Đề kiểm tra Định kì môn Ngữ văn Lớp 12 - Bài viết số 5 - Năm học 2016-2017 - Trường THPT Tôn Đức Thắng (Có đáp án)

SỞ GD& ĐT NINH THUẬN  
ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KỲ - NĂM HỌC 2016 - 2017  
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 12 - BÀI VIẾT SỐ 5  
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian giao đề)  
TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG  
(Đề chính thức)  
Đề 1:  
I. Đọc hiểu văn bản (3 điểm)  
Đọc đoạn thơ dưới đây và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 3:  
Nếu đổi được kiếp này tôi xin hóa thành cây,  
Thử những nhát rìu rạch sâu da thịt.  
Trong biển lửa bập bùng thử mình cháy khét,  
Thử chịu thói độc tàn, thử sống kiên trung.  
Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa ruộng đồng,  
Thử nếm vị thuốc sâu, thử sặc mùi hóa chất,  
Thử chịu bão giông, thử sâu rày, khô khát,  
Thử ngập mặn, triều cường, núi lửa, sóng thần dâng.  
Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa đại dương,  
Thử dầu loang hắc nồng, mùi cá trôi hôi thối,  
Đau vì kiệt tài nguyên, khổ vì không biết nói,  
Thử biết gồng mình, thử quằn quại đứng lên.  
Nếu đổi được kiếp này, tôi xin làm không khí,  
Thử khói bụi ngày đêm, thử ngột ngạt trưa hè,  
Thử không còn trong xanh vì lũ người ích kỷ,  
Thử tiếng ồn đinh tai, thử cái chết cận kề.  
Tôi làm gì đây? Khi vẫn kiếp con người!  
Tôi nhận về bao nhiêu? Tôi lấy gì trả lại?  
Tôi phá hoại những gì? Tôi đã từng hối cải?  
Xin đổi được kiếp này...!  
Trời đất có cho tôi ???  
(Xin đổi kiếp này, – Nguyễn Bích Ngân – trường THCS Nguyễn Đình Chiểu – Hà Nội)  
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của bài thơ trên?  
Câu 2 (1.5 điểm): Tác giả thể hiện thái độ gì đối với các vấn đề còn tồn tại của xã hội? Thái độ đó  
được bộc lộ qua những yếu tố ngôn ngữ nào?  
Câu 3 (1.0 điểm): Xác định 2 biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản và nêu tác dụng của  
chúng?  
II. Tạo lập văn bản (7 điểm)  
Câu 1 (2.0 điểm): Anh (chị) suy nghĩ gì về vấn đề ô nhiểm môi trường hiện nay? Trình bày quan  
điểm của mình trước vấn đề này bằng một đoạn văn không quá 200 từ.  
Câu 2 (5.0 điểm): Anh (chị) hãy phân tích hình tượng người lái đò trong tác phẩm "Người lái đò  
sông Đà" của Nguyễn Tuân.  
(SGK Ngữ Văn 12 - NXB Giáo Dục)  
-------------- Hết -------------  
Họ và tên học sinh:………………………Lớp: ……… Số báo danh:…………………..  
SỞ GD& ĐT NINH THUẬN  
ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KỲ - NĂM HỌC 2016 - 2017  
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 12 - BÀI VIẾT SỐ 5  
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian giao đề)  
TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG  
(Đề chính thức)  
Đề 2:  
I. PHẦN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (3,0 điểm):  
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi (từ 1 đến 3)  
“Lễ hội dân gian là sự kiện văn hóa để tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần, thể hiện  
sức mạnh của cộng đồng làng xã và rộng hơn là của quốc gia, dân tộc […] nhưng ngày nay, lễ hội dân  
gian lại đang dần biến tướng thành tệ nạn với nhiều hành vi phản văn hóa.  
Đó là cảnh người dân chen chúc, xô đẩy, tranh cướp lộc của nhau, một số bạn trẻ nóng tính dẫn  
đến tình trạng ẩu đả, đánh nhau tại lễ hội. Chẳng hạn như lễ hội phết Hiền Quan, Phú Thọ được tổ  
chức vào mồng 13 tháng giêng mới đây, hàng ngàn thanh niên trai tráng tham gia cướp lộc, chen lấn,  
xô đẩy, dẫm đạp lên nhau khiến ít nhất 10 người ngất xỉu.  
