Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của thế hệ Z tại Thành phố Hồ Chí Minh

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG  
VÍ ĐIỆN TỬ CỦA THẾ HỆ Z TẠI TP. HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Thị Nhật Ý, Phan Thị Diễm Sương, Đặng Ng c Phương  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Hà Thị Thùy Trang  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu ‚Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Ví điện tử của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh‛  
được thực hiện nhằm xác định những nhân tố có ảnh hưởng đến ý định sử dụng Ví điện tử của thế  
hệ Z bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6  
nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Ví điện tử của thế hệ Z, bao gồm: (1) Nhận thức dễ sử dụng,  
(2) Nhận thức về sự hữu ích, (3) Nhận thức về sự bảo mật, (4) Ảnh hưởng xã hội, (5) Điều kiện thuận  
lợi, (6) Niềm tin. Dựa trên kết quả nghiên cứu thu thập được, nhóm tác giả đề xuất những hàm ý đối  
với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Ví điện tử nhằm cải thiện và phát huy những nhân tố có tác  
động tích cực nhằm thúc đẩy ý định sử dụng của người tiêu dùng.  
Từ khóa: Nhận thức dễ sử dụng, Niềm tin, Thế hệ Z, Ví điện tử, Ý định sử dụng.  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử hiện nay đã đặt ra một nhu cầu mới của người  
tiêu dùng về sự tiện lợi khi thực hiện thanh toán. Và Ví điện tử đã dần trở thành một hình thức thanh  
toán mới, an toàn, tiện lợi, phù hợp với điều kiện công nghệ và nhu cầu của người tiêu dùng. Chính  
các ưu điểm trên đã mang lại sự hài lòng cho khách hàng khi thực hiện thanh toán, thu hút họ sử  
dụng sản phẩm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Ví điện tử, điều này giúp các doanh nghiệp  
gia tăng sự cạnh tranh của mình trên thị trường[11]. Sớm nhận thức sự xuất hiện và phát triển Ví điện  
tử chính là xu thế tất yếu đối với ngành thương mại điện tử nói riêng cũng như kinh tế của một quốc  
gia nói chung. Chính vì thế nên nhiều quốc gia hiện nay trên thế giới đang dần sử dụng Ví điện tử  
như một hình thức thanh toán mới thay thế cho tiền mặt, hướng đến mục tiêu một đất nước không  
tiền mặt nhằm tăng khả năng cạnh tranh phát triển về kinh tế. Từ đó, nhiều nghiên cứu ra đời với  
mục tiêu tìm ra những nhân tố có thể thúc đẩy và phát triển ý định sử dụng Ví điện tử của người tiêu  
dùng thuộc thế hệ Z.  
2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT  
Ví điện tử: Năm 1996, Ví điện tử lần đầu tiên ra đời với tên là ‚ví kỹ thuật số‛ do Sam Pitroda -  
người sáng lập Digital Wallet, sáng chế và giới thiệu tại Hoa Kỳ. Sau khi ra đời, Ví điện tử đã phát  
triển về cả chức năng lẫn mạng lưới hoạt động và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà  
nghiên cứu. Theo GSMA (2012) thì Ví điện tử là một ứng dụng phần mềm trong thiết bị di động có  
1846  
vai trò tương tự như ví truyền thống có thể giữ thẻ thanh toán, biên lai, chứng từ, vé, thẻ khách hàng  
thân thiết và các mục tương tự [7].  
Thế hệ Z: Thế hệ Z là những người sinh sau năm 1995, năm mà việc thương mại hóa internet bắt  
đầu [6]. Được tiếp xúc công nghệ kỹ thuật số kể từ khi họ được sinh ra, thế hệ Z đã phát triển các đặc  
điểm khác biệt so với thế hệ trước họ là thế hệ Millennials (những người được sinh ra trong khoảng  
thời gian 1977-1994) là ngay từ nhỏ không phải được giáo dục quá nhiều về công nghệ nhưng thói  
quen của thế hệ này bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chúng [15].  
Ý định sử dụng: Theo Ajzen và cộng sự (1991) thì ý định là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi,  
[2]  
nó chỉ ra mức độ mà một người sẵn sàng thử, mức độ nỗ lực thực hiện để hoàn thành hành vi .  
