Giáo trình Kế toán quản trị (Phần 1)

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I  
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC  
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP  
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG  
NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP  
Ban hành theo Quyết đị nh số 1661/QĐ-CĐGTVTTWI ngày 31/10/2017 của Hiệu  
trưởng Trường Cao đẳng GTVT Trung ương I  
Hà Nội, 2017  
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI  
TRƢỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƢƠNG I  
GIÁO TRÌNH  
Môn học: Kế toán quản trị  
NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
Hà Nội – 2017  
2
Mục lục  
Lời nói đầu……………………………………………………………………………...4  
Chương 1: Doanh nghiệp và tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp  
1. Bản chất hoạt động kinh doanh……………………………………………………….5  
2. Doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp…………………………………………….13  
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp ……………………………………..19  
Chương 2: Lập chiến lược, kế hoạch trong quản trị doanh nghiệp  
1. Chiến lƣợc…………………………………………………………………………...26  
2. Lập kế hoạch………………………………………………………………………...31  
3. Kỹ thuật dự thảo chiến lƣợc trong quản trị kinh doanh……………………………..35  
Chương 3: Quản trị nhân sự, khoa học - công nghệ trong doanh nghiệp  
1. Nội dung của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp…………………………………53  
2. Quản trị khoa học công nghệ trong doanh nghiệp ………………………………….54  
Chương 4: Quản trị chi phí, kết quả và các chính sách tài chính doanh nghiệp  
1. Quản trị chi phí, kết quả……………………………………………………………..67  
2. Quản trị các chính sách tài chính doanh nghiệp ……………………………………73  
Chương 5: Kế toán và ra quyết định  
1. Thông tin kế toán……………………………………………………………………84  
2. Kế toán và ra quyết định…………………………………………………………….90  
3. Kiểm soát trong doanh nghiệp ……………………………………………………...91  
Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………96  
3
Lời nói đầu  
Trong hệ thống thông tin kế toán nói chung, quản trị doanh nghiệp là một bộ  
phận cấu thành không thể thiết đƣợc trong các doanh nghiệp kinh doanh, đơn vị sự  
nghiệp có thu. Quản trị doanh nghiệp với chức năng là công cụ hữu hiệu cung cấp dòng  
thông tin cho các cấp quản lý để đƣa ra các quyết định điều hành mọi hoạt động  
nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất.  
Để phục vụ kịp thời nhu cầu học tập, nghiên cứu của đông đảo các đối tƣợng là học  
viên, sinh viên, nghiên cứu sinh, kế toán tổng hợp, kế toán trƣởng, nhà quản trị kinh  
doanh...; Cho các bậc đào tạo: Đại học, sau đại học, bồi dƣỡng nâng cao... tập thể giáo  
viện thuộc chuyên nghành kế toán trƣờng CĐ Giao thông vận tải TW1 đã biên  
soạn cuốn giáo trình quản trị doanh nghiệp.  
Giáo trình này biên soạn dựa trên cơ sở tham khảo các tài liệu quản trị doanh nghiệp  
của những nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, giáo trình quản trị doanh nghiệp  
của các trƣờng đại học khối kinh tế đầu ngành ở Việt Nam, tài liệu hội thảo quốc  
tế... đồng thời kết hợp với thông tƣ hƣớng dẫn kế toán quản trị của Bộ Tài Chính.  
4
Chương 1:  
DOANH NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY DOANH NGHIỆP  
I. Bản chất hoạt động kinh doanh  
Hằng ngày chúng ta mua hàng hoá dùng trong sinh hoat, hay mua để bán lại...  
những doanh nghiệp cung cấp ra thị trƣờng hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu  
cho khách hàng thông qua các nhà phân phối trung gian hoặc cung cấp trực tiếp thông  
qua các cửa hàng của công ty... để đƣa sản phẩm đến ngƣời tiêu dùng. Quá trình này  
đƣợc thực hiện liên tục thông qua sự vận động của thị trƣờng. Các hoạt động đó gọi là  
kinh doanh vậy kinh doanh là cầu nối giữa tổ chức và ngƣời tiêu dùng.  
Giả dụ rằng, công ty COCA COLA mua nguyên vật liệu để sản xuất ra nƣớc  
giải khát đáp ứng nhu cầu giải khát cho khách hàng, thông qua các đại lý, nhà bán lẻ.  
Hay hãng điện tử LG sản xuất các thiết bị điện tử cung cấp cho thị trƣờng sản xuất và  
tiêu dùng...và ta nói rằng họ đang kinh doanh. Vì tất cả các nhà sản xuất , phân phối  
trên đêu mong muốn có lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của mình. Trong quá  
trình này dù nhà kinh doanh có thực hiện hết các công đoạn đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu  
thụ hay chỉ một công đoạn trong giai đoạn đầu tƣ cũng đều là kinh doanh.  
