Bộ môn Tài chính – ngân hàng trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng hiện đại

12/2019  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
BỘ MÔN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI  
ThS. Nguyễn Thị Nga My(*)  
Tóm tắt  
Trong thời đại công nghiệp lần thứ 4 đang có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi nền kinh tế,  
mọi lĩnh vực như hiện nay, ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó, cần phải làm chủ  
công nghệ để có thể tồn tại và phát triển được. Tuy nhiên, nguồn nhân lực mới là nòng cốt  
làm nên sự khác biệt của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Nâng  
cao chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng.  
Bài viết đã phân tích một số góc cạnh thực trạng nguồn nhân lực ngành ngân hàng và đề xuất  
một số giải pháp để giải quyết các vấn đề hạn chế trong thực trạng nguồn nhân lực ngành  
Ngân hàng tại Việt Nam.  
1. Đặt vấn đề  
Ngân hàng là huyết mạch của nền kinh  
kinh tế. Với bài viết này, tác giả sẽ khái quát  
thực trạng ngành Ngân hàng Việt Nam trong  
thời gian qua, tìm ra những hạn chế và  
nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp để  
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành  
Ngân hàng Việt Nam.  
tế, hoạt động bao trùm và có tác động mạnh  
mẽ đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Vì  
vậy, phát triển vững mạnh ngành Ngân hàng  
luôn là vấn đề xã hội quan tâm. Trải qua gần  
70 năm thành lập và phát triển, ngành Ngân  
hàng Việt Nam đã có những phát triển vượt  
trội từ sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ,  
trình độ quản lý, năng lực tài chính, đội ngũ  
nhân lực. Ngành Ngân hàng Việt đã và đang  
cung cấp rất nhiều các cơ hội làm việc,  
mang đến số lượng vị trí việc làm khổng lồ  
cho thị trường lao động. Tuy nhiên, nhìn  
nhận lại những năm qua, thị trường lao động  
ngành Ngân hàng luôn có nhiều bất ổn, có  
thể kể đến đó là sự mất cân bằng về cung  
cầu lao động, tình trạng thừa nhân sự nói  
chung nhưng lại thiếu nhân sự chất lượng  
cao, nhân sự yếu kém về kỹ năng công nghệ  
thