạn chế hoạt động  
của y học truyền thống của Việt Nam  
dường như không phù hợp với ý định  
ban đầu của các nhà chức trách Pháp  
là đưa ra một chính sách chăm sóc  
sức khỏe tối ưu cho những người dân  
thuộc địa. Điều này cũng cho thấy sự  
mơ hồ đặc trưng cho sự hiểu biết của  
phương Tây về giá trị của y học cổ  
truyền và Đông y, các phương pháp trị  
liệu và chữa bệnh.  
4. NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG THỰC  
THI CHÍNH SÁCH VÀ TÌNH HÌNH  
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG Y THỜI  
PHÁP THUỘC  
4.1. Quá trình “tái khám phá” Đông  
y và những hạn chế về tiềm lực y tế  
phương Tây ở Việt Nam  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
70  
Có một điều nghịch lý là trong suốt Đông y, rốt cuộc, đều là những kẻ giả  
thập niên 1920, đồng thời với việc  
chính quyền thuộc địa đặt ra những  
quy định, những hạn chế ngày càng  
hà khắc đối với y học cổ truyền, họ  
cũng bắt đầu “tái khám phá” giá trị  
tiềm năng của dược liệu tại địa  
phương. Lý do đầu tiên cho sự “tái  
khám phá” này xuất phát từ sự quan  
tâm nhất định của người Pháp với  
Đông y và y học truyền thống của Việt  
Nam. Sự quan tâm này đã bắt đầu từ  
nửa sau thế kỷ XIX. Mối quan tâm này  
mang tính chất khoa học thuần túy, là  
một phần trong phong trào rộng lớn  
mà các nhà văn Pháp ghi nhận tiềm  
năng của một số loài thực vật địa  
phương và khám phá ra sự đa dạng  
sinh học đáng kinh ngạc của Việt Nam  
(CAOM, Gougal, dossier 9831, 9848).  
Mối quan tâm này là cơ sở của một  
phong trào khác đã hình thành trong  
thập niên 1920 trở đi, phong trào  
hướng tới việc khám phá rộng rãi hơn  
về y học địa phương và tiềm năng  
điều trị của nó.  
mạo hay đầu độc; một số thậm chí  
còn có kiến thức hữu ích (Monnais-  
Rousselot, Tousignant, 2006: 17). Một  
số bác sĩ người Pháp(3), thậm chí đã  
gần thừa nhận mối quan tâm đến y  
học địa phương. Bởi vì, trong một số  
phương pháp điều trị phương Tây  
dường như không có khả năng chữa  
khỏi cho bệnh nhân. Cụ thể trong bối  
cảnh chính sách chăm sóc sức khỏe  
được “nhân đạo hóa” vào những năm  
1920 và những năm 1930, những  
bệnh nhân mắc bệnh phong đã khiến  
một số bác sĩ Tây y ở thuộc địa yêu  
cầu sự giúp đỡ của các nhà trị liệu  
truyền thống (CAOM, RST NF dossier  
3823).  
Những trường hợp phải nhờ đến  
phương pháp trị liệu của y học truyền  
thống như vậy thực tế đã diễn ra  
thường xuyên trước năm 1930, nhưng  
phải đến những năm 1930, nhiều bác  
sĩ người Pháp mới thừa nhận. Ở một  
góc độ nào đó, việc tiếp xúc nhiều với  
môi trường nhiệt đới Việt Nam đã dạy  
cho một số bác sĩ phương Tây sự  
khiêm tốn nhất định, và họ thừa nhận  
rằng thuốc Tây không phải lúc nào  
cũng có hiệu quả với bệnh nhân địa  
phương, mà một số sản phẩm trong  
kho thuốc điều trị của họ thậm chí có  
thể gây nguy hiểm cho người dân  
(dẫn lại Monnais, Laurence, 2003: 8).  
