Giáo trình Kỹ thuật điện tử - Chương 11: Mạch kẹp và mạch giao hoán
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
11
Mạch kẹp và mạch
giao hoán
11-1 Mạch kẹp
Một công việc thường được thực hiện đối với các tín hiệu tuần hoàn là đặt lại vị trí của đỉnh
dương hoặc đỉnh âm của tín hiệu đến một mức tham khảo VR nào đó. Các mạch thực hiện việc này
được gọi là mạch kẹp (clampping circuit). Nói chung, bất cứ khi nào một điểm trong mạch được kết
nối qua một trở kháng thấp đến một nguồn tham khảo VR , ta nói là điểm đó được kẹp tại điện áp
VR , vì điện áp của điểm này sẽ không thể quá sai lệch so với VR . Mạch diode trong hình 10-2 là
một ví dụ của mạch kẹp như vậy vì ngõ ra bị kẹp tại VR bất cứ khi nào ngõ vào vượt quá VR . Trong
các mạch này, chỉ một chiều thay đổi của điện áp là bị kẹp nên ta gọi chúng là các mạch kẹp một
chiều. Hai diode có thể được dùng để tạo nên mạch kẹp hai chiều.
Như ta đã biết, khi một tín hiệu được đưa qua một mạch bằng cách ghép tụ, thành phần dc của
tín hiệu sẽ bị mất. Trong những trường hợp này, mạch kẹp thường được dùng để phục hồi thành
phần dc, do đó nó còn có tên là mạch tái tạo dc.
11-1-1 Dạng sóng
Xét hình 11-1, bao gồm một nguồn vi với nội trở có thể bỏ qua, một tụ và một diode
D . Giả
sử là diode lý tưởng, tức là điểm gián đoạn của nó xảy ra tại 0 V và điện trở phân cực thuận là
không. Tín hiệu vào là một sóng sin bắt đầu tại t = 0. Tụ
tìm dạng sóng ngõ ra vo trên diode.
C
không mang điện tích tại t = 0. Ta sẽ
1/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
Hình 11-1
(a) Mạch kẹp cơ bản; (b) Tín hiệu vào hình sin được đặt vào tại thời điểm
t = 0; (c) Dạng sóng ngõ ra.
Trong một phần tư chu kỳ đầu tiên, tín hiệu vào tăng từ không đến giá trị tối đa Vm . Diode là lý
tưởng nên áp rơi trên nó là không. Kết quả là trong suốt một phần tư chu kỳ đầu tiên, vA
áp trên tụ tăng theo hình sin, tụ nạp điện thông qua nguồn và diode. Như vậy, lúc này vo là
không. Tại cuối của khoảng thời gian này áp rơi trên tụ là vA Vm .
= vi . Điện
C
=
Sau một phần tư chu kỳ này, tín hiệu bắt đầu giảm xuống, điện áp trên tụ không thể bám theo
tín hiệu vào vì tụ không thể xả thông qua diode lúc này đang bị phân cực ngược. Điện áp trên tụ
tiếp tục duy trì là vA
=Vm , điện áp ngõ ra là vo = vi −Vm . Trong suốt các chu kỳ tiếp theo, đỉnh
dương của tín hiệu ra chỉ có thể đạt đến không. Diode không bao giờ dẫn trở lại và đỉnh dương của
tín hiệu ra bị kẹp tại không.
Giả sử là sau khi đạt đến trạng thái xác lập, biên độ tín hiệu vào tăng lên. Khi đó, trong suốt
một phần tư chu kỳ đầu tiên, diode sẽ lại dẫn. Điện áp dc trên tụ C sẽ lại tăng và một lần nữa đỉnh
dương của tín hiệu ra sẽ bị kẹp lại tại mức không. Nhưng nếu biên độ của tín hiệu vào giảm xuống
thì điều gì sẽ xảy ra? Trong trường hợp này, rõ ràng là điện áp dc trên tụ cần phải giảm theo nhưng
trong mạch hình 11-1 không có cách nào để làm được điều này. Để điện áp trên tụ có thể giảm, cần
có một điện trở mắc shunt với tụ hoặc qua diode. Trong trường hợp thứ hai, tụ sẽ xả thông qua một
mạch nối tiếp gồm điện trở shunt của diode và nội trở nguồn.