Vậy kinh doanh là gì?  
Kinh doanh là một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ  
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm (hàng hoá- dịch vụ) trên thị trường nhằm mục đích thu  
lợi nhuận.  
Kinh doanh là việc dùng công sức và tiền của để tổ chức các hoạt động nhằm mục  
đích kiếm lời trên thị trường.  
Kinh doanh là bỏ ra một số vốn ban đầu vào hoạt động trên thị trường để thu lại  
một lượng vốn lớn hơn sau một khoảng thời gian nào đấy.  
1.1. Vai trò của kinh doanh:  
Kinh doanh hiểu theo nghĩa rộng nhất là một thuật ngữ chung để chỉ tất cả  
những tổ chức và hoạt động sản xuất ra hàng hoá hay dịch vụ cần thiết cho cuộc sống  
hằng ngày của con ngƣời.  
Nhƣ vây, vai trò của kinh doanh là thoả mãn các nhu cầu cần thiết của con  
ngƣời. Các tổ chức kinh doanh khác với các tổ chức khác ở chổ chúng sản xuất ra hàng  
5
hoá hay cung cấp các loại dịch vụ với mục đích thu đƣợc lợi nhuận nhằm mở rộng hơn  
nữa hoạt động kinh doanh.  
Để đạt đƣợc mục đích này các doanh nghiệp phải sản xuất ra các loại hàng hoá,  
dịch vụ mà khách hàng cần. Nếu không thoả mản những mong muốn đó của khách  
hàng doanh nghiệp sẻ bị phá sản.  
1.2 Bản chất của hệ thống kinh doanh  
Kinh doanh là một hệ thống sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu  
của con ngƣời, của xã hội.  
Bản thân kinh doanh có thể đƣợc coi nhƣ một hệ thống tổng thể bao gồm những hệ  
thống cấp dƣới nhỏ hơn là các ngành kinh doanh, mỗi ngành kinh doanh đƣợc tạo thành  
bởi nhiều doanh nghiệp có quy mô khác nhau, sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau.  
Mỗi doanh nghiệp lại bao gồm nhiều hệ thống con nhƣ sản xuất, tài chính, marketing...  
Tuy nhiên, về cơ bản một hệ thống kinh doanh nhận đƣợc các yếu tố nhập lƣợng từ  
môi trƣờng, nó chế biến các yếu tố này sau đó sản xuất ra các xuất lƣợng cho hệ thống  
xã hội. Quá trình này có thể tóm tắt trong sơ đồ sau:  
Bản chất của kinh doanh:  
- Doanh nghiệp tiếp nhận các nhập lƣợng và hoạt động trong những điều kiện  
đặc thù tùy theo loại hình kinh doanh. Tuy nhiên có điểm chung là các yếu tố nhập  
lƣợng chỉ có giới hạn hay đƣợc gọi là khan hiếm đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.  
- Doanh nghiệp sử dụng các nhập lƣợng theo cách thức hiệu quả nhất.  
Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp yêu cầu hàng hóa đƣợc bán với giá phải  
chăng và có chất lƣợng thích hợp. Một doanh nghiệp thành công phải luôn luôn phát  
hiện đƣợc những nhu cầu mới hoặc nhu cầu còn thiếu, chƣa đƣợc đáp ứng của ngƣời  
tiêu dùng và luôn luôn sẵn sàng thỏa mãn các nhu cầu đó.  
6
Dƣới áp lực của cạnh tranh và sức mua của ngƣời tiêu dùng, các nhà sản xuất sẽ  
cố gắng sử dụng có hiệu quả hơn thiết bị, nguyên liệu và lao động để tạo ra nhiều hàng  
hóa hơn, có chất lƣợng tốt hơn. Do đó, khi theo đuổi những quyền lợi riêng tất yếu  
doanh nghiệp sẽ đồng thời tạo ra lợi ích cho xã hội, bởi các doanh nghiệp sẽ phải thỏa  
mãn các nhu cầu của xã hội khi cố gắng thỏa mãn những ham muốn của họ. Trong lúc  
theo đuổi lợi nhuận, nhà kinh doanh cũng phải phục vụ ngƣời tiêu dùng và phục vụ lợi  
ích xã hội. Quan niệm này là nền tảng của nền kinh tế thị trƣờng.  
- Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và xã hội.  
1.3 Sự cần thiết của hoạt động kinh doanh  
Thế giới của chúng ta có hàng triệu ngƣời sống trong nhiều quốc gia khác nhau, nói  
những ngôn ngữ khác nhau và thuộc những nhóm chủng tộc khác nhau. Dù vậy con  
ngƣời có chung một số nhu cầu cơ bản, ai cũng cần thức ăn để thoả mản khi đói, thức  
uống để làm hết khát và quần áo để giữ ấm cơ thể. Con ngƣời cần có nhà cửa để nghỉ  
ngơi, thuốc men và những chăm sóc đặc biệt khi ốm đau. Vì nhiều lý do khác nhau con  
ngƣời cần phải đi từ nơi này đến nơi khác, và khi cách xa họ cần phải liên lạc với nhau.  