Theo đó, chúng ta có thể hiểu rằng ý định sử dụng Ví điện tử là sự sẵn sàng thực hiện việc tìm hiểu,  
nghiên cứu về Ví điện tử để đi đến quyết định sử dụng.  
Nhận thức dễ sử dụng: Nhận thức dễ sử dụng được định nghĩa là mức độ mà một người tin  
rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể là không có nỗ lực [4]. Trong những nghiên cứu trước đây của  
Hanudin Amin (2009) và Jay Trivedi (2016) cũng cho thấy được nếu nhận thức dễ sử dụng càng cao  
sẽ ảnh hưởng đến ý định sử dụng Ví điện tử càng cao [9,10]  
.
Nhận thức về sự bảo mật: Theo Taheam và cộng sự (2016) thì bảo mật là một thành phần có ý  
nghĩa tích cực ảnh hưởng đến việc sử dụng Ví điện tử [13]. Nói cách khác, khi hệ thống Ví điện tử an  
toàn và bảo mật hơn, nó sẽ thúc đẩy nhiều người sử dụng Ví điện tử hơn.  
Ảnh hưởng xã hội: Ảnh hưởng xã hội được hiểu là nhận thức của một người về áp lực xã hội để  
[3]  
tham gia hoặc không tham gia vào một hành vi nghiêm trọng . Đối với một cá nhân, ý kiến của  
những người quan trọng bao gồm gia đ nh, bạn bè và các nhóm tham khảo sẽ có ảnh hưởng một  
cách nhất định đến sự cân nhắc sử dụng một sản phẩm mới. Điều đó cũng có ý nghĩa rằng ý định  
sử dụng Ví điện tử của một người sẽ tăng lên nếu những người thân thiết xung quanh họ khuyến  
khích họ theo đuổi và sử dụng nó. [13]  
Nhận thức về sự hữu ích: Nhận thức về sự hữu ích là mức độ mà người tiêu dùng tin rằng sử  
dụng một hệ thống sẽ giúp họ thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ tốt hơn [5]. Đối với lĩnh vực dịch vụ,  
thanh toán bằng Ví điện tử, người tiêu dùng có ý định sử dụng nó cao hơn vì nó có lợi thế tương đối  
hơn so với các phương thức khác như tiền mặt và thanh toán thẻ [11].  
Điều kiện thuận lợi: Điều kiện thuận lợi được hiểu là sự hỗ trợ từ các nguồn lực sẵn có (thiết bị,  
công nghệ, kiến thức,…  cho việc sử dụng Ví điện tử [1]. Các điều kiện thuận lợi đề cập đến các cơ sở  
hạ tầng và kỹ thuật dùng để hỗ trợ việc sử dụng một sản phẩm cụ thể nào đó một cách thuận lợi  
hơn [14].  
Niềm tin: Niềm tin có thể được định nghĩa là kỳ vọng tích cực của người tiêu dùng đối với nhà  
cung cấp dịch vụ [12]. Sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với thanh toán điện tử phụ thuộc vào  
niềm tin của họ về việc các mối quan tâm của họ sẽ được giải quyết [8]. Một tổ chức cung cấp dịch  
vụ Ví điện tử tạo được niềm tin cho người dùng sẽ giúp cho người tiêu dùng có ý định sử dụng Ví  
điện tử cao hơn.  
1847  
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất.  
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng. Đối với nghiên cứu định tính, dựa  
vào các nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả tiến hành xây dựng thang đo, sau đó kết hợp ý kiến  
của các chuyên gia để điều chỉnh lại thang đo và hoàn chỉnh bảng câu hỏi cho nghiên cứu chính  
thức. Đối với nghiên cứu định lượng, nhóm tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với  
kích thước mẫu là 327 và tiến hành khảo sát những người thuộc thế hệ Z trên địa bàn Thành phố  
Hồ Chí Minh thông qua khảo sát trực tuyến. Các thang đo trong mô hình lần lượt được đánh giá độ  
tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và để kiểm định mô hình, nghiên cứu này sử dụng  
hồi quy hồi quy tuyến tính bội. Việc phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0.  