Mạch hình 11-2(a) trình bày trường hợp có điện trở
trường hợp biên độ tín hiệu vào hình sin đột ngột giảm xuống. hai chu kỳ đầu tiên tương ứng với
giai đoạn xác lập trước đó. Tại thời điểm t t1 , biên độ tín hiệu đột ngột giảm xuống. Vì tụ không
R . Hình 11-2(b) vẽ dạng sóng ngõ ra cho
=
thể xả một cách nhanh chóng, đỉnh dương của ngõ ra giảm xuống dưới không một chút trước khi bị
kẹp lại tại 0 V . Điện áp trên tụ C giảm dần theo hàm mũ khi tụ xả và sau một vài chu kỳ, đỉnh
dương sẽ bằng không trở lại. Trong trường hợp này, không giống với trường hợp không có
R , có
dòng chảy qua tại mỗi đỉnh dương. Ngay cả khi điện áp trên tụ giảm đến giá trị làm cho đỉnh dương
đạt đến không tụ vẫn tiếp tục xả thông qua
R
và nội trở nguồn. Lúc này diode sẽ hỗ trợ cho tụ
2/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
điện. Vì tụ xả chậm nên diode không phải luôn dẫn mà chỉ cần dẫn trong một phần nhỏ của chu kỳ
để nạp lại cho tụ các điện tích bị mất.
Ta thử xem dạng sóng xung quanh đỉnh dương khi diode dẫn. Phần dạng sóng này được trình
bày trên hình 11-2(c). Nếu không có diode, tín hiệu sẽ đi theo đường đứt nét với đỉnh tại t
= t2 .
Nhưng nhờ diode, phần tín hiệu giữa t2 và t2' bị kẹp tại 0 V t2' là thời điểm tại đó tín hiệu sin vừa
.
đạt đến không. Để ít méo dạng, tụ phải bị mất ít điện tích trong quá trình xả, điều này đòi hỏi thời
hằng RC phải rất lớn khi so sánh với chu kỳ của tín hiệu.
Hình 11-2
(a) Mạch kẹp với điện trở xả. (b) Tại t
= t1 , biên độ ngõ vào đột ngột giảm xuống.
Ngõ ra tiến dần đến trạng thái xác lập. (c) Chi tiết của vo tại đỉnh dương đầu tiên.
11-2 Mạch kẹp khi xét đến điện trở diode và nội trở nguồn
Hình 11-3 là mạch đã được bổ sung nội trở nguồn RS và một điện trở phân cực thuận cho
diode Rf . Điện trở Rf có giá trị khoảng vài chục đến vài trăm ohms tùy theo loại diode được sử
dung. Nội trở nguồn có thể bỏ qua hoặc có thể lên đến vài ngàn ohms tùy theo nguồn. Giả sử là
điểm gián đoạn của diode Vγ xảy ra tại 0 V
.
Hình 11-3
Mạch kẹp khi tính cả nội trở RS của nguồn.
Trong thời gian dẫn, diode là một điện trở Rf
.
3/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
Như ta sẽ thấy, độ chính xác của mạch tùy thuộc vào điều kiện
R
ꢀ
Rf . Để phân tích mạch ta
có thể vẽ mạch tương đương của mạch này khi cần tính vo như hình 11-4(a). Mạch hình 11-4(a)
được dùng khi diode dẫn và hình 11-4(b) được dùng khi diode không dẫn. Nếu R ꢀ Rf là không
đúng thì từ hình 11-4(a), Rf phải được thay bằng hai điện trở
11-4(b), nếu điện trở trong vùng tắt của diode không rất lớn hơn
thay bằng tổ hợp song song của hai điện trở. Trong một số trường hợp, trong mạch thật ra không có
, điện trở này có thể là điện trở phân cực ngược Rr của diode.
R
và Rf mắc song song.Trong hình
R
thì điện trở cũng phải được
R
R
11-2-1 Dạng sóng quá độ
Bây giờ ta sẽ xem xét dạng sóng ngõ ra khi một tín hiệu đột ngột được đặt vào mạch và xem
mạch đạt đến trạng thái xác lập như thế nào. Sau một số chu kỳ, mạch sẽ đạt đến trạng thái xác lập
trong đó đỉnh dương sẽ bị kẹp tại không. Trong trường hợp đó ta sẽ dùng mạch tương đương như
hình 11-4 và xử lý như trong ví dụ sau.
Hình 11-4
Mạch tương đương của hình 11-2 để tính vo (a) khi diode dẫn, (b) khi
diode không dẫn. Giả sử là Rr
ꢀ
R
ꢀ
Rf .