Sự thừa nhận đối với Đông y đã phần  
nào giải thích sự thất bại luật pháp  
của chính quyền thuộc địa về thuốc  
men, và xung đột với thái độ xem  
thường của họ đối với y học truyền  
Thực tế, các chuyên gia Tây y hành  
nghề tại Việt Nam phải chịu nhiều hạn  
chế thực tế như: ngân sách thiếu và  
không đủ, cơ sở vật chất, nhân sự,  
thuốc men thiếu nhất quán và thiếu  
thông tin khoa học đầy đủ về các bệnh  
nhiệt đới và triệu chứng đặc thù của  
nó (Monnais-Rousselot, Thompson,  
Wahlberg, 2012: 9). Trong một bài  
diễn văn của Tổng Thanh tra Sở Y tế  
vào những năm 1930 đã phản ánh  
tiềm năng trị liệu của y học truyền  
thống: “không phải tất cả các dược sĩ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
71  
thống từ những năm 1920 như chúng được thực hiện về chủ đề này trong  
một thư viện trung tâm để các học giả  
có thể tiếp cận được” (CAOM, Gougal  
SE, C49 c2 (2)).  
tôi đã dẫn chứng ở trên.  
Nhằm tìm hiểu rõ về y dược học  
truyền thống Việt Nam, vào năm 1933,  
Tổng Thanh tra Vệ sinh và Y tế công  
cộng (Inspection Générale de l’Hygiène  
et de la Santé Publique) thành lập Ủy  
ban Nghiên cứu dược liệu Đông y.  
Đây là một tổ chức được đánh giá là  
không thể thiếu trong việc soạn thảo  
một văn bản pháp luật phù hợp, và  
trên hết là một sáng kiến thực tế  
trong nỗ lực kiểm soát ngành dược  
liệu của y học truyền thống và Đông y.  
Đến năm 1938, một Ủy ban điều tra  
thứ hai đã giao cho một Tiểu ban  
nhiệm vụ nghiên cứu lại quy định về  
các chất độc hại (CAOM, Gougal SE,  
C49 c 2 (2)). Một trong những báo  
cáo được trình bày cho tiểu ban  
nghiên cứu câu hỏi về quy chế dược  
liệu Đông y năm 1938 đưa ra kết  
luận:  
Những điều nêu trên chứng tỏ các bác  
sĩ Tây y và những nhà chức trách  
thuộc địa đã thừa nhận rằng có nhiều  
hiểu biết về các hoạt động y tế địa  
phương sẽ giúp chống lại các lang  
băm địa phương cũng như giáo dục  
tốt hơn và Tây hóa các bệnh nhân  
bản xứ (Monnais-Rousselot, 2003: 18).  
Bên cạnh đó việc đưa vào giảng dạy  
một khóa học về Đông y tại Trường Y  
khoa Hà Nội vào năm 1938 nhằm đào  
tạo một đội ngũ bác sĩ bản xứ, hạn  
chế hoạt động của các lang băm.  
Ngoài nhu cầu tìm hiểu về giá trị chữa  
bệnh, lý do khiến người Pháp quan  
tâm đến dược liệu Đông y là vì giá  
thành của dược phẩm. Các dược  
phẩm, các chất được các bác sĩ và  
dược sĩ Pháp ở Đông Dương sử dụng  
“- Kết hợp một số sản phẩm và một số thường được nhập khẩu trực tiếp từ  
loại thực vật bản địa vào dược phẩm  
phương Tây;  
Pháp. Vì thế, các nguyên liệu đó đắt  
tiền và thường xuyên không có sẵn,  
ngay cả những sản phẩm cần thiết  
nhất: một số báo cáo y tế cấp tỉnh cho  
thấy vấn đề nguồn cung này là kẻ thù  
số một của các dược sĩ và bác sĩ làm  
việc ở đó (Monnais-Rousselot, 2003:  
20). Nguồn cung dược phẩm này  
không chỉ phụ thuộc vào chất lượng  
vận chuyển mà còn liên quan đến chất  
giả và thậm chí khí hậu nhiệt đới - gây  
khó khăn trong khâu bảo quản thuốc.  
- Trồng trọt và thu hoạch cây thuốc  
với số lượng công nghiệp, nhằm xây  
dựng một nguồn tài nguyên mới cho  
Đông Dương, nơi hiện đang nhập  
khẩu 80% nhu cầu từ Trung Quốc.  