[…] Không chỉ người dân đang đua nhau dùng đồng tiền để thực hiện các hoạt động mua thần, bán  
thánh, nhiều ngôi chùa cũng tranh thủ thời cơ để kiếm chác. Khi có những ngôi chùa làm lễ dâng sao  
giải hạn có mức giá cụ thể. Thậm chí có những ngôi chùa lại chọn hình thức tính tiền theo sớ, khoảng  
500.000 đồng cho cả gia đình. Một số nơi còn có hiện tượng ra giá cúng sao xấu tùy theo mệnh, theo  
tử vi và có hiện tượng tăng giá so với các năm trước.  
Lễ hội đầu năm là để cầu phúc, lễ chùa đầu năm là để cầu an và chắc chắn sẽ không có phúc lành,  
bình an ở những nơi mà con người ứng xử với nhau bằng những nắm đấm, bằng bạo lực, bằng những  
hành động mua thần bán thánh hay bằng những cơ hội kiếm chác mất nhân tính. Có thể nói, tín  
ngưỡng của người dân Việt Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người.”  
(Trích bài báo Xót xa nhìn tín ngưỡng bị “bán đứng” vì lòng tham trên http://vietq.vn, ngày 23/02/2016)  
Câu 1 (1,0 đ): Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Xác định phương thức biểu đạt chính  
được sử dụng trong văn bản?  
Câu 2 (1,0 đ): Nêu nội dung chính của văn bản trên?  
Câu 3 (1,0 đ): Theo anh(chị), căn cứ vào đâu để tác giả cho rằng: “tín ngưỡng của người dân Việt  
Nam đang bị “bán đứng” bởi lòng tham của chính con người” ?  
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm):  
Câu 1 (2,0 đ): Hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 dòng) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về hiện  
tượng được đề cập đến trong phần Đọc hiểu văn bản và nêu một số giải pháp khắc phục.  
Câu 2 (5.0 điểm): Anh (chị) hãy phân tích hình tượng người lái đò trong tác phẩm "Người lái đò  
sông Đà" của Nguyễn Tuân.  
(SGK Ngữ Văn 12 - NXB Giáo Dục)  
-------------- Hết -------------  
Họ và tên học sinh:………………………Lớp: ……… Số báo danh:…………………..  
V. HƯỚNG DẪN CHẤM  
1. Hướng dẫn chung  
- GV cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh, tránh  
cách đếm ý cho điểm.  
- GV cần chú ý đến đặc điểm nhận thức – tâm lí của học sinh trung học phổ thông, đặc trưng của môn  
Ngữ văn để đánh giá chính xác, linh hoạt năng lực Ngữ văn của các em, khuyến khích những bài viết  
có cảm xúc, sáng tạo nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Chấp nhận bài viết không  
giống gợi ý trong hướng dẫn chấm nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục. Không cho  
điểm cao những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.  
- Việc chi tiết hoá điểm số (nếu có) phải đảm bảo điểm số quy định tối đa của mỗi phần, câu, ý, phải  
được thống nhất trong tổ chấm và ghi biên bản.  
2. Hướng dẫn cụ thể  
Đề 1  
Yêu cầu cần đạt  
Điểm  
I. Đọc hiểu văn bản  
3.0  
1. Xác định thể thơ của bài thơ trên?  
Thơ Tự do  
2. Tác giả thể hiện thái độ gì đối với các vấn đề còn tồn tại của xã hội?  
Bài thơ như một lời trăn trở, bi thương, đau đáu của tác giả về môi trường sống bị tàn  
phá, bị hủy hoại không thương tiếc bởi sự tham lam, ích kỉ của con người: cây cối bị  
chặt phá; rừng bị đốt cháy; đồng ruộng bị ô nhiễm bởi thuốc sâu, hóa chất; đại dương ô  
nhiễm; không khí ô nhiễm,…- Tác giả khẩn thiết báo động, đã cảnh tỉnh mọi người về  
“cái chết cận kề”, cái chết không tránh khỏi của nhân dân ta và của cả loài người.  
0.5  
1.0  
* Thái độ đó được bộc lộ qua những yếu tố ngôn ngữ nào?  
- Nhà thơ nhí Bích Ngân đã “xin đổi kiếp” người để hóa thân thành “cây”, thành  
“ruộng đồng”, thành “đại dương”, thành “không khí” để “thử” chịu đựng, “thử” đối  
phó, “thử” sống còn trước sức tàn phá, sức hủy hoại của thiên tai và nhất là của con  
người.  
- Nguyễn Bích Ngân đã xót xa kêu lên: “Đau vì kiệt tài nguyên, khổ vì không biết nói”,  
đồng thời chỉ ra thủ phạm của tất cả những điều tệ hại, khủng khiếp ấy. Đó là “vì lũ  
người ích kỷ”.  
0.5  
3. Các biện pháp tu từ trong đoạn thơ và chỉ ra hiệu quả nghệ thuật:  
- Bài thơ sử dụng thành công các biện pháp tu từ: kết cấu trùng điệp, lặp từ, lặp cấu  
trúc, liệt kê, hàng loạt câu hỏi cuối bài thơ,...  
0.5  
0.5  
- Hiệu quả nghệ thuật:  
+ Kết cấu trùng điệp theo tứ thơ “xin đổi kiếp này”, liệt kê, lặp,... diễn tả bao quát bức  
tranh toàn cảnh của môi trường thiên nhiên, xã hội đang bị hủy hoại bởi chính con  
người từ sông biển núi rùng tới không khí, ruộng đồng....  
+ Bài thơ khép lại bằng cả loạt câu nghi vấn ở ngôi thứ nhất, tác giả tự hỏi. Nhưng, đó  
cũng là những câu hỏi gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm, đánh thức lương tâm, trách  
nhiệm của con người trong cách ứng xử với môi trường sống.  
Lưu ý: HS trả lời đúng 2 biện pháp tu từ trong số các biện pháp tu từ nêu trên và chỉ ra  
được hiệu quả NT thì được điểm tối đa.  
II. Tạo lập văn bản  
Câu 1  
7.0  
2.0  
HS trình bày suy nghĩ, quan điểm của mình về vấn đề nhiểm môi trường hiện nay  
nhưng vẫn đảm bảo một số ý chính sau:  
- Thực trạng về vấn đề ô nhiễm môi trường  
- Hậu quả: môi trường sống không an toàn, mất vệ sinh ảnh hưởng đến sức khoẻ, dịch  
bệnh gia tăng, tuổi thọ giảm sút,… (nêu dẫn chứng cụ thể).  
- Nguyên nhân: nhận thức của người dân về môi trường còn thấp; pháp luật chưa xử lý  
nghiêm các vi phạm về môi trường; nhà nước, các công ty thiếu hoặc chưa đầu tư vào  
việc xử lý vệ sinh môi trường…  
0.25  
0.25  
0.5  
- Giải pháp: giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường; xử phạt nặng các vi phạm về  
môi trường…  
0.5  
- Liên hệ bản thân: có ý thức tự giác góp phần vào việc giữ gìn môi trường sống ở địa  
phương và nhà trường, nơi công cộng, thể hiện qua những việc làm cụ thể (không xả  
rác bừa bãi, tham gia công tác làm vệ sinh ở trường, lớp, khu phố,…)  
0.5  
- Không mắc lỗi chính tả, đảm bảo yêu cầu của một đoạn văn, diễn đạt mạch lạc, có ý  
sáng tạo.  
I. Phần Đọc – hiểu  
3,0  
- Phong cách ngôn ngữ báo chí. (0,5 đ)  
- Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. (0,5 đ)  
Câu 1  
Câu 2  
1,0  
Nội dung của văn bản: Văn bản đề cập đến hiện tượng người dân chen lấn, xô  
đẩy, tranh cướp, ẩu đả, trục lợi,… trong lễ hội đầu năm.  
Căn cứ (HS chỉ ra được 2 dẫn chứng):  
1,0  
Đề 2  
- Cảnh người dân chen chúc, xô đẩy, tranh cướp lộc của nhau, một số bạn trẻ  
nóng tính dẫn đến tình trạng ẩu đả, đánh nhau tại lễ hội.  
- Không chỉ người dân đang đua nhau dùng đồng tiền để thực hiện các hoạt  
động mua thần, bán thánh mà nhiều ngôi chùa cũng tranh thủ thời cơ để kiếm  
chác.  
0,5  
0,5  
Câu 3  
II. Phần Làm văn  
7,0  
2,0  
0,25  
Câu 1: Trình bày suy nghĩ về hiện tượng ở phần Đọc hiểu  
* Về hình thức: Học sinh trình bày trong một đoạn văn khoảng 15 dòng, bố cục chặt chẽ, diễn  
đạt lưu loát…  
* Về nội dung: cần đảm bảo các ý:  
0,25  
0,5  
- Dẫn dắt vấn đề, giới thiệu hiện tượng.  
- Nêu hậu quả: làm không ít người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em hoảng loạn, ngất xỉu…, làm  
mất đi nét đẹp của lễ hội truyền thống, bôi nhọ văn hóa tâm linh của dân tộc.  
- Nguyên nhân:  
0,5  
+ Thái độ thiếu ý thức và thiếu hiểu biết trong khi thực hiện tín ngưỡng văn hóa tâm linh.  
+ Lòng tham về lợi ích của nhiều người dân Việt Nam.  
+ Một phần do công tác quản lí còn chưa hiệu quả.  
- Giải pháp:  
0,5  
+ Từ phía các cơ quan chức năng: tăng cường công tác quản lí, tuyên truyền giáo dục ý thức  
cho người dân tham gia lễ hội, xử phạt nghiêm minh những người vi phạm…  
+ Từ phía mỗi người dân: mỗi con người phải nhìn lại và nhận thức đúng về cách ứng xử,  
điều chỉnh hành vi của mình khi đến chùa và những nơi tâm linh.  
+ Bài học cho bản thân khi tham gia lễ hội: tham gia với tấm lòng thành kính, chân thành,  
không chen lấn xô đẩy, tranh cướp…  
Câu 2 (chung cho cả 2 đề 1 & 2)  
5.0  
* Về kĩ năng: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên cần phải  
đảm bảo một số yêu cầu về kĩ năng dưới đây:  
- Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học về một một tác phẩm văn xuôi.  
- Biết vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt vào trong  
bài làm.  
- Văn viết sáng tạo, sinh động, giàu cảm xúc, dẫn chứng sinh động, chính xác. Bố cục  
rõ ràng, trình bày sạch đẹp, không mắc các lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu.  
* Về kiến thức  
Trên cơ sở những hiểu biết về tác phẩm, học sinh có thể phân tích, trình bày suy nghĩ  
của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục, không  
được thoát li văn bản, mang tính thẩm mĩ, thái độ nghiêm túc, không phiến diện, không  
trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là vài gợi ý:  
I. Mở bài  
- Đôi nét về tác giả Nguyễn Tuân  
- Giới thiệu về thiên tùy bút Sông Đà, “Người lái đò sông Đà”  
- Giới thiệu về hình tượng ngưòi lái đò.  
1.0  
II. Thân bài:  
3.0  
1. Ngoại hình:  
0.5  
- Người lái đò là ông già 70 tuổi, dành phần lớn đời mình cho nghề lái đò.  
- “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như  
kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt  
ghềnh sông, thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng, chất mun… ->. Những từ  
láy gợi hình, gợi cảm, những hình ảnh so sánh ví von độc đáo, gắn với những hình ảnh  
của nghề sông nước, gợi ông lái đò gân guốc, khỏe mạnh, lanh lẹ.  
2. Người lái đò thông minh tài trí  
0.5  
- Ông nhớ tỉ mỉ như đống đanh vào lòng tất cả các luồng nước của tất cả các con thác  
hiểm trở.  
- Sông Đà đối với ông như một trường thiên anh hùng ca mà ông thuộc cả những cái  
chấm thang, chấm câu và những đoạn xuống dòng.  
- Nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, biết rõ từng cửa tử, cửa sinh trên thạch  
trận sông Đà.  
- “Cưỡi lên thác sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” kinh nghiệm vượt thác.  
- Ông đã chỉ huy những cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan, tài trí và nhờ vậy  
ông đã chiến thắng được sông Đà hung dữ.  
3. Ông lái đò rất mực dũng cảm:  
0.5  
- Cuộc chiến giữa ông lái đò và sông Đà là không cân sức: một bên là thiên nhiên lớn  
lao dữ dội, một bên là con người nhỏ bé.  
+ “Một số hòn đá nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền, mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ  
ngược….mặt nước hò la vang dậy…và vào mà bẻ gãy cán chèo…sóng nước như thể  
quân liều mạng….mà sát nách, mà đá trái, mà húc vào bụng và hông thuyền. Có lúc  
chúng đội cả thuyền lên”  
+ Các luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm….  
+ Ông lái đò tả xung hữu đột, vượt qua các tập đoàn cửa tử, cửa sinh của thạch trận  
sông Đà.  
+ Ông lái đò kiên cường chịu đựng nỗi đau thể xác do cuộc vật lộn với sóng thác: “ông  
đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy buồng lái, mặt méo bệt đi….”  
- Ông đà chiến thắng sông Đà hung dữ bằng những động tác táo bạo mà chuẩn xác,  
thay đổi chiến thuật hợp lý. Người lái đò nhờ sự thông minh, bản lĩnh, dũng cảm có thể  
phá thành vượt ải như một chiến tướng bách chiến, bách thắng trong cuộc chiến chống  
thiên nhiên.  
4. Ông lái đò tài hoa nghệ sĩ:  
0.5  
- Ông lái đò như một nghệ sĩ trong nghệ thuật leo ghềnh vuợt thác. (nắm chặt lấy được  
cái bờm sóng, ông đò ghì cương lái….thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua  
nước., vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn đuợc..). Lái đò trở thành một nghệ thuật  
siêu phàm.  
- Vượt qua ba vòng thạch trận đầy khó khăn, nguy hiểm nhưng sau đó ông đò cũng như  
những nhà đò khác chẳng bàn lời nào về những chiến thắng vừa qua mà họ chỉ nói về  
cá anh vũ, cá dầm xanh, …Họ thật khiêm nhường, cái phi thường đã trở thành cái bình  
thường, chất chiến sĩ hòa vào phong thái tài hoa, nghệ sĩ.  
5. Ông lái đò là một hình tượng đẹp đẽ về người lao động mới:  
- Người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong cuộc sống lao  
động hằng ngày.  
- Với “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc “chất vàng 0.5  
mười” trong nhân cách con người.  
- Điều đó chứng tỏ trong cảm xúc thẩm mỹ của Nguyễn Tuân, người lao động đẹp và  
quý hơn tất cả.  
6. Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân khi xây dựng hình tượng ông lái đò.  
- Sử dụng vốn kiến thức uyên bác sâu rộng trong nhiều lĩnh vực: quân sự, điện ảnh, võ  
thuật,…  
- Tạo tình huống đầy thử thách.  
0.5  
- Sử dụng từ ngữ góc cạnh, giàu chất tạo hình, gợi liên tưởng, so sánh, nhân hoá bất  
ngờ mà vô cùng chính xác.  
III. Kết bài:  
- Đánh giá chung về hình tượng người lái đò.  
1.0  
- Phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân.  
* Lưu ý: Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý trên.  
Khuyến khích những bài viết sáng tạo, giải quyết vấn đề thuyết phục, thể hiện vốn sống phong  
phú.  
VI. KIỂM TRA VIỆC BIÊN SOẠN ĐỀ: (Đã kiểm tra)  
----- HẾT -----  
doc 6 trang Thùy Anh 18720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra Định kì môn Ngữ văn Lớp 12 - Bài viết số 5 - Năm học 2016-2017 - Trường THPT Tôn Đức Thắng (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docde_kiem_tra_dinh_ki_mon_ngu_van_lop_12_bai_viet_so_5_nam_hoc.doc