Trong giờ rảnh rổi họ muốn đƣợc thƣ giản, nghe nhạc, xem tivi, hay đi dạo trong công  
viên.  
Và nhƣ vậy, kinh doanh thoả mãn các nhu cầu của con ngƣời. Bởi lẽ, trong đời sống  
xã hội, có rất nhiều phƣơng pháp để thoả mản các nhu cầu của con ngƣời và mỗi ngƣời  
thƣờng biết cách sử dụng những phƣơng pháp thích hợp để thoả mản nhu cầu của cá  
nhân. Một số ngƣời dùng gạo làm thực phẩm chính để thoả mản khi đói, một số ngƣời  
khác thì dùng lúa mì... hay để giải khác có ngƣời dùng bia, hay nƣớc khoáng...hay sự  
di chuyển có thể bằng tàu hoả hoặc máy bay. Và các nhà kinh doanh đều phải đáp ứng  
những nhu cầu ấy thông qua quá trình kinh doanh và sự di chuyển hàng hoá từ nơi này  
đến nơi khác.  
Con ngƣời luôn cảm thấy cần phải trao đổi những thứ dƣ thừa lấy những thứ họ  
không có và đó chính cơ sở cho sự trao đổi hiện vật ra đời. Khi thƣơng mại phát triển,  
kim loại quí nhƣ vàng bạc đƣợc sử dụng làm trung gian trao đổi để thuận tiện cho việc  
trao đổi.  
7
Thực tế trong sự vận của cuộc sống, thì con ngƣời có rất nhiều nhu cầu cần thoả  
mản, một số nhu cầu do bản thân con ngƣời thấy thiếu và nảy sinh. Nhƣng cũng có nhu  
cầu đƣợc nãy sinh từ những nhà kinh doanh, mà con ngƣời chƣa nghĩ đến. Nhƣ vậy lúc  
này kinh doanh lại mang đến cho con ngƣời sự thoả mản. Điều này kinh doanh không  
chỉ đáp ứng nhu cầu mà còn sinh ra nhu cầu, nó mang đến cho ngƣời tiêu dùng sự hài  
lòng mà bản thân họ mong đợi. Đây chính là quan điểm kinh doanh hiện nay.  
Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra bƣớc ngoặc lịch sử dẫn tới sự cơ giới hoá nền  
sản xuất. Sự phát minh ra máy móc, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, cùng quá  
trình đô thị hoá diển ra trong thế kỷ hai mƣơi đã thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá và  
tạo ra sự cần thiết phải quản trị các hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả. Với sự  
ra đời của các phƣơng tiện vận chuỷên hiện đại bằng đƣờng hàng không và đƣờng biển  
đã tạo ra một sác thái mới trong hệ thống kinh doanh hiện đại. Và sự trao đổi , giao lƣu  
hàng hoá giữa các quốc gia đã mang đến cho kinh doanh một vị thế mới mà trƣớc đây  
không có. Sự thay đổi này, đã làm cho thị trƣờng mở rộng, sự phát triển của kinh doanh  
cũng chính là sự phát triển của sự hoà nhập và sự phát triển của kinh tế của mỗi quốc  
gia và thế giới.  
1.4 Các hình thức của hoạt động kinh doanh  
1.4.1. Sản xuất:  
Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kì hoạt động nào nhằm thoả mãn nhu cầu của  
con ngƣời. Nó có thể đƣợc phân chia thành: sản xuất bậc1, sản xuất bậc 2 và sản xuất  
bậc ba.  
a. Sản xuất bậc 1 (hay sản xuất sơ chế)  
Sản xuất bậc một là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc  
là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn ở dạng tự nhiên. Trong  
khai thác mỏ ngƣời ta lấy quặng và khoáng chất từ đất đá. Trong ngƣ nghiệp, con ngƣời  
đáng bắt cá từ sông biển hay nuôi chúng trong các ao hồ nhân tạo. Trong nông nghiệp,  
nhà nông trồng trọt và thu hoạch hoa màu; còn trong lâm nghiệp, những ngƣời thợ rừng  
đốn cây khai thác gỗ.  
b. Sản xuất bậc 2 (hay công nghiệp chế tạo):  
8
Sản xuất bậc 2 là hình thức sản xuất, chế tạo chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài  
nguyên thiên nhiên thành hàng hoá. Quặng sắt biến thành thép tấm hay ống thép, gỗ  
đƣợc chế biến thành đồ đạc trong nhà, da sống đƣợc chế biến thành giày dép hay các  
sản phẩm bằng da khác. Nhiều nhà máy sản xuất ra các loại sợi, từ các nguyên liệu thô  
nhƣ bông tơ tằm len hoặc từ sợi tổng hợp. Các nhà máy sử dụng các loại sợi này làm  
nguyên liệu thô chế tạo thành áo quần, đồ trang sức hay các đồ dùng gia đình khác.  
Sản xuất bậc hai bao gồm cả quá trình chế tạo ra các bộ phận cấu thành đƣợc dùng  
để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp. Đồng thời sản xuất bậc  
hai còn bao gồm cả việc chế tạo các linh kiện rời, bán thành phẩm để cung cấp cho các  
nhà sản xuất lắp ráp ôtô sử dụng dây chuyền đồng bộ máy móc và dụng cụ, đƣợc các  
nhà chế taọ cung cấp động cơ, bình ắc quy, võ kính, nệm xe...để ráp thành xe ôtô.  
Mặc dù, một số quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, họ vẫn có thể sản  
xuất sản phẩm cấp hai bằng cách nhập khẩu các loại nguyên liệu thô. Ví dụ nhƣ các nhà  
sản xuất vỏ xe Nhật Bản dựa vào nguồn nhập cao su từ các nƣớc Đông Nam Á. Nhật  
Bản nhập khẩu quặng sắt và cung cấp thép cho các nhà chế tạo ôtô, Hồng Kông nhập  
khẩu nhựa và là nơi sản xuất đồ chơi trẻ em đứng đầu thế giới, hay nhƣ Singapore  
không có nhiều dầu mỏ nhƣng đả trở thành trung tâm lọc dầu lớn thứ ba trên thế giới.  
c. Sản xuất bậc ba (hay công nghiệp dịch vụ)  
Trong nền sản xuất bậc ba, dịch vụ đƣợc sản xuất ra nhiều hơn các hàng hoá hữu  
hình. Các nhà sản xuất công nghiệp đƣợc cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch  
vụ trong một phạm vi rộng lớn. Các công ty vận tải chuyên chở sản phẩm của các nhà  
sản xuất từ nhà máy đến cửa hàng bán lẻ. Các nhà buôn và các nhà bán lẻ cung cấp  
những hàng hoá và dịch vụ đến những ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Các loại dịch vụ  
khác nhƣ bốc, dở hàng hoá lên, xuống tàu thuyền máy bay hay các loại dịch vụ bƣu  
điện, viễn thông, các loại dịch vụ công cộng, bất động sản, ngân hàng tài chính, bảo  
hiểm và các loại dịch vụ khách sạn nhà hành đều thuộc sản xuất bậc ba. Ngoài ra, các  
loại dịch vụ do các nhà chuyên môn nhƣ bác sỹ, chuyên viên kế toán, luật, giáo viên, kỹ  
sƣ, nhạc sỹ và các loại dịch vụ do chính phủ cung cấp cũng thuộc lĩnh vực sản xuất bậc  
ba.  
1.4.2. Phân phối sản phẩm  
9
Phân phối đề cập đến việc đƣa hàng hoá và dịch vụ từ nhà sản xuất đến ngƣời tiêu  
thụ, bao gồm việc vận chuyển nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp tới tận dây chuyền  
sản xuất. Phân phối bao hàm cả việc xếp hàng vào kho, quản lý nguyên liệu sản phẩm  
hoàn thành, bao bì, kiểm soát tồn kho và vận chuyển đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng.  
Một hệ thống phân phối hiệu quả sẽ tối thiểu hoá việc tồn đọng tiền vốn trong nguyên,  
vật liệu tồn kho hay trong sản phẩm hoàn thành. Các nhà sản xuất thƣờng rất muốn  
phân phối trực tiếp đến tận tay của ngƣời tiêu dùng. Chẳng hạn một trại bò sữa địa  
phƣơng có thể giao sửa đến tận nhà khác hàng... tuy nhiên, hiện nay có rất ít hàng hoá  
đƣợc phân phối theo phƣơng thức này, mà đa số các nhà sản xuất dựa vào các nhà bán  
buôn, bán lẻ để đƣa hàn hoá đến tay ngƣời tiêu dùng.  
Các nhà sản xuất hàng công nghiệp cũng rất cần những kênh phân phối này, dù trực  
tiếp hay không trực tiếp tạo cho hàng hoá của họ có thể tìm đƣợc những ngƣời mua. Sự  
giao dịch trực tiếp với nhà sản xuất hàng công nghiệp - chẳng hạn nhƣ với các nhà chế  
tạo máy móc - có một thuận lợi nhất định nếu các máy móc đó có nhu cầu lắp đặt, sửa  
chữa, về mặt chuyên môn hay đƣơc bảo hành đặt biệt. Nhƣ lĩnh vực điện tử, công nghệ  
thông tin, công nghiệp chế tạo (xe máy, xe ôtô..)  
