Một số đặc điểm về đội ngũ tác giả văn học Bắc Kạn từ năm 1945 đến nay

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỘI NGŨ TÁC GIẢ VĂN HỌC BẮC KẠN  
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY  
Hoàng Thị Dung  
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Bài báo nói về một số đặc điểm cơ bản của đội ngũ tác giả văn học Bắc Kạn từ năm  
1945 đến nay. Đó là: hầu hết các tác giả văn học đều là con em các dân tộc thiểu số của  
tỉnh Bắc Kạn; Bắc Kạn chính là chiếc nôi nuôi dưỡng và trưởng thành của nhiều cây bút  
dân tộc thiểu số Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của văn học các dân tộc thiểu số  
Việt Nam. Đội ngũ tác giả văn học Bắc Kạn phát triển không ngừng về cả số lượng và  
chất lượng và đã chung tay xây dựng lên một nền văn học địa phương độc đáo, giàu bản  
sắc dân tộc  
Từ khóa: Tác giả văn học, dân tộc thiểu số  
Như đã biết, thời kì trước Cách mạng  
tháng 8 năm 1945 - văn học miền núi nói  
chung, văn học tỉnh Bắc Kạn nói riêng  
thường được tồn tại dưới loại hình văn  
học dân gian. Phải đến sau Cách mạng -  
văn học Bắc Kạn nói riêng, văn học các  
dân tộc thiểu số nói chung - mới bắt đầu  
đã có sự thay đổi, có điều kiện phát triển  
và trở thành bộ phận quan trọng của nền  
văn học Việt Nam hiện đại. Đội ngũ sáng  
tác văn học ở Bắc Kạn đã được hình  
thành và phát triển, trong đó có một số  
người đã trở thành các cây bút tiêu biểu  
của nền văn học thiểu số Việt Nam. Tuy  
nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công  
trình nào nghiên cứu một cách tổng thể,  
hệ thống về đội ngũ tác giả văn học này.  
Chính vì vậy chúng tôi bước đầu muốn  
được phác hoạ một cách tổng quát về  
đặc điểm đội ngũ sáng tác của Bắc Kạn  
trong suốt hơn nửa thế kỉ qua.  
chiến trường kì và vĩ đại. Đó là cuộc  
kháng chiến chống Pháp 9 năm đầy gian  
khổ hi sinh nhưng cũng đầy hiển hách, và  
cũng là thời kì miền Bắc xây dựng Chủ  
nghĩa xã hội, miền Nam anh dũng đấu  
tranh chống Mỹ xâm lược. Bắc Kạn cũng  
là một trong những tỉnh miền núi nằm  
trong vùng căn cứ địa của cuộc kháng  
chiến, là một mảnh đất lịch sử ghi nhiều  
dấu ấn quan trọng của cuộc kháng chiến  
chống Pháp, của những tháng năm xây  
dựng chủ nghĩa xã hội đầy sôi động trên  
mảnh đất chiến khu xưa.  
Có thể nói nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc  
Kạn đã góp phần quan trọng làm nên  
chiến thắng Điện Biên Phủ, đã đoàn kết  
cùng nhau xây dựng quê hương ngày  
một giàu đẹp, để quê hương thực sự  
thay da đổi thịt trong hoà bình. Cùng với  
lịch sử phát triển ấy - đội ngũ tác giả của  
văn học Bắc Kạn đã được hình thành và  
ngày càng đông đảo hơn. Những tác giả  
tiêu biểu của thời kì này là: Nông Quốc  
Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết  
Toại…Đây là những nhà văn, nhà thơ  
tiên phong đã đặt nền móng cho văn học  
Đội ngũ văn học Bắc Kạn từ năm 1945  
đến năm 1964  
Thời kì lịch sử từ năm 1945 đến 1964 cả  
dân tộc ta đã phải trải qua cuộc kháng  
Hoàng Thị Dung, Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
Hoàng Thị Dung  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
59(11): 16 - 21  
của Bắc Kạn nói riêng, cho nền văn học  
các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung.  
như không phải ta đang đọc truyện mà là  
đang tiếp xúc, đang truyện trò với những  
con người sống thực; đang chiêm  
ngưỡng mảnh đất sinh ta, nuôi ta".  
Trước hết nói về tác giả Nông Quốc  
Chấn - người anh cả của nền thơ ca các  
dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung, của  
nền thơ ca Bắc Kạn nói riêng - giới  
nghiên cứu, phê bình đều rất kính trọng  
và đánh giá ông rất cao. Ông được xem  
như là người dân tộc thiểu số đầu tiên  
"Mang hơi thở của núi rừng Việt Bắc vào  
thi ca". là "Cánh chim đầu đàn của những  
người làm văn học cách mạng của các  
dân tộc thiểu số" (Tô Hoài). Đọc Nông  
Quốc Chấn ta thấy toát lên chất trữ tình  
đằm thắm, ông viết mộc mạc, giản dị mà  
sâu sắc, nhẹ nhàng mà sôi nổi. Như giáo  
sư Vũ Khiêu đã từng nhận xét "Tâm hồn  
anh từ nhỏ được nuôi dưỡng bằng chất  
thơ của tình người, trong giọng hát lượn  
then, trong âm thanh đàn tính…thơ anh  
nhiều lúc hoang sơ như cây rừng, gập  
ghềnh như sườn núi. Nhưng đọc thơ anh,  
người ta dần nhận ra cái gì đáng yêu, từ  
tâm hồn anh có cái gì trong trắng như  
hoa ban, ngọt lành như suối mát”.  
Còn khi nói đến nhà văn, nhà thơ Nông  
Minh Châu là nói đến vai trò người có  
công đầu trong việc đặt nền móng cho  
nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt  
Nam thời kì hiện đại. Những sáng tác của  
Nông Minh Châu thường mang nội dung  
tuyên truyền cách mạng, ca ngợi quê  
hương miền núi với những cảnh vật đẹp  
đẽ, nên thơ và những con người miền núi  
thẳng thắn thật thà, chân chất nhưng rất  
giàu tình cảm… Đọc tác phẩm của Nông  
Minh Châu - Nông Quốc Thắng nhận xét:  
“Có thể nói: với Nông Minh Châu - người  
chiến sĩ cách mạng và người nghệ sĩ hoà  
quyện vào nhau, lý tưởng cách mạng là  
cứu cánh của cuộc đời và chắp cánh  
nâng bổng cho tâm hồn nghệ sĩ bay cao”.  
Nhà văn Mai Liễu đã tỏ ra rất tự hào về  
tác giả dân tộc thiểu số này: "Nông Minh  
Châu như một cái mốc lớn, đến nay vẫn  
toả sáng về tâm và tài, về đức độ và lòng  
kiên trì cống hiến cho nghệ thuật".  