Giả sử trong mạch hình 11-3, RS
= Rf =100 Ω, R =10 k, và C =1 µF . Tại t = 0, một tín hiệu
sóng vuông đối xứng với biên độ 10 V , tần số 5 kHz được đặt vào mạch. Như được trình bày
trong hình 11-5, tín hiệu vs đi từ 0 V đến
+10 V . Hãy vẽ vài chu kỳ đầu tiên của dạng sóng ngõ
ra.
Để phân tích được mạch này, ta giả sử tụ C không tích điện ở thời điểm đầu. Dùng mạch
tương đương trong hình 11-4(a) ta có, tại lần nhảy lên 10 V đầu tiên của tín hiệu vào, ngõ ra nhảy
đến
+5 V. Ngõ ra sau đó suy giảm dần về không theo hàm mũ với thời hằng
τ = R + R C = 200 µs
(
)
S
f
Vì chu kỳ T = 200 µs nên tại cuối nửa chu kỳ sóng vuông, tại thời điểm t = T 2 , ngõ ra rơi
xuống đến v t = T 2 = 5e−T 2τ = 3 V .
(
)
o
Tại thời điểm này, vì điện áp trên Rf là 3 V nên điện áp trên tụ là 4 V . Tại thời điểm
t = T 2 + , ngõ vào hạ xuống không, diode tắt và ta dùng hình 11-4(b). Trong mạch này, vA = 4 V
và vS = 0 , nếu bỏ qua RS khi so sánh với
R thì vo = −4 V như trong hình 11-5. Ngõ ra sau đó lại
bắt đầu suy giảm về không. Tuy nhiên, thời hằng bây giờ là RC =10 k×1 µF=10000 µs , tức là lớn
hơn 100 lần so với T 2 . Do đó độ suy giảm là có thể bỏ qua và không được chỉ ra trong hình.
4/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
Hình 11-5
Ví dụ của quá trình
từ quá độ đến xác
lập trong mạch kẹp.
Vì trong khoảng t = T 2 đến t = T điện áp trên tụ không thay đổi, nên tại thời điểm t = T +
,
ngõ ra sẽ trở lại +3 V . Sau đó ngõ ra lại tiếp tục suy giảm về không. Phần suy giảm trong khoảng
t = T đến t = 3T 2 là một sự liên tục của phần trong khoảng t = 0 đến t = T 2 . Nếu tắt cả các
đoạn suy giảm được ghép chung lại với nhau, chúng sẽ tạo nên một dạng sóng liên tục suy giảm
theo hàm mũ từ +5 V đến 0 V
.
Tại t = 3T 2 thì vo = 3e−1 2 =1.8. Quá trình tính toán lại lặp lại như trên và kết quả được trình
bày trong hình. Các chu kỳ tiếp sau, dạng sóng đã xấp xỉ trạng thái xác lập khi đỉnh dương bị kẹp
tại giá trị xấp xỉ 0 V .
11-3 Mạch giao hoán với tải cảm
Trong hình 11-6 vẽ một transistor trong đó tải là một cuộn cảm
L mắc song song với điện trở
R
. Dạng sóng với mức dc tùy ý trong hình 11-7(a) được đặt vào mạch. Khi đó transistor sẽ chuyển
từ trạng thái bão hòa sang trạng thái tắt. Điện trở RC trong mạch collector được dùng để hạn dòng
trong trường hợp transistor bão hòa.
Hình 11-6
Transistor lái tải cảm.
5/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
Hình 11-7
(a) Ngõ vào của hình 11-6;
(b) Điện áp ngõ ra.
Sau khi transistor nằm trong vùng bão hòa trong một thời gian đủ dài để tất cả quá trình quá độ
⎡
⎤
RC . Tức thời ngay tại thời điểm transistor
bị suy giảm, cuộn cảm sẽ có dòng Io
chuyển sang trạng thái tắt, mạch tương đương để tính ngõ ra được vẽ trong hình 11-6(c). Ta bỏ qua
dòng rò của transistor khi ở trạng thái tắt. Dòng cuộn cảm, phải chảy qua , sẽ giảm dần từ Io về
=
VCC
−
VCE
(
sat)
⎣
⎦
R
không với thời hằng L R . Điện áp ngõ ra được vẽ trong hình 8-24(b) và được cho bởi
Rt L
vo
=
VYY
+
Io Re−
(11-1)
Do đó, khi transistor bị lái vào trạng thái tắt, tại collector sẽ xuất hiện một gai dương với biên
độ Io R xếp chồng lên điện áp nguồn cung cấp. Gai dương này có thể trở nên rất lớn khi lớn.
R
Trong thực tế, điện áp đỉnh có thể bị giới hạn bởi điện dung ngang qua cuộn cảm, nhưng ngay cả
trong trường hợp này, điện áp đỉnh cũng có thể lớn hơn vài lần so với áp nguồn.