Nhà cung cấp dịch vụ cũng cần đến mạng lƣới phân phối. Các nhà cung cấp điện  
nƣớc cũng cần phải có một hệ thống vận chuyển các dịch vụ này đến ngƣời sử dụng;  
công ty điện thoại phải nối các cuộc điện đàm trong nƣớc và quốc tế. Công ty vận tải  
phải xây dựng một hệ thống vận chuyển hoàn chỉnh nhanh chóng để phục vụ khách  
hàng một cách hiệu quả nhất vƣợt qua địa hình khác nhau.  
Một hệ thống phân phối tốt sẽ mở rộng thị trƣờng tiêu thu cho sản phẩm, tránh đƣợc  
tình trạng phải bảo quản nguyên vật liệu hàng hoá tồn kho với số lƣợng lớn và bảo đảm  
cho hàng hoá dịch vụ luôn đựơc đƣa đến bất cứ nơi nào, vào bất cứ thời điểm nào khi  
cần thiết.  
1.4.3. Tiêu thụ  
Thử thách lớn nhất của nhà sản xuất là nhu cầu của thị trƣờng đối với sản phẩm, dịch  
vụ của ông ta, điều này thể hiện qua khối lƣợng hàng hoá dịch vụ bán ra trên thị trƣờng.  
Nhƣng trƣớc tiên phải làm cho ngƣời tiêu dùng biết rằng các sản phẩm mà họ cần đã có  
sẵn trên thị trƣờng. Để đạt đƣợc điều này nhà sản xuất thƣờng cố gắng cổ động nhằm  
10  
tạo ra sự nhận biết về sản phẩm dịch vụ của ông ta. Nhà sản xuất cũng có thể trực tiếp  
tiến hành các hoạt động cổ động này nhằm vào khách hàng tiềm năng. Những ngƣời có  
thể có sức mua nhƣng chƣa muốn mua.  
Chỉ có thể duy trì đƣợc mức tiêu thụ mạnh khi ngƣời mua có sức mua cần thiết, điều  
này phụ thuộc vào thu nhập và cách thức tiêu thụ của ngƣời tiêu dùng. Không phải tất  
cả thu nhập của cá nhân đều dành cho tiêu dùng, vì mỗi một cá nhân phải có bổn phận  
về mặt tài chính nhƣ đóng thuế thu nhập hay để dành một số tiền nhất định vào khoản  
dự phòng của anh ta hoặc phải dành tiền cho các khoản chi tiêu khác. Sau khi khấu trừ  
những khoản chi tiêu mang tính chất nghĩa vụ này, phần thu nhập còn lại mới có thể  
đƣợc sử dụng cho việc mua sắm cá nhân.  
Nhu cầu hay cách thức tiêu thụ của một ngƣời cũng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố  
khác, chẳng hạn nhƣ độ tuổi của anh ta. Đối với trẻ em, những sản phẩm phù hợp với  
chúng là đồ chơi và quần áo trẻ em; còn các em trong độ tuổi đi học thì cần sách vở,  
tiền học phí và dụng cụ thể thao. Những thanh niên mới kết hôn cần cần đồ đạt và dụng  
cụ gia đình, còn đối với những ngƣời trung niên có thể phải xây nhà riêng và có khả  
năng mua sắm những đồ dùng sang trọng. Những ngƣời lớn tuổi cần các dịch vụ y tế và  
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đặc biệt.  
Gần đây, các tổ chức kinh doanh đã bắt đầu phải đƣơng đầu với một loạt yêu cầu  
khác của ngƣời tiêu dùng, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng. Ngày nay có thêm nhu cầu  
nữa của khách hàng là cần đƣợc bảo vệ trƣớc những hành vi kinh doanh vô đạo đức.  
Đầu những năm 60 các hội bảo vệ ngƣời tiêu dùng đã đƣợc thành lập trong nhiều quốc  
gia nhằm đảm bảo cho ngƣời tiêu dùng đƣợc hƣởng những quyền lợi căn bản về sự an  
toàn, đƣợc quyền cung cấp thông tin, đựoc lựa chon và biết những điều cần thiết về giá  
cả ...  