Nhà thơ, nhà văn Nông Viết Toại thì ngay  
từ đầu những năm 1945, 1946 trong đội  
tuyên truyền kháng Nhật ở Ngân Sơn -  
ông đã nhen nhóm ngọn lửa yêu nước  
trong trái tim của mình và truyền sang  
những người dân miền núi lao động  
nghèo bằng một số bài ca cách mạng  
như: Nhớ chiến khu, nhớ đàn chim  
Việt. Đọc những sáng tác của Nông Viết  
Toại càng thêm yêu mến làng bản, núi  
rừng quê hương Việt Bắc với những hình  
ảnh rừng núi bạt ngàn nắng gió, những  
mái nhà sàn xinh xắn, những nét sinh  
hoạt đầm ấm của những người dân miền  
núi trong các thôn bản vùng núi cao. Nhà  
nghiên cứu Nông Phúc Tước khi nhận  
xét về truyện ngắn của ông đã nói "Đọc  
truyện ngắn của Nông Viết Toại, người  
đọc có cảm giác như đang trở về làng  
bản của mình sau những ngày đi xa, với  
tất cả những cảnh vật quen thuộc, những  
con người xiết bao gần gũi, mến yêu; với  
những kỉ niệm êm đẹp của cuộc đời từ  
thời ấu thơ đến những ngày đi xa. Hình  
Qua việc khảo sát về đội ngũ sáng tác  
văn học của Bắc Kạn thời kì này ta có thể  
nói rằng: Đội ngũ sáng tác văn học của  
Bắc Kạn trong thời kì này chủ yếu là  
những người con của các dân tộc thiểu  
số tỉnh Bắc Kạn. Họ là những người  
được tắm mình trong nguồn mạch văn  
hoá, văn học dân gian của dân tộc họ, và  
sự nghiệp sáng tác của họ luôn gắn liền  
với sự phát triển của dân tộc, của quê  
hương Bắc Kạn. Vì thế những sáng tác  
của họ ở giai đoạn này chủ yếu là lên án  
tội ác của bọn thực dân, phong kiến ở  
miền núi, ngợi ca con người miền núi  
trong kháng chiến, trong công cuộc xây  
dựng quê hương, đất nước - sau khi  
sạch bóng quân thù. Tuy nhiên, thời kì  
này đội ngũ sáng tác văn học Bắc Kạn  
vẫn còn mỏng, sáng tác còn mang tính tự  
phát và ảnh hưởng nhiều yêú tố dân  
gian… Nhưng với những tác phẩm cụ thể  
của mình, đội ngũ sáng tác văn học của  
Bắc Kạn cũng đã phần nào đáp ứng  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
Hoàng Thị Dung  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
59(11): 16 - 21  
được nhu cầu đời sống văn hoá văn học  
của nhân dân các dân tộc tỉnh nhà - trong  
công cuộc kháng chiến chống Pháp và  
xây dựng hoà bình trên quê hương miền  
núi cao yêu dấu của mình.  
nhận thức cuộc sống và về nghệ thuật  
viết văn. Vì thế, một số nhà văn đã đạt  
được một số thành tựu nổi bật. Thời kỳ  
này đội ngũ sáng tác văn học Bắc Kạn đã  
được bổ sung đông đảo hơn, xuất hiện  
một số tác giả mới - trẻ trung hơn, có  
cách viết mới mẻ, hiện đại hơn, và đầy  
nhiệt huyết như: Triệu Kim Văn, Triệu  
Sinh, Bế Sĩ Uông, Lan Dao, Văn Lợi,  
Hằng Hoá, Quách Đăng Thơ, Triệu Đức  
Xuân, Lương Hiệu, Ngọc Hân, Đinh Hữu  
Hoan….Các tác giả thời kì này đa số đã  
được trang bị khá cơ bản về kiến thức  
và tỏ ra có nghề trong sáng tác văn  
chương.  
Thời kì từ năm 1964 đến năm 1986  
Đây là giai đoạn nhân dân các dân tộc  
tỉnh Bắc Kạn đang tích cực trong quá  
trình xây dựng quê hương và tích cực  
tham gia công cuộc kháng chiến chống  
Mỹ. Biết bao thế hệ những người con  
Bắc Kạn đã tham gia nhiệt tình công cuộc  
xây dựng quê hương, và vì miền Nam  
ruột thịt, họ sẵn sàng nhập ngũ đi vào  
miền Nam tham gia đánh giặc.  