- Nghiên cứu một cách hệ thống về  
dược liệu Đông y với thái độ khách  
quan khoa học cần thiết, để sinh viên  
ngành y hoặc dược có thể tận dụng  
lợi thế – nhưng cũng tránh được  
những nguy hiểm – của dược lý này.  
Và một điều quan trọng khác, đó là giá  
- Bản dịch các cuốn sách về y học thành của thuốc Tây luôn cao và khó  
tiếp cận hơn dược liệu của địa  
Trung Quốc, tích lũy công việc đã  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
72  
phương. Thực tế, có những bệnh thôn và những người có địa vị xã hội  
nhân ở Việt Nam sẵn sàng tiếp cận khiêm tốn. Ngay cả khi họ hoàn toàn  
với người chuyên về bốc thuốc tại địa tin tưởng vào các đệ tử của Claude  
phương và có thể yêu cầu bốc cho họ Bernard và Marcelin Berthelot, những  
những gì họ muốn, và không nhất thư ký khiêm tốn của chúng tôi, những  
thiết phải hỏi ý kiến bác sĩ. Nhưng người kiếm được 40-60 piastres mỗi  
ngược lại sẽ càng khó khăn hơn đối tháng sẽ từ chối trả 3-5 piastres cho  
với người bệnh bản xứ khi tìm đến một lần đến phòng khám. Đồng thời,  
một dược sĩ người Pháp. Đầu tiên là những người dân nông thôn sẽ  
sẽ giới thiệu những sản phẩm mà không tự mình đi một vòng 100km để  
người bệnh hiếm khi biết đến, những được chữa trị bởi những loại chuyên  
sản phẩm đắt tiền hơn và đặc biệt nghiệp vốn chỉ có ở các tỉnh lẻ, nếu  
dược sĩ sẽ yêu cầu phải có đơn thuốc không phải ở thủ đô Sài Gòn hay Hà  
của bác sĩ (CAOM, Gougal, dossier Nội”(5).  
17171). Những vấn đề này đã khiến  
cho các bác sĩ Pháp yêu cầu thành  
khám phá” này được thúc đẩy bởi một  
lập một ngành công nghiệp dược liệu  
Thực tế cho thấy rằng phong trào “tái  
số nhu cầu về khoa học, chính trị cũng  
thô sơ của địa phương và sử dụng  
như kinh tế và xuất phát từ yêu cầu  
các phương thuốc địa phương được  
thực tiễn. Và tất nhiên, phong trào này  
người bản xứ tin tưởng vì tính hiệu  
còn vì nhu cầu của ngành dược phẩm  
quả của chúng (dẫn lại Monnais-  
Pháp trong cuộc cạnh tranh với các  
Rousselot, 2003: 20). Vào cuối những  
nước về tìm kiếm các chất có thể  
năm 1930, một số bài viết xuất hiện  
được sản xuất, chiết xuất, hoặc phân  
trên báo chí ở Đông Dương đã đồng  
phối theo cách kinh tế nhất. Tuy nhiên,  
loạt minh họa những trở ngại này. Tờ  
thực tế phong trào này xảy ra trong  
La Tribune Indochinoise (Diễn đàn  
bối cảnh các điều luật về y tế của  
Đông Dương), số ra ngày 27/7/1938  
chính quyền thực thi không đạt hiệu  
có bài Vận động ủng hộ Đông y minh  
quả, những áp lực chính trị do một số  
chứng khả năng tiếp cận thuốc Tây y  
nhóm lợi ích nhất định quan tâm khi  
của người bản xứ: “Sự biến mất của  
thấy dược liệu Đông y tiếp tục tồn tại.  