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo  
Nhân tố Ý định sử dụng có hệ số Cronbach's Alpha đạt 0,852, Nhận thức về sự hữu ích đạt 0,818,  
Nhận thức dễ sử dụng đạt 0,832, Nhận thức về sự bảo mật đạt 0,887, Điều kiện thuận lợi đạt 0,804,  
Ảnh hưởng xã hội đạt 0,879, Niềm tin đạt 0,809, và tất cả các biến quan sát có hệ số tương quan  
biến ” tổng lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là 0,3. Vậy tất cả 6 nhân tố đều đủ điều kiện để thực hiện  
phân tích nhân tố khám phá. Khi xem xét tương quan trong tổng thể của từng biến quan sát có 28  
biến có thể tiến hành trong phân tích nhân tố khám phá.  
4.2 Kết quả sau phân tích khám phá (EFA)  
4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định sử dụng  
Ở lần chạy EFA đầu tiên, kết quả kiểm định Barlett cho thấy giữa các biến trong tổng thể có mối  
tương quan với nhau (sig=0,000 < 0,05). Đồng thời, hệ số KMO (lần 1) = 0,921 > 0,5 chứng tỏ phân  
tích nhân tố để nhóm các biến lại với nhau là thích hợp và dữ liệu phù hợp với việc phân tích nhân  
tố. Tổng phương sai trích cho thấy, 6 nhân tố đều có giá trị Eigenvalue >1, tổng phương sai trích là  
64,739 > 50% là đạt yêu cầu. Với phương pháp rút trích Principal Components Analysis và phép  
quay Varimax, có 6 nhân tố được rút trích ra và 6 nhân tố này giải thích được 64,739% sự thay đổi  
của biến phụ thuộc trong tổng thể. Qua ma trận xoay cho thấy thang đo được chấp nhận và phân  
thành 6 nhóm. Tất cả các biến của các thành phần thang đo đều có trọng số (Factor loading) lớn  
hơn 0,50. Riêng biến HI4 có hiệu số < 0,3 nên biến HI4 sẽ bị loại ở lần phân tích thứ nhất.  
1848  
Nhóm tác giả tiến hành chạy lại EFA sau khi loại biến HI4 ra khỏi ô Variable, tiến hành kiểm định lại  
các điều kiện tương tự như trên. Lần phân tích tiếp theo này các điều kiện là trọng số (Factor  
loading) ≥ 0,50 và hiệu số > 0,3 đều đạt. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) lần cuối (lần thứ  
2), như sau:  
Bảng 1: KMO and Bartlett’s Test (lần cuối)  
Chỉ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin)  
,918  
Kiểm định Barlett  
Giá trị Chi-Square  
Bậc tự do  
Sig.  
4,362,757  
351  
0,000  
Bảng 2: Kiểm định EFA ” EIGENVALUES (lần cuối)  
Hệ số Eigenvalues  hởi tạo  
Chỉ số sau  hi tr ch  
Tổng  
Tổng  
Nhân tố  
Phương  
Phương  
phương  
Tổng  
phương sai  
Tổng  
sai trích (%)  
sai trích (%)  
trích (%)  
sai trích (%)  
34,832  
1
9,405  
2,267  
1,746  
1,592  
1,427  
1,226  
34,832  
8,395  
6,467  
5,897  
5,284  
4,541  
34,832  
43,228  
49,694  
55,591  
60,874  
65,416  
9,405  
2,267  
1,746  
1,592  
1,427  
1,226  
34,832  
8,395  
6,467  
5,897  
5,284  
4,541  
2
3
4
5
6
43,228  
49,694  
55,591  
60,874  
65,416  
Bảng 3: Ma trận xoay (lần cuối)  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