Ví dụ như trường hợp nhà thơ Triệu Kim  
Văn - nhà thơ Dao tiêu biểu của Bắc Kạn,  
ông được đào tạo khá cơ bản, vì thế ông  
hiểu rất rõ công việc và phương pháp  
sáng tác của nhà văn. Giai đoạn này nhà  
thơ Triệu Kim Văn đã cho ra mắt bạn  
đọc khá nhiều bài thơ đặc sắc, mang  
hơi thở núi rừng, của cuộc sống, trĩu  
nặng một tình yêu với quê hương Bắc  
Kạn giàu bản sắc của mình. Ví dụ như  
những bài thơ: Nhớ Bác tết trồng nhiều  
cây, Xuân về trên bản định cư, Chiều  
núi Đuổm, Hoa trứng gà…  
Trong giai đoạn này có một sự kiện văn  
hoá quan trọng rất có ý nghĩa, đó là việc  
tổ chức Hội nghị sáng tác văn học các  
dân tộc thiểu số ở miền Bắc lần thứ nhất  
tại Thái Nguyên (năm 1964). Trong Hội  
nghị này, lần đầu tiên đã đề cập đến  
những vấn đề sáng tác văn học của các  
dân tộc thiểu số ví dụ như: vấn đề về  
cuộc sống mới, con người miền núi mới;  
vấn đề các thể loại văn học phát triển  
như thế nào? vấn đề song ngữ trong  
sáng tác văn học; vấn đề xây dựng đội  
ngũ nhà văn là con em các dân tộc thiểu  
số ra sao?… Qua hội nghị này nhiều vấn  
đề của văn học các dân tộc thiểu số đã  
thực sự được quan tâm và giải quyết.  
Văn học Bắc Kạn đã được hoà chung  
vào trong không khí ấy, những người  
sáng tác văn học đã thực sự có ý thức về  
công việc sáng tạo văn chương của  
mình.  
Đặc biệt, vào năm 1971 - nhà thơ Triệu  
Kim Văn đã được cử đi dự trại sáng tác  
của Hội văn nghệ Việt Bắc. Trong quá  
trình học tập, trao đổi sáng tác tại trại,  
các nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số đã  
rất sôi nổi bàn về vấn đề: giữ gìn tiếng  
dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc. Họ đã  
tích cực sáng tác bằng tiếng dân tộc.  
Cũng vì lí do đó mà đến năm 1973 - Triệu  
Kim Văn đã chính thức đi học chữ Nôm  
Dao để phục vụ cho việc sáng tác văn  
chương bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Đây  
chính là biểu hiện tích cực, cụ thể của ý  
thức giữ gìn bản sắc dân tộc của nhà văn  
trong sự nghiệp sáng tác văn học của  
ông.  
Cũng trong giai đoạn này còn có một sự  
kiện mang tính lịch sử của tỉnh Bắc Kạn  
nữa. Đó là việc tỉnh Bắc Kạn đã được sát  
nhập vào tỉnh Thái Nguyên và gọi chung  
là tỉnh Bắc Thái (năm 1965). Sự kiện này  
đã có những ảnh hưởng nhất định tới đội  
ngũ sáng tác, các nhà văn được cọ sát  
nhiều hơn với thực tiễn của cuộc sống,  
được trao đổi, học tập nhiều hơn đối với  
các cây bút của tỉnh bạn và của Trung  
ương. Các cây bút thuộc giai đoạn trước  
vẫn miệt mài sáng tác, họ không ngừng  
nâng cao về trình độ chuyên môn, về  
Còn đối với nhà thơ, nhà văn Triệu Sinh -  
ta lại bắt gặp trong tác phẩm của ông  
những tình cảm nồng hậu của nhà thơ  
đối với quê hương Ba Bể - nơi mà ai tới  
cũng phải say sưa trước cảnh đẹp lung  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
Hoàng Thị Dung  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
59(11): 16 - 21  
linh, huyền ảo của nó. Qua thơ ông  
người ta còn nhận thấy tình cảm vô cùng  
sâu sắc của ông đối với cách mạng, với  
Cụ Hồ. Nhà thơ Hoàng Tuấn Cư nhận  
xét về Triệu Sinh như sau: "Với vốn ngôn  
ngữ mẹ đẻ kết hợp với nguồn dân ca mà  
anh từng cảm thụ được, anh đã vận dụng  
được vốn văn hoá truyền thống vào việc  
giới thiệu với bạn bè gần xa, với khách du  
lịch trong nước và ngoài nước về con  
người miền núi và cảnh đẹp Hồ Ba Bể" .  