Sức mua của ngƣời tiêu dùng có thể gia tăng do uy tín của nhà cung cấp, những  
ngƣời kinh doanh các loại hàng lâu bền nhƣ tủ lạnh có thể chấp nhận bằng phƣơng  
pháp trả góp. Một ngân hàng hay công ty tài chính tài trợ những khoản tín dụng mua trả  
chậm này có thể đƣợc hoàn trả dần trong những khoản thời gian mƣời hay hai mƣơi  
năm. Các tổ chức kinh doanh có thể vay mƣợn từ các định chế tài chính khác (ngân  
hàng thƣơng mại, công ty tài chính, hay thông qua thị trƣòng chứng khoán...). Vai trò  
11  
của các định chế tài chính là huy động những khoản tiền tiết kiệm nhàn rổi để tài trợ  
cho sản xuất và tiêu thụ. Ba loại hình căn bản của hoạt dông kinh doanh có thể tóm tắt  
bằng sơ đồ sau:  
Nhà sản xuất tạo ra các loại hàng hóa và dịch vụ có giá trị  
phù hợp với chủng lại và số lƣợng  
SẢN XUẤT  
PHÂN PHỐI  
TIÊU DÙNG  
Mạng lƣới phân phối đƣa hàng hoá và dịch  
vụ đến ngƣời tiêu thụ hay ngƣời sử dụng  
cuôi cùng  
Tiêu thụ phản ánh mức độ của nhu cầu đối với  
hàng hoá và dịch vụ. Sức mua hoặc nhu cầu đƣợc  
gia tăng tuỳ thuộc vào khả năng tài chính  
Các hình thức căn bản của hoạt động kinh doanh  
1.5 Những đặc điểm của một hệ thống kinh doanh  
a) Sự phức tạp và tính đa dạng:  
Hệ thống kinh doanh hiện đại là một cơ cấu rất phức tạp gồm có nhiều khu vực. Mỗi  
khu vực do nhiều ngành tạo nên. Mỗi ngành lại đƣợc tạo thành từ nhiều tổ chức kinh  
doanh mà các tổ chức kinh doanh này thay đổi trong những giới hạn hình thức sở hữu,  
qui mô kinh doanh, cơ cấu vốn, phong cách quản trị và phạm vi hoạt động. Chẳng hạn:  
khu vực sản xuất đƣợc tạo nên bằng các nhà máy lắp ráp ôtô, chế tạo đồ điện gia dụng  
(ấm đun nƣớc, nồi cơm điện, tủ lạnh,...) và các sản phẩm điện tử (máy ghi âm, cassetle,  
đầu máy và ti vi, máy tính, máy vi tính,...). Khu vực dịch vụ bao gồm các loại dịch vụ  
nhƣ vận tải, ngân hàng, các dịch vụ chuyên nghiệp. Ngành công ty vận tải đƣợc tạo  
thành bởi các ngành: đƣờng sắt, vận tải biển, vận tải ôtô, hàng không. Ngành công  
nghiệp dịch vụ bao gồm các đại lý vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các khu vƣờn  
quốc gia. Ngành dịch vụ chuyên nghiệp bao gồm các luật sƣ, kiến trúc sƣ, bác sĩ,  
chuyên viên kế toán, nhà kinh doanh bất động sản... Trong mỗi ngành công nghiệp này,  
12  
một số công ty chỉ hoạt động có tính chất cục bộ địa phƣơng. Trong khi đó nhiều công  
ty khác có văn phòng tại nhiều quốc gia nhƣ Morgan Stanley - Dean Wither, Novartis C  
Sandoz và Ciba - Geigy, Hilton, Holiday Inn...  
b) Sự phụ thuộc lẫn nhau:  
Các tổ chức kinh doanh hợp tác với nhau trong hoạt động kinh doanh. Một công ty  
mua nguyên liệu thô hay các chi tiết rơi từ nhiều công ty khác, sau đó bán các sản phẩm  
hoàn thành cho các nhà bán buôn, bán lẻ và những ngƣời này đem bán chúng cho  
những ngƣời sử dụng cuối cùng. Trong tiến trình đó, tất cả các tổ chức kinh doanh này  
đều phụ thuộc vào sự cung ứng dịch vụ của các công ty vận tải, các ngân hàng và nhiều  
công ty khác. Vì vậy sự phụ thuộc lẫn nhau là một hệ thống kinh doanh riêng của hệ  
thống kinh doanh hiện đại.  
c) Sự thay đổi và đổi mới:  
Để đảm bảo thành công, các tổ chức kinh doanh phải đáp ứng kịp thời những thay  
đổi thị hiếu và nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Hệ quả tất yếu của các tiến bộ công nghệ  
là nhiều sản phẩm nhanh chóng trở nên lỗi thời và bị thay thế. Bởi vậy sự thay đổi và  
đổi mới là những đặc trƣng quan trọng trong hệ thống kinh doanh hiện đại.  
2 Doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp  
2.1. Khái niệm doanh nghiệp:  
* Một số quan điểm về doanh nghiệp:  
Hiện nay trên phƣơng diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh  
nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị  
nhất định. Điều ấy cũng là đƣơng nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm  
khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn:  
- Xét theo quan điểm luật pháp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân,  
có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch  
toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu  
tƣ do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nƣớc bằng các loại luật và  
chính sách thực thi  
- Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "Doanh  
nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó ngƣời ta kết hợp các yếu tố sản xuất  
13  
(có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực  
hiện nhằm bán ra trên thị trƣờng những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận đƣợc  
khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.  