6
AHXH3  
AHXH4  
AHXH2  
AHXH1  
AHXH5  
BM2  
,814  
,782  
,754  
,739  
,730  
,182  
,200  
,173  
,111  
,128  
,248  
,105  
,110  
,165  
,143  
,150  
,314  
,111  
,185  
,156  
,112  
,171  
,153  
,143  
,800  
,764  
,757  
,737  
,731  
,157  
,123  
,149  
,115  
,108  
,189  
,133  
,152  
,219  
,119  
BM5  
,109  
,222  
,158  
,237  
,134  
,113  
BM1  
,148  
,264  
,156  
BM3  
,154  
,269  
BM4  
,190  
,107  
,207  
,221  
DKTL3  
DKTL4  
DKTL1  
DKTL5  
DKTL2  
0.126  
,747  
,730  
,693  
,642  
,596  
,168  
,113  
,189  
,204  
,109  
,135  
,126  
,141  
,174  
,180  
,172  
,176  
1849  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
6
HI1  
HI2  
,170  
,119  
,215  
,818  
,804  
,705  
,685  
,101  
,105  
,109  
,109  
,120  
,260  
,186  
,106  
,240  
,230  
,121  
,167  
HI5  
,114  
,102  
,109  
,770  
,762  
,717  
,677  
,104  
HI3  
DSD1  
DSD2  
DSD4  
DSD3  
NT2  
NT3  
NT4  
NT1  
,161  
,190  
,161  
,209  
,172  
,109  
,186  
,171  
,100  
,151  
,190  
,186  
,126  
,140  
,263  
,233  
,222  
,163  
,178  
,207  
,750  
,712  
,681  
,652  
,219  
,128  
,256  
,224  
,171  
,138  
,156  
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá Ý định sử dụng:  
Thang đo Ý định sử dụng gồm 4 biến quan sát, sau khi đạt độ tin cậy bằng phân tích hệ số  
Cronbach’s Alpha được đưa vào phân tích nhân tố khám phá.  
Bảng 4: KMO and Bartlett’s Test của Ý định sử dụng (lần 1)  
Chỉ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin)  
Kiểm định Barlett  
0,809  
564,036  
6
Giá trị Chi-Square  
Bậc tự do  
Sig.  
0,000  
Kết quả kiểm định Barlett cho thấy giữa các biến trong tổng thể có mối tương quan với nhau (Sig =  
0,000 < 0,05). Đồng thời, hệ số KMO = 0,809 > 0,5 chứng tỏ phân tích nhân tố để nhóm các biến lại  
với nhau là thích hợp và dữ liệu phù hợp cho việc phân tích nhân tố.  
Bảng 5: Tổng phương sai trích của Ý định sử dụng (lần 1)  
Hệ số Eigenvalue  hởi tạo  
Chỉ số sau  hi tr ch  
Nhân  
Phương sai  
Tổng phương sai  
Phương sai  
Tổng phương sai  
tố  
Tổng  
Tổng  
trích (%)  
trích (%)  
69,588  
82,578  
trích (%)  
trích (%)  
1
2,784  
,520  
,365  
,332  
69,588  
12,990  
9,115  
2,784  
69,588  
69,588  
2
3
4
91,693  
8,307  
100,000  
Kết quả phân tích cho thấy giá trị Eigenvalues > 1, tổng phương sai trích là 69,588% > 50% là đạt  
yêu cầu. Hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều lớn hơn bằng 0,5. Vậy thang đo này chấp  
nhận được. Nhân tố Ý định sử dụng gồm 4 biến quan sát là Y1, Y2, Y3, Y4.  
1850  
4.2.3 Phân tích hồi quy tuyến tính bội:  
Bảng 6: Kết quả phân tích hồi quy bội  
Hệ số hồi quy chưa Hệ số hồi quy  
Thống    đa cộng  
tuyến  
chuẩn hóa  
đã chuẩn hóa  
Mô hình  
T
Sig.  
Std.  