đảo hơn, mạnh mẽ hơn. Vì thế, văn học  
Bắc Kạn trong giai đoạn này đã có những  
bước phát triển mới, đang dần dần được  
hiện đại hoá. Đội ngũ các tác giả đã  
được nâng cao về trình độ văn hoá, về  
phương pháp sáng tác nên đã gặt hái  
được khá nhiều thành công. Vì thế tác  
giả văn học Bắc Kạn giai đoạn này được  
bạn đọc trong cả nước biết đến và tác  
phẩm của họ đã được đón nhận một  
cách nồng nhiệt. Nội dung chủ yếu trong  
các sáng tác của họ thời kì này là: phản  
ánh về công cuộc xây dựng xã hội chủ  
nghĩa trên mảnh đất miền núi Bắc Kạn;  
ca sự đổi mới trong đời sống văn hoá xã  
hội của quê hương đất nước. Văn học đã  
thực sự là tiếng nói của đông đảo quần  
chúng nhân dân Bắc Kạn. Đặc biệt giai  
đoạn này đã có nhiều tác giả chú trọng  
việc sáng tác văn học bằng song ngữ.  
Nếu như trong thời kì trước có nhà thơ  
Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông  
Minh Châu hay viết bằng hai thứ tiếng,  
thì giai đoạn này đã xuất hiện thêm các  
cây bút viết song ngữ như: Triệu Kim  
Văn, Triệu Sinh, Bế Sĩ Uông, Hoàng  
Hoá…  
Ông có tập thơ Bác Hồ slương dân  
cháu nước (Bác Hồ thương dân cứu  
nước). Có thể nói nhà thơ Triệu Sinh đã  
để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn  
đọc qua tập thơ đầu tay này. Ông rất  
xứng đáng là nhà thơ của quê hương Ba  
Bể - quê hương của xứ núi đầy huyền  
thoại và mơ mộng.  
Với tác giả Văn Lợi - ta lại thấy trong  
những tập hồi kí đầy mến yêu của ông là  
một tình cảm mặn nồng đối với mảnh đất  
và con người Bắc Kạn trong công cuộc  
đổi mới thủa ban đầu. Cũng trong những  
tác phẩm đó - ta còn thấy tấm lòng kiên  
định trước sau như một của người dân  
Bắc Kạn khi đã theo Đảng Bác Hồ. Nhà  
văn đã thổi vào lòng bạn đọc tình yêu  
quê hương đất nước của những người  
con xứ núi. Giai đoạn này ông đã có  
những tập văn sau: Hồi kí Một lòng theo  
Bác, Truyện kí Hạt giống đỏ…  
Có thể nói: giai đoạn từ năm 1964 đến  
năm 1986 văn học Bắc Kạn đã có nhiều  
khởi sắc. Đội ngũ những người sáng tác  
văn học của Bắc Kạn đã được bổ sung  
liên tiếp và ngày càng đông đảo, lớn  
mạnh hơn. Họ là những nhà văn, nhà thơ  
người dân tộc thiểu số và cả những  
người Kinh sống lâu năm trên mảnh đất  
miền núi cao này. Những sáng tác của họ  
đã đáp ứng được nhu cầu về đời sống  
văn học nghệ thuật của địa phương và  
góp phần làm phong phú thêm đời sống  
văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.  
Như đã biết, bước sang thập kỷ 80, mở  
đầu cho thập kỷ này là Hội nghị các nhà  
văn, nhà thơ sáng tác về đề tài miền núi  
và các dân tộc được tổ chức tại Hà Nội.  
Trong hội nghị này, người ta đã đặt ra  
các đòi hỏi mới - phải có "Tác phẩm hay!  
Tác phẩm đặc sắc! Tác phẩm có giá trị!".  
Đó là mục tiêu phấn đấu, là khẩu hiệu  
hành động của những người sáng tác  
văn học miền núi trong giai đoạn mới của  
đất nước. Như vậy, với nhu cầu phát  
triển của đời sống văn học các dân tộc  
thiểu số nói riêng, của đời sống văn học  
dân tộc Việt Nam nói chung thời kì từ  
năm 1964 đến năm 1986 đã thực sự là  
động lực thúc đẩy cho đội ngũ sáng tác  
của Bắc Kạn phát triển ngày càng đông  
Thời kì từ năm 1986 đến nay.  