những người chữa bệnh thường  
4.2. Ảnh hưởng của những người  
kinh doanh và hành nghề Đông y ở  
Việt Nam  
được gọi là lang băm không nhất  
thiết sẽ dẫn đến sự gia tăng số lượng  
những người theo phương pháp  
Pasteurian(4)… Nhiều trở ngại hiện  
đang cản đường - và sẽ tiếp tục như  
vậy - về sự chấp nhận rộng rãi các  
phương pháp trị liệu ở Châu Âu trong  
Các điều luật về thuốc của chính  
quyền đã ít nhiều ảnh hưởng đến lĩnh  
vực kinh doanh thuốc của các thương  
nhân bản địa, dẫn đến sự can thiệp và  
số đông đảo đồng bào của chúng ta, tranh luận về việc bác bỏ luật pháp  
đặc biệt là những người sống ở nông của chính quyền thuộc địa liên quan  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
73  
đến lĩnh vực hành nghề của họ. Trước kiến của các thầy thuốc cổ truyền đấu  
khi Pháp đầu tư và khai thác ở Việt  
Nam, hoạt động sản xuất và buôn bán  
thuốc rất sinh lợi, đặc biệt là đối với  
cộng đồng người Hoa, phần lớn ở Sài  
Gòn - Chợ Lớn, Hà Nội, Hải Phòng.  
Bên cạnh đó, một số tờ báo quốc ngữ  
ra đời, tham gia quảng cáo về thuốc  
men và các vấn đề về sức khỏe, như  
Phụ nữ tân văn, Nam phong(6) đã đem  
đến những bằng chứng để tin rằng  
những người buôn bán này được  
hưởng lợi đặc biệt từ nhiều loại  
“phương pháp chữa bệnh bí truyền” ở  
Việt Nam. Trong số đó, các phương  
pháp chữa bệnh chống hoa liễu dường  
như được bán rộng rãi nhất (CAOM,  
RST NF, dossier 3856), cũng như  
những phương pháp chữa bệnh khác  
từ các nước Trung Quốc và Nhật Bản.  
tranh cho việc duy trì các hoạt động  
Đông y Đông dược (dẫn theo Đỗ  
Hồng Ngọc, 2001: 34).  
Ngoài việc liên hiệp lại để bảo vệ  
quyền lợi nghề nghiệp, các hội Đông y  
ở Bắc - Trung - Nam còn tham gia vào  
việc phát triển dược liệu và chấn hưng  
Đông y. Thời kỳ này có nhiều cuốn  
sách về y dược học Đông y được xuất  
bản, như: Vệ sinh yếu chỉ của Bùi Văn  
Trung ở Giao Thủy, Nam Định; Bí  
truyền tập yếu của Lê Tư Thùy ở Duy  
Tiên, Hà Nam; Trung Việt dược tính  
nhược biên của Đinh Nho Chấn ở Hà  
Tĩnh; Ngoại khoa bí yếu y lý phương  
Đông và Nam dược bộ của Nguyễn  
An Cư ở Nam Bộ; Việt Nam dược học  
của Phó Đức Thành, Hội Y học Vinh;  
Y học tùng thư của Nguyễn An Nhân,  
Hà Nội (Lê Trần Đức, 1990: 49).  
Bên cạnh các hoạt động kinh tế của  
cộng đồng này, thì sức nặng chính trị  
của các thầy thuốc người Hoa và Việt  
ở Việt Nam cũng minh họa cho những  
trở lực không nhỏ trong việc thực thi  
các chính sách của chính quyền thuộc  
địa. Các thầy thuốc Đông y hầu hết  
được liên kết lại trong các hiệp hội  
bảo vệ quyền “nghề nghiệp” như Y  
Hiệp hội (1900), trụ sở Bến Vân Đồn,  
hay Hội Đông y Nam Kỳ (1937), để  
phản đối một số luật mà chính quyền  
áp đặt lên Đông y. Vào tháng 4/1939,  
ông Đặng Thúc Liêng, Chủ tịch Hội  
Đông y Nam Kỳ cùng ông Phó Đức  
Thành, Chủ tịch Việt Nam Y Dược hội  
ở Vinh (Nghệ An) đã tổ chức Hội chợ  
và Hội thảo Chấn hưng Đông y toàn  
quốc tổ chức tại Vinh, nhằm tập hợp ý  
4.3. Tình hình thực tế sử dụng  
thuốc men của người dân Việt Nam  
Khi người Pháp thiết lập nền y tế  
phương Tây ở Việt Nam thì họ cũng  
gặp phải một số trở ngại về những  
thực tế văn hóa xã hội ở đây. Vào  