B
Beta  
Tolerance  
VIF  
Error  
Hằng số  
XAHOI  
,356  
,160  
,135  
,150  
,110  
,201  
1,767  
4,465  
3,314  
3,124  
2,592  
3,686  
4,153  
,078  
,000  
,001  
,002  
,010  
,000  
,000  
,036  
,041  
,026  
,158  
,151  
,650  
,605  
,590  
,764  
,609  
,548  
1,539  
1,652  
1,694  
1,309  
1,643  
1,824  
BAOMAT  
THUANLOI  
HUUICH  
DESUDUNG  
NIEMTIN  
1
,048  
,042  
,044  
,049  
,110  
,162  
,204  
,176  
,208  
Các giá trị Sig. tương ứng với các biến HUUICH, DESUDUNG, BAOMAT, THUANLOI, XAHOI, NIEMTIN  
đều nhỏ hơn 0,05 nên các biến này có ý nghĩa trong mô hình. Cả 6 nhân tố: Nhận thực về sự hữu  
ích, Nhận thức dễ sử dụng, Nhận thức về sự bảo mật, Điều kiện thuận lợi, Ảnh hưởng xã hội, Niềm  
tin đều có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng Ví điện tử của thế hệ gen Z tại TP. Hồ Chí  
Minh. Trong đó, nhân tố Niềm tin có mức ảnh hưởng cao nhất (β = 0.208), yếu tố Ảnh hưởng xã hội  
giữ vị trí thứ 2 (β =0,206), yếu tố Nhận thức dễ sử dụng xếp vị trí thứ 3 (β = 0,176), yếu tố Nhận thức  
về sự bảo mật xếp vị trí thứ 4 (β = 0.158), yếu tố Điều kiện thuận lợi xếp vị trí thứ 5 (β = 0.151). Cuối  
cùng, yếu tố Nhận thức sự hữu ích có kết quả là β = 0.110.  
Bảng 7: Kiểm định độ phù hợp của mô hình  
Hệ số R  
Hệ số R b nh  
Sai số chuẩn  
của ước lượng  
Hệ số Durbin-  
Mô hình  
Hệ số R  
bình  
phương hiệu chỉnh  
Watson  
phương  
1
,747a  
,558  
,549  
,40122  
1,889  
Giá trị hệ số R² hiệu chỉnh là 0,549, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với dữ  
liệu 54,9% hay nói cách khác, hơn 54,9% ý định sử dụng Ví điện tử của thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh  
là do mô hình hồi quy giải thích. Các phần còn lại là do sai số và các nhân tố khác.  
5 KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ý định sử dụng Ví điện tử củ thế hệ Z tại TP. Hồ Chí Minh chịu sự  
tác động bởi 6 nhân tố mà nhóm tác giả đã đề ra. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả  
xin được tr nh bày các hàm ý quản trị để nâng cao ý định sử dụng Ví điện tử của thế hệ Z tại  
TP.Hồ Chí Minh.  
Thứ nhất, tăng cường niềm tin của người tiêu dùng: Nhà cung cấp cần có đủ chuyên môn và nguồn  
lực về công nghệ và quản lý tài chính, không ngừng cải tiến, nâng cấp công nghệ để có được sự  
hiện đại và ổn định trong quá trình hoạt động của Ví điện tử. Từ đó giúp người tiêu dùng luôn tin  
1851  
tưởng rằng sẽ không bị gián đoạn giao dịch khi thực hiện thanh toán, luôn minh bạch trong việc lưu  
giữ, xử lý và quản lý dữ liệu cá nhân, kiểm soát quyền riêng tư của khách hàng.  
Thứ hai, thúc đẩy tính tích cực của ảnh hưởng xã hội: Nhà cung cấp cần phải tạo ra ‚Văn hóa  
không tiền mặt trong xã hội bằng cách tận dụng sức lan tỏa của các phương tiện thông tin, truyền  
hình, mạng xã hội để giới thiệu về sản phẩm, tiếp thị tại các hội chợ, triển lãm công nghệ, tăng  
cường chạy quảng cáo hay tài trợ các chương trình thực tế, các giải thi đấu.  
Thứ ba, tăng cường nhận thức dễ sử dụng: Nhà cung cấp cần phải xây dựng quy trình thanh toán  
thật đơn giản bằng cách rút ngắn nhất có thể các bước thao tác của khách hàng khi thực hiện  
thanh toán. Bên cạnh đó, cần tạo giao diện thân thiện, dễ hiểu ngay lần đầu tiên khách hàng tiếp  
cận dịch vụ Ví điện tử.  