Công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc  
do Đảng ta lãnh đạo đã tạo ra biết bao  
cơ hội cho sự phát triển mạnh mẽ trên  
tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, văn hoá, xã  
hội… trên đất nước ta - trong đó có văn  
học nghệ thuật. Và văn học Bắc Kạn  
cũng nằm trong quy luật phát triển đó.  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
Hoàng Thị Dung  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
59(11): 16 - 21  
Cũng trong giai đoạn này, Bắc Kạn đã  
tách ra khỏi tỉnh Bắc Thái để trở thành  
một tỉnh độc lập. Bước đầu khi tái lập,  
tỉnh Bắc Kạn cũng gặp khá nhiều khó  
khăn, nhưng cũng có một số thuận lợi  
đáng kể. Trước hết đó là sự đầu tư của  
Nhà nước xây dựng cơ sở mới, và thành  
lập các tổ chức chính trị mới cho tỉnh,  
trong đó có việc thành lập Hội văn học  
nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn.  
hương miền núi với những điều lớn lao  
và cũng rất đời thường. Còn đối với các  
nhà thơ trẻ thuộc thế hệ trưởng thành  
trong giai đoạn lịch sử này - thì sự đổi  
mới tư duy trong sáng tác văn học cũng  
thể hiện một cách rõ rệt. Họ có nhiều sự  
sáng tạo độc đáo, cách viết của họ hiện  
đại hơn, diễn đạt một cách mới lạ hơn -  
tuy nhiên trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn  
thấm đẫm tính dân tộc và bản sắc dân  
tộc vẫn được thể hiện một cách sinh  
động trong từng tác phẩm. Có thể điểm  
qua một số gương mặt tiêu biểu của văn  
học Bắc Kạn thời kì này như:  
Có thể nói chưa bao giờ như bây giờ -  
Khi có cơ quan Hội riêng của mình - tất  
cả những cây bút văn học là con em của  
đồng bào các dân tộc Bắc Kạn lại phấn  
chấn, tích cực, cùng chung tay, chung ý,  
chung lòng xây dựng Hội lớn mạnh đến  
như vậy. Mặc dù đến giai đoạn này có  
một số cây bút trụ cột của Bắc Kạn đã về  
Hà Nội công tác, hoặc chuyển sang các  
công tác ở nơi khác, nhưng với cả một  
lớp những người trẻ tuổi yêu văn  
chương, say mê sáng tác và có ý thức về  
vai trò, trách nhiệm của người cầm bút  
hôm nay đối với quê hương yêu dấu của  
họ - thì đội ngũ sáng tác của Bắc Kạn đã  
trở thành đông đảo và lớn mạnh. Đó là  
những nhà thơ, nhà văn mà tên tuổi của  
họ được gắn liền với những tác phẩm  
văn học viết về thiên nhiên, cuộc sống,  
con người trên mảnh đất miền núi thân  
yêu Bắc Kạn như: Dương Thuấn, Nông  
Thị Ngọc Hoà, Dương Khâu Luông, Nông  
Thị Tô Hường, Dương Quốc Hải, Lường  
Văn Thắng, Bế Ngọc Cường, Nguyễn  
Ngọc Lan, Phạm Viết Lãm, Triếu Kiềm  
Vuần, Bàn Văn Vình, Hoa Sơn, Hạ Văn  
Hử, Hà Văn Roanh, Nguyễn Văn Yên,  
Nông Văn Kim, Ma Phương Tân, Hà Hữu  
Nghị, Bàn Tuấn Năng, Hoàng Thị Điềm,  
Hoàng Đức Hoan, Phùng Thị Ly, Vũ Cẩm  
Linh…  
Nhà thơ Dương Thuấn với các tập thơ :  
Cưỡi ngựa đi săn, Đi tìm bóng núi, Đi  
ngược mặt trời , Hát với Sông Năng,  
Trăng Mã Phì Lèng… đã chứng tỏ là một  
cây bút tiêu biểu, xuất sắc. Đọc thơ của  
Dương Thuấn ta thấy hiện lên những lễ  
hội miền núi đầy bản sắc; những bản  
làng yên bình, những dòng suối trong vắt,  