năm 1895, bác sĩ Péralle (1895: 17-27)  
đã nêu ra những lý do giải thích cho  
việc người Việt Nam không tin tưởng  
vào y học phương Tây là: người Việt  
Nam sợ đổi mới; chi phí tư vấn và kê  
đơn dược phẩm cao, người bản xứ  
thiếu hiểu biết về “nghi thức hấp thụ”  
của thuốc (chẳng hạn uống thuốc  
trong bao lâu, liều lượng ra sao),  
người Đông Dương quan niệm rằng  
thuốc Tây không được sản xuất phù  
hợp cho thể trạng ốm yếu của người  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
74  
Châu Á; họ từ chối các biện pháp nhận vai trò của Đông y. Trước thực  
phòng ngừa và phẫu thuật; và tất tế sử dụng Tây y và yêu cầu ngày  
nhiên “hành vi mê tín” liên quan đến càng gay gắt của các hiệp hội thầy  
nỗi sợ hãi những người dùng thuốc thuốc Đông y chống lại các quy định  
Tây có thể bị tổ tiên đánh giá xấu vì quá nghiêm ngặt thì chính quyền cũng  
đã bỏ truyền thống của Việt Nam (dẫn từng bước nới lỏng, không hoàn toàn  
lại Monnais-Rousselot, 2003: 19). Các khuyến khích nhưng đã bớt cấm đoán,  
bác sĩ Pháp trong những năm 1920 làm ngơ cho các cơ sở Đông y của  
cũng đã ít nhiều đưa ra những lý do người bản xứ được hoạt động. Trong  
tương tự để giải thích cho sự thờ ơ bối cảnh luôn bị chính quyền không  
của người dân bản xứ đối với thuốc ngừng hạn chế và tìm cách loại bỏ, y  
của phương Tây.  
học cổ truyền và Đông y ở Việt Nam  
đã phát huy sức sống bền vững của  
mình trong đời sống người dân, vừa  
phải vươn lên, đấu tranh chống lại sự  
kỳ thị của chính quyền thuộc địa. Và  
sau hơn cả nửa thế kỷ chiếm đóng  
của người Pháp, Đông y vẫn giữ vai  
trò quan trọng trong nền y học Việt  
Nam. Đông đảo dân chúng thuộc địa  
chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế  
hiện đại, việc chữa bệnh của dân  
chúng vẫn phụ thuộc vào Đông y là  
chính.  
Ở một khía cạnh khác, người Việt  
Nam từ chối sử dụng thuốc Tây không  
phải là từ chối dựa trên sự tin tưởng  
mà là dựa trên sự cần thiết. Điều này  
dẫn đến một xu hướng là nhiều bệnh  
nhân tìm đến các nguồn thuốc cổ  
truyền địa phương. Ngoại trừ các  
bệnh viện nơi bệnh nhân được chăm  
sóc miễn phí và được tiếp cận miễn  
phí với các loại thuốc kê cho họ,  
người Việt Nam ít được tiếp cận với  
các sản phẩm thuốc của Tây y mà họ  
có thể mong muốn sử dụng. Việc ít có 5. KẾT LUẬN  
khả năng tiếp cận có nghĩa là sẽ ít biết  
về chúng, và do đó thuốc Tây hay Tây  
y sẽ không thể nào xuất hiện trong thế  
giới quan về y học của người dân.  
Trong những thập niên đầu thế kỷ XX,  
nhằm phục vụ cho công cuộc khai  
thác quy mô lớn về kinh tế, người  
Pháp đã cố gắng áp dụng một số yếu  
tố của nền y học hiện đại vào Việt  
Nam, đồng thời đưa ra nhiều chính  
sách nhằm hạn chế và loại bỏ y học  
truyền thống của Việt Nam. Tuy nhiên,  
với những khó khăn trong việc ban  
hành các điều luật nhằm hạn chế  
hoạt động của y học cổ truyền Việt  
Nam của chính quyền thuộc địa, cùng  
Ngoài ra, hệ thống các cơ sở y tế, cơ  
sở vật chất, nhân viên y tế… của  
chính quyền thuộc địa chưa đủ đáp  
ứng được nhu cầu của số đông dân  
chúng lúc bấy giờ. Chính vì thế, trong  
thời kỳ Pháp thuộc, sự trường tồn của  
Đông y không chỉ là hiện thực mà còn  
là điều cần thiết.  