(M.Francois Peroux).  
- Xét theo quan điểm phát triển thì "doanh nghiệp là một cộng đồng ngƣời sản xuất ra  
những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc  
vƣợt qua những thời kỳ nguy kịch và ngƣợc lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi  
tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vƣợt qua đƣợc”. (trích từ sách "kinh tế  
doanh nghiệp của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 )  
- Xét theo quan điểm hệ thống thì doanh nghiệp đƣợc các tác giả nói trên xem rằng  
doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận đƣợc tổ chức, có tác động qua lại và  
theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4  
phân hệ sau: sản xuất, thƣơng mại, tổ chức, nhân sự.  
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh  
nghiệp dƣới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều  
có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên  
phƣơng diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến  
các mối quan hệ với môi trƣờng, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh  
nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải đƣợc cấu thành bởi những yếu  
tố sau đây:  
* Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức  
năng quản lý nhƣ các bộ phận sản xuất, bộ phận thƣơng mại, bộ phận hành chính.  
* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tƣ, thông tin.  
* Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thƣơng mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm  
sao cho có lợi ở đầu ra.  
* Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nƣớc, trích  
lập quỹ và tính cho hoạt động tƣơng lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu  
đƣợc.  
Từ cách nhìn nhận nhƣ trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp nhƣ sau:  
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài  
14  
chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, phân phối,  
tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng,  
thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các  
mục tiêu xã hội.  
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tƣ cách pháp nhân: Tƣ cách pháp  
nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp  
trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nƣớc khẳng định và xác định. Việc khẳng định  
tƣ cách pháp nhân của doanh nghiệp với tƣ cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó  
đƣợc nhà nƣớc bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có  
trách nhiệm đối với ngƣời tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nƣớc, trách nhiệm đối  
với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc  
thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể.  
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền  
với địa phƣơng nơi nó tồn tại.  
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản  
lĩnh của ngƣời sáng lập (tƣ nhân, tập thể hay Nhà nƣớc); quá trình phát triển thậm chí  
có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống  
của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lƣợng quản lý của những ngƣời tạo ra nó.  
- Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phƣơng  
nhất định, sự phát triển cũng nhƣ suy giảm của nó ảnh hƣởng đến địa phƣơng đó.  
Từ định nghĩa nêu trên chúng ta có thể rút ra những đặc điểm hoạt động của Doanh  
nghiệp nhƣ sau:  
Chức năng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp là không thể tách rời nhau,  
ngƣợc lại chúng có mối quan hệ chặt chẻ với nhau và tạo thành một chu trình  
khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp.  
Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, tuy nhiên đi  
kèm mục tiêu kinh tế hoạt động của doanh nghiệp còn phải hƣớng tới những mục  
tiêu xã hội nhất định.  
Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn  
tại và phát triển. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lƣợc kinh  
15  
doanh thích ứng cũng nhƣ phải có công cụ, giải pháp phù hợp để thực hiện chiến  
lƣợc đó.  
2.2Khái niệm về quản trị doanh nghiệp:  
Quản trị đƣợc hiểu là tổng hợp các hoạt động đƣợc thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn  
thành công việc thông qua nỗ lực của ngƣời khác. Sự thực hiện quản trị liên quan chủ  
yếu đến việc huy động mọi phƣơng tiện (tài nguyên) mà nhà quản trị có thể sử dụng để  
đạt đƣợc những mục tiêu mà nhà quản trị tự đề ra hoặc đƣợc giao cho.  
Một cách chung nhất, có thể hiểu quản trị là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản  
trị đến đối tƣợng quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức.  
Quản trị doanh nghiệp là tổng hợp những hoạt động đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc  
mục tiêu xác định thông qua sự nỗ lực của những ngƣời khác trong doanh nghiệp.  
Quản trị doanh nghiệp là một khoa học, đồng thời cũng là một nghệ thuật liên quan  
đến việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) theo các chƣơng  
trình kinh doanh trong những điều kiện môi trƣờng xác định nhằm thực hiện mục tiêu  
của doanh nghiệp.  
2.3. Các hình thức tổ chức doanh nghiệp  
Căn cứ vào hình thức sở hữu  
2.3.1. Doanh nghiệp một chủ sở hữu  
a. Doanh nghiệp Nhà nước  
- Khái niệm: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý,  
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu KT-XH do  
Nhà nước giao.  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Là một pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nƣớc  
+ Có thẩm quyền kinh tế bình đẳng so với các DN khác và hạch toán độc lập  
trong phạm vi vốn điều lệ  
+ Giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và đƣợc giao chức năng kinh doanh hoặc  
chức năng hoạt động công ích  
+ Có trụ sở chính đặt trên lãnh thổ Việt Nam  
16  
(Chú ý: Theo quy định của Luật DN thì chậm nhất sau 4 năm các DNNN phải chuyển  
đổi thành Công ty cổ phần hoặc Công ty TNHH)  
b. Doanh nghiệp tư nhân  
- Khái niệm: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng  
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Do 1 ngƣời bỏ vốn ra, tự làm chủ, đồng thời cũng là ngƣời quản lý DN. Một ngƣời  
chỉ đƣợc phép thành lập 1 DNTN.  