Khi công tắc trở lại trạng thái bão hoà tại thời điểm t = T2 , cuộn cảm lúc này tức thời hở mạch.
⎡
⎤
Dòng transistor chảy qua
R
là VCC −VCE(sat)
R + R
.
)
C
⎣
⎦
Đặt Io' là dòng transistor tức thời chảy qua transistor tại thời điểm On. Dòng chảy qua
R
sẽ
giảm dần từ Io' về không với hằng số thời gian L R', trong đó
R
'
bằng
R
song song với RC . Ngõ
ra khi t > T2 là
L
vo =VYY − Io' Re−R' t−T
(11-2)
(
)
2
và có dạng gai âm như trong hình 11-7(b) xếp chồng lên điện áp nguồn cung cấp. Gai âm luôn
luôn nhỏ hơn điện áp nguồn vì điện áp collector không thể đảo ngược cực tính. Thời hằng của gai
âm lớn hơn thời hằng gai dương do đó gai âm suy giảm chậm hơn.
11-4 Mạch giao hoán với tải dung
Mạch giao hoán với tải dung được vẽ trong hình 11-8(a). Tại thời điểm t = 0 − , khi transistor
bão hoà, điện áp ngõ ra và dòng collector là
6/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
VCC −VCE(sat)
vo =VCE(sat) và iC =
≡ Io
RC
Các đại lượng này được chỉ ra trong hình 11-8(d). Tại thời điểm t ≥ 0 + , khi mạch đi vào trạng
thái tắt, mạch tương đương được vẽ trong hình 11-8(b). Điện áp collector tăng dần đến VCC với thời
hằng RCCS
.
Tại thời điểm t = T2 + , ngõ vào đột ngột nâng lên, chuyển tiếp base – emitter được phân cực
thuận và dòng base là I = V −V RB . Điện áp collector tại thời điểm này là điện áp VCC trên
(
)
B
CC
γ
C
S . Vì điện áp này phân cực ngược chuyển tiếp collector, transistor làm việc trong vùng tích cực
với dòng collector là IC ≈ β
IB ≡ Io' . Mạch tương đương dùng để tính quá trình xả của tụ được vẽ
trong hình 11-8(c), với Io' là hằng số. Điện áp ngõ ra bắt đầu từ VCC và giảm xuống theo hàm mũ
với thời hằng RCCS hướng đến giá trị xác lập VCC − Io' RC . Khi t ≥ T2 và cho đến khi transistor trở
lại trạng thái bão hoà, ngõ ra là
vo =VCC − Io' RC + Io' RCe− t−T RCCS
(11-3)
Các điều kiện này được vẽ trong hình 11-8(d), ở đây ta đã chỉ ra là Io' > Io vì Io là dòng
collector bão hoà nên Io <
IB trong khi đó Io' = B . Do đó Io' > Io . Khi collector giảm xuống
đến CE(sat) , transistor rơi vào trạng thái bão hoà, dòng collector giảm đến giá trị bão hoà Io và vo
giữ tại VCE(sat) như trong hình 11-8(d). Nếu Io'
Io thì vo giảm gần như tuyến tính theo thời gian
và thời gian xuống nhỏ hơn nhiều so với thời gian lên.
(
)
2
β
β I
V
ꢀ
7/8
Biên soạn: Võ Kỳ Châu – Bộ môn Điện tử, Khoa Điện – Điện tủ
Email: vkchau@dee.hcmut.edu.vn
Hình 11-8
(a) Transistor với tải dung; (b) Mạch tương đương để tính ngõ ra khi transistor tắt; (c) Mạch
tương đương khi mạch base bị kẹp nhưng collector vẫn ở trong vùng tích cực; (d) Ngõ vào vi ,
dòng collector iC , và điện áp ngõ ra vo .
Trong hình 11-8(d) ta đã ngầm giả sử là thời hằng rất nhỏ khi so với T2 hoặc T1 . Nếu thay vì
vậy ta giả sử RCCS rất lớn hơn T2 thì đường lên dạng hàm mũ có thể xấp xỉ với một hàm tuyến
tính. Mạch hoạt động giống như một mạch tích phân và một điện áp bước ngõ vào sẽ chuyển thành
hàm dốc ngõ ra.
8/8
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Kỹ thuật điện tử - Chương 11: Mạch kẹp và mạch giao hoán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_ky_thuat_dien_tu_chuong_11_mach_kep_va_mach_giao.pdf