Như vậy, từ cuối những năm 1920 trở với thái độ của người Việt Nam đối  
đi, chính quyền thuộc địa ít nhiều thừa  
với sức khỏe và thuốc men, đã khiến  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
75  
hoạt động y tế ở Việt Nam trở nên vô nguyên về y tế của Việt Nam giai đoạn  
sau này.  
cùng phức tạp. Một phần nguyên  
nhân của sự phức tạp này bắt nguồn  
từ những đặc thù về môi trường, bệnh  
lý và văn hóa xã hội nơi đây, có nhiều  
khác biệt so với những đặc điểm mà  
các nhà quản lý thuộc địa và bác sĩ  
phương Tây đã quen thuộc. Những  
khác biệt này rõ ràng đã tác động lớn  
đến việc áp dụng mô hình y tế  
phương Tây và thực tế hoạt động y  
tế ở Việt Nam.  
Ngoài ra, các chính sách của Pháp đối  
với Đông y cho thấy sự xung đột giữa  
lý thuyết và thực tế thực thi ở thuộc  
địa, giữa ý định của nhà cầm quyền  
và hành động thực tiễn, giữa các mục  
tiêu của y tế hóa và ứng dụng của  
chúng trên thực địa, giữa môi trường  
thành thị và nông thôn ở Việt Nam  
thời kỳ này. Việc nhìn nhận vấn đề  
như vậy có thể sẽ mang đến hữu ích  
nhất định trong việc cố gắng hiểu một  
số khía cạnh của chính sách y tế ở  
Việt Nam hiện nay, cũng như ở các  
quốc gia khác, nơi các hoạt động y tế  
truyền thống vốn là lối sống, đã bám  
rễ trong văn hóa truyền thống của địa  
phương.  
Thông qua việc tìm hiểu tình hình hoạt  
động của Đông y Việt Nam trong thời  
Pháp thuộc, phần nào cho thấy sự  
xung đột giữa hai nền y học Đông và  
Tây y, nhưng đồng thời cũng tạo tiền  
đề cho sự giao thoa giữa hai hệ thống  
y tế và sự phát triển hệ thống đa  
CHÚ THÍCH  
(1) Đây là vụ mưu sát và binh biến trong hàng ngũ bồi bếp và binh lính người Việt Nam phục  
vụ cho quân Pháp đóng ở thành Hà Nội diễn ra ngày 27/6/1908. Mục đích của những người  
bồi bếp và binh lính là nhằm đầu độc quân Pháp (bằng cà độc dược) để chiếm Hà Nội, thêm  
sự tiếp ứng và chỉ đạo từ bên ngoài của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, cùng với sự tham  
gia của Phan Bội Châu trong việc vạch kế hoạch để tạo cuộc khởi nghĩa đánh đuổi người  
Pháp.  
(2) Des médicaments Sino-Vietnamiens tức dược liệu Đông y, bao gồm tất cả các thực hành  
cổ truyền không phân biệt vùng miền, nguồn gốc hoặc nội dung cụ thể (cả thuốc Bắc và  
thuốc Nam). Điều này phù hợp với cách mà chính quyền thuộc địa và các bác sĩ Pháp mặc  
định cho nền y học của Việt Nam.  
(3) Điển hình là Albert Sallet ở Huế (ông có nhiều sách viết về các loại thuốc này, cả tên và  
cách dùng của nhiều loại thuốc).  
(4) Là phương pháp thanh trùng là hay còn gọi là tiệt trùng, khử khuẩn. Phương pháp này  
được nhà vi sinh vật và hóa học người Pháp Louis Pasteur nghĩ ra nên đã được đặt theo  
tên ông.  