+ Không có tƣ cách pháp nhân, tức là chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về  
mọi khoản nợ của doanh nghiệp.  
+ Chủ DN là ngƣời đại diện theo pháp luật, có thể trực tiếp hoặc thuê ngƣời quản lý,  
điều hành hoạt động kinh doanh.  
+ Chủ DN có quyền cho thuê hoặc bán DN do mình sở hữu  
+ Không đƣợc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào  
c. Công ty TNHH một thành viên  
- Khái niệm: Là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Chủ DN có quyền quyết định mọi vấn đề hoạt động SX-KD đƣợc quy định trong  
Điều lệ công ty  
+ Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong  
phạm vi số vốn điều lệ  
+ Chủ sở hữu có quyền chuyển nhƣợng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ  
chức, cá nhân khác  
+ Có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh  
+ Không đƣợc quyền phát hành cổ phần  
2.3.2. Doanh nghiệp nhhiều chủ sở hữu  
a. Công ty hợp danh  
- Khái niệm: Là doanh nghiệp phải có ít nhất 2 thành viên là chủ sở hữu chung của  
công ty, cùng kinh doanh dưới một tên chung, gọi là thành viên hợp danh. Ngoài các  
thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn.  
17  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Thành viên hợp danh phải là cá nhân và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản  
của mình về các nghĩa vụ của c. ty  
+ Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào công ty  
+ Có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh  
+ Không đƣợc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào  
b. Công ty TNHH hai thành viên trở lên  
- Khái niệm: Là doanh nghiệp trong đó các thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân,  
số lượng thành viên không vượt quá 50 cùng cam kết góp vốn thành lập công ty  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong  
phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp  
+ Thành viên muốn chuyển nhƣợng một phần hoặc toàn bộ vốn góp trƣớc hết phải  
chuyển nhƣợng cho các thành viên còn lại rồi mới đƣợc chuyển nhƣợng cho ngƣời  
ngoài  
+ Có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh  
+ Không đƣợc quyền phát hành cổ phần  
c. Công ty cổ phần  
- Khái niệm: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng  
nhau gọi là cổ phần. Thành viên sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, cổ đông có thể là tổ  
chức hoặc cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm  
vi số vốn góp vào doanh nghiệp  
+ Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận  
quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần, có thể ghi tên hoặc không ghi tên  
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần trừ trƣờng hợp quy định bởi Luật  
pháp  
+ Có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký KD  
+ Có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn  
18  
d. Hợp tác xã  
- Khái niệm: HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (xã  
viên) có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của  
pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên tham gia HTX. Cùng  
giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động SX-KD và nâng cao đời sống vật chất  
tinh thần, góp phần phát triển KT-XH của đất nước.  
- Đặc điểm cơ bản:  
+ Đại hội xã viên có quyền quyết định cao nhất, bầu ra Ban quản trị làm nhiệm vụ  
điều hành hoạt động của HTX  
+ Thu nhập của xã viên đƣợc phân phối chủ yếu theo lao động  
+ Có thể huy động cổ phần của xã viên hoặc ngƣời ngoài HTX để tăng vốn  
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp:  
3.1. Các yêu cầu chủ yếu:  
Phải đảm bảo hoàn thành những nhiệm vụ của doanh nghiệp, phải thực hiện đầy  
đủ toàn diện các chức năng quản lý doanh nghiệp.  
Phải đảm bảo thực hiện nghiêm túc chế độ một thủ trƣởng, chế độ trách nhiệm cá  
nhân trên cơ sở bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của tập thể lao động trong  
doanh nghiệp.  
Phải phù hợp với quy mô sản xuất, thích ứng với những đặc điểm kinh tế và kỹ  
thuật của doanh nghiệp.  
Phải đảm bảo yêu cầu vừa tinh giản, vừa vững mạnh trong bộ máy quản lý.  
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức doanh nghiệp  
Chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp.  
Mục tiêu của doanh nghiệp  
Tính ổn định của môi trƣờng  
Tình hình công nghệ  
Môi trƣờng văn hóa  
Sự khác biệt giữa các bộ phận của doanh nghiệp  
Quy mô của doanh nghiệp  
Phƣơng pháp và kiểu quản trị  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 53 trang Thùy Anh 13660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kế toán quản trị (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ke_toan_quan_tri_phan_1.pdf