những trăn trở về quá khứ, những tình  
cảm thiết tha của mình đối với quê  
hương... Những vần thơ của Dương  
Thuấn luôn mang đậm hơi thở của cuộc  
sống vùng cao, từ khung cảnh thiên  
nhiên đến đời sống sinh hoạt của đồng  
bào, đến những niềm tâm sự, nỗi day  
dứt, đến cách diễn đạt tình cảm, cảm  
xúc... của nhà thơ. Chính tác giả đã từng  
bộc bạch: "Theo tôi nhà thơ phải đứng  
trên sự vật, trên cả thời đại để đem tiếng  
nói yêu thương, tâm huyết của mình đến  
với mọi người. Tôi luôn muốn khẳng định  
với mọi người rằng: Tôi là như thế! Dân  
tộc tôi là như thế”. Nhà thơ Dương Thuấn  
là người con dân tộc Tày, đã được đào  
tạo cơ bản trong trường Đại học (Đại học  
Sư phạm Việt Bắc), lại được đào luyện ở  
cái nôi văn chương là Trường viết văn  
Nguyễn Du - Điều đó là một thuận lợi lớn  
cho việc sáng tác văn học của anh. Nhà  
thơ từng được nhận khá nhiều giải  
thưởng văn học như: giải A của Hội nhà  
văn Việt Nam (1992), giải nhất của Hội  
giao lưu văn hoá Việt - Nhật (1992), giải  
B (không có giải A) trong cuộc thi sáng  
tác cho thiếu nhi (1995), giải B Hội văn  
Đây là thời kỳ phát triển đặc biệt của văn  
học Bắc Kạn. Trong những năm này văn  
học của Bắc Kạn dường như trẻ lại, ngay  
cả đối với các tác giả thời kỳ trước cũng  
dường như có sự thay đổi trong sáng tác,  
những tác phẩm của họ đã mang những  
âm hưởng mới, náo nức cảm hứng khám  
phá về con người, về cuộc sống, về quê  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
Hoàng Thị Dung  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
59(11): 16 - 21  
học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt  
Nam (2002)...  
yêu thương con người ấy đã giúp anh có  
được những giải thưởng cao trong sự  
nghiệp sáng tác của mình: Giải nhì thơ -  
Báo Thiếu niên tiền phong, giải B (Không  
có giải A) Hội văn học nghệ thuật các dân  
tộc thiểu số Việt Nam…Anh là hội viên  
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn và  
còn là hội viên Hội văn học nghệ thuật  
các dân tộc thiểu số Việt Nam.  
Nhắc đến nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là  
người ta nhớ đến ngay một người phụ nữ  
dân tộc thiểu số làm thơ với cả lòng nhiệt  
huyết và trách nhiệm lớn lao đối với công  
việc sáng tác của mình, chị luôn tâm  
niệm: "Khiêm tốn học hỏi, vị tha, vô tư, có  
trách nhiệm trong cuộc sống và trong  
công việc - có trách nhiệm với tác phẩm  
của mình để không có tác phẩm tồi ra  
mắt độc giả" . Chính với quan điểm đó  
chị đã có những tác phẩm thơ đặc sắc đi  
vào lòng người - nhất là những con  
người miền núi - đó là các tác phẩm:  
Trước gương, Lời ru cho mình, Lời của  
lá, Vườn duyên, Trường ca Nước hồ mãi  
trong xanh, Men qua cõi thiền… Chị đã  
được nhận nhiều giải thưởng của Hội văn  
học nghệ thuật Bắc Kạn và Hội văn học  
nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam  
trao tặng. Có thể nói, chị là gương mặt  
sáng giá của Hội văn học nghệ thuật các  
dân tộc thiểu số Việt Nam.  