(5) La Tribune indochinoise (Diễn đàn Đông Dương). “Plaidoirie en faveur de la médecine  
sino-annamite” (Vận động ủng hộ Đông y). Ngày 27/7/1938.  
(6) Các tờ báo, tạp chí này cũng là một nguồn thông tin không thể thiếu về các vấn đề y tế và  
dược phẩm.  
MAI THỊ MỸ VỊ – ĐÔNG Y VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC…  
76  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Thị Hà. 2014. “Sự phổ biến y học Pháp”. Tạp chí Xưa và Nay, số 451 (tháng 9), tr.  
59-61.  
2. Bùi Thị Hà. 2019. Y tế phương Tây ở Bắc kỳ từ năm 1873 đến năm 1945. Luận án  
tiến sĩ. Học viện Khoa học Xã hội.  
3. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), Fonds du Gouvernement général (Gougal)  
dossier 6719, 9831, 9848, 17171, 17172, 17165.  
4. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), Gougal “Service économique” (SE), C49 c  
2 (2).  
5. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM). Résidence Supérieure du Tonkin Nouveau  
Fonds (RST NF) dossier 3683, 3823, 3856.  
6. Đỗ Bang. 2020. “Thái y viện triều Nguyễn – Đỉnh cao trong lịch sử phòng, chữa bệnh,  
tổ chức và đào tạo lương y Việt Nam thời quân chủ”. Tạp chí Khoa học Đại học Huế:  
Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tập 129, số 6E, tr. 105-113.  
7. Đỗ Hồng Ngọc (chủ biên). 2001. Y tế Sài Gòn - TPHCM 300 năm (1698-1998).  
TPHCM: Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khỏe.  
8. Hồ Đắc Duy - Bùi Văn Quế. 1998. “Y tế Sài Gòn xưa”. Tạp chí Xưa và Nay, số 55B.  
9. La Tribune indochinoise. “Plaidoirie en faveur de la médecine sino-annamite”.  
27/7/1938.  
10. Lê Trần Đức. 1990. “Sơ lược lịch sử y học dân tộc”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3.  
11. Monnais, Laurence, Tousignant, Noémi. 2006. “The Colonial Life of Pharmaceuticals:  
Accessibility to Healthcare, Consumption of Medicines, and Medical Pluralism in French  
Vietnam, 1905-1945”. Journal of Vietnamese Studies, Vol. 1, No. 1-2 (February/August),  
12. Monnais-Rousselot, Laurence, Thompson, C. Michele, Wahlberg, Ayo. 2012.  
Southern Medicine for Southern People: Vietnamese Medicine in the Making. Newcastle:  
Cambridge Scholars Publishing.  
13. Monnais-Rousselot, Laurence. 2003. “Which Medications Did They Trust? The rRole  
of French Colonialism in Vietnamese Attitudes Towards Pharmaceuticals, 1858-1939”.  
Paper Presented at Princeton Workshop in the History of Science: Science Across  
Cultures – Historical and Philosophical Perspectives (24 October). New Jersey:  
Princeton University.  
14. Nguyễn Thị Dương. 2017. “Chính quyền nhà Nguyễn với việc cải cách Đông y (thế  
kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX)”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1.  
15. Nội các triều Nguyễn (Nguyễn Danh Chiên dịch). 1993. Khâm định Đại Nam hội điển  
sự lệ – Tập 15: Q.244 - Q.262. Huế: Nxb. Thuận Hóa.  
16. Péralle, Dr. 1895. “De la diffusion de la médecine européenne en Cochinchine”.  
Bulletin de la Société des Etudes indochinoises, pp. 17-27.  
17. Quốc sử quán triều Nguyễn. 1992. Đại Nam nhất thống chí – Tập 1. Huế: Nxb.  
Thuận Hóa.  
18. Viện Sử học. 1993. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ – Tập  
2: Q.10. Huế: Nxb. Thuận Hóa.  
pdf 14 trang Thùy Anh 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đông y Việt Nam thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdong_y_viet_nam_thoi_phap_thuoc_tu_dau_the_ky_xx_den_nam_194.pdf