Thứ tư, nâng cao hiệu quả của hệ thống bảo mật: Nhà cung cấp cần không ngừng cải tiến, nâng  
cấp công nghệ để đáp ứng các tiêu chuẩn cao về bảo mật thông tin, an toàn trong xử lý, lưu trữ và  
truyền phát dữ liệu điện tử. Bên cạnh đó cần nâng cấp ứng dụng cho phép khách hàng nhập mật  
khẩu từ bàn phím ảo, tạo công nghệ xác thực ở cấp cao hơn như là công nghệ xác thực 3 nhân tố.  
Thứ năm, nâng cao tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người dùng: Các doanh nghiệp cần xây dựng  
nâng cấp hạ tầng công nghệ để phục vụ cho việc thanh toán bằng Ví điện tử bằng cách nâng cấp  
chức năng cho phép người dùng chuyển đổi tiền tệ theo tỷ giá hối đoái ở thời điểm nhất định, tích  
hợp Ví điện tử của Việt Nam vào các trang thương mại điện tử lớn như Amazon, Alibaba,...  
Thứ sáu, nâng cao nhận thức về sự hữu ích: Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh quảng bá các tính  
năng nổi trội của Ví điện tử cho người tiêu dùng. Ngoài ra cũng cần mở rộng một số tính năng đáp  
ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng như dịch vụ hỗ trợ khách hàng gửi tiền lấy lãi hay vay tiền từ  
các ngân hàng mà người tiêu dùng liên kết, dịch vụ hỗ trợ đầu tư tài chính như chứng khoán, cổ  
phiếu, trái phiếu,…  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Nguyễn Thị Linh Phương, (2013). ‚Nghiên cứu các nhân tố tác động đến ý định sử dụng Ví  
điện tử tại Việt Nam‛, Luận án Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trang  
1-35.  
[2]  
[3]  
[4]  
[5]  
Ajzen, I. (1991), ‚The Theory of Planned Behavior‛, Organizational Behavior and Human  
Decision Processes, (50:2), pp. 179-211.  
Ajzen, I. (1975) and Fishbein, M., ‚Belief, Attitude, Intention and Behavior: An Introduction to  
Theory and Research, Addison-Wesley, Reading, MA‛.  
Davis, F. (1989), ‚Perceived Usefulness, Perceived Ease of Use, and User Acceptance of  
Information Technology‛. MIS Quarterly, pp 319-339.  
Davis, F. D. (1989), "Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of  
information technology", MIS Quarterly, 13 (3):pp 319”340.  
1852  
[6]  
D. C. Mowery and T. Simcoe (2002), "Is the Internet a US invention? „an economic and  
technological history of computer networking," Research Policy, vol. 31, no. 8-9, pp. 1369-  
1387, 2002.  
[7]  
[8]  
GSMA. (2012), ‚The Mobile Wallet Version 1.0‛, GSM Association.  
Gupta, M.P., & Sareen, R. (2001), ‚A study of consumer concerns and issues of electronic  
payments in India‛, Global Business Review, 2(1),pp 101”119.  
[9]  
Hanudin Amin (2009), ‚Mobile wallet acceptance in Sabah: An empirical analysis‛, Labuan  
Bulletin Of International Business & Finance, 7, pp 33-52.  
[10] Jay Trivedi (2016), ‚Factors Determining the Acceptance of E-Wallet‛, International Journal of  
Applied Marketing and Management, Volume 1 Issue 2, pp 42-53.  
[11] Mallat, N. (2007), ‚Exploring consumer adoption of mobile payments-A qualitative study‛, The  
Journal of Strategic Information Systems, 16(4),pp 413-432.  
[12] Mayer, R.C., Davis, J.H., & Schoorman, F.D. (1995), ‚An integrative model of organizational  
trust‛, Academy of Management Review, 20(3), pp 709”734.  
[13] Taheam, K., Sharma, R., & Goswami, S. (2016), ‚Drivers of digital wallet usage: Implications for  
leveraging digital marketing‛, International Journal of Economic Research, 13(1), 175-186.  
[14] Venkatesh, V. et al., 2003, ‚User acceptance of information technology: Toward a unified  
view‛, MIS Quarterly, Vol. 27, No. 3: 425-478.  
[15] Vision Critical (2016). ‚The Everything Guide to Generation Z‛.  
1853  
pdf 8 trang Thùy Anh 10220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của thế hệ Z tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_su_dung_vi_dien_tu_cua_the.pdf