Ngọc Hân là một tác giả trẻ tuổi, say mê  
sáng tạo, viết khoẻ và luôn tha thiết với  
mảnh đất núi non hùng vĩ mà đầy thơ  
mộng với những nét đẹp của đời sống  
văn hoá, tinh thần. Anh có những tập thơ:  
Cầu thang, Pháo hoa, Với thơ, Cỏ mật,  
Chưa phải muộn màng, Tập truyện  
Hương chè…  
Qua việc điểm danh một số tác giả tiêu  
biểu của văn học Bắc Kạn trong thời kì từ  
1945 đến nay, chúng ta nhận thấy rất rõ  
một điều là: đội ngũ sáng tác văn học của  
Bắc Kạn ngày càng phát triển mạnh mẽ  
về cả số lượng và chất lượng. Họ đã  
chung tay xây dựng lên một nền văn học  
địa phương độc đáo, giàu bản sắc dân  
tộc. Đồng thời - với những thành công  
của mình - họ đã có những đóng góp  
quan trọng vào sự nghiệp phát triển của  
văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam  
nói riêng, vào đời sống văn học Việt Nam  
hiện đại nói chung. Bắc Kạn xứng đáng  
là chiếc nôi nuôi dưỡng những tài năng  
văn học miền núi trong suốt hơn nửa thế  
kỉ qua.  
Còn với Dương Khâu Luông - một cây  
bút trẻ của Bắc Kạn - khi đọc tác phẩm  
của anh ta sẽ cảm nhận được những tính  
cách hồn nhiên, trong trẻo của tác giả  
dành cho thiếu nhi miền núi. Anh có chất  
giọng hóm hỉnh, dễ thương, giản dị mà  
độc đáo, rất gần gũi đối với trẻ nhỏ. Anh  
còn là người có khả năng tạo dựng  
những bức tranh về quê hương miền núi  
sinh động với hình ảnh những con người  
miền núi thật thà, chất phác mà lãng  
mạn, mà nhân văn biết mấy. Lê Thuỳ  
Dương đã nhận xét: "Thơ Dương Khâu  
Luông có cái trong lành mát mẻ của nước  
Hồ Ba Bể, có cái non xanh, tươi mới của  
núi rừng Việt Bắc, có cái tinh nghịch đáng  
yêu của trẻ nhỏ và lấp lánh vẻ đẹp nhân  
văn của tâm hồn con người giữa bao đổi  
thay của cuộc sống”. Hồn thơ của núi  
rừng Ba Bể đầy màu sắc huyền thoại ấy  
đã cho ra đời khá nhiều những đứa con  
tinh thần đáng yêu, đáng quý như những  
tập thơ: Gọi bò về chuồng, Dám kha cần  
ngán điếp, Bản mùa cốm, Co nghịu hưu  
cần… Lòng đam mê văn chương và tình  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
Hoàng Thị Dung  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
59(11): 16 - 21  
SUMMARY  
SUMMARYSEVERAL CHARACTERISTICS OF WRITERS IN  
BAC KAN SINCE 1945 UPTO NOW  
Hoang Thi Dung  
College of Education, Thai Nguyen University  
The paper mentions several basic characteristics of the writers in Bac Kan province since 1945 upto now.  
Almost all of them come from ethnic minority groups in Bac Kan. It can be seen that Bac Kan is the cradle of  
many of the ethnic writers, making important contributions to the development of Vietnamese ethnic minority  
literature. Those writers have remarkably increased both in quantity and quality, having a hand in creating a  
special and rich national character literature.  
Key words: Writers, ethnic minority groups  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên  
pdf 7 trang Thùy Anh 16860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm về đội ngũ tác giả văn học Bắc Kạn từ năm 1945 đến nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_ve_doi_ngu_tac_gia_van_hoc_bac_kan_tu_nam_19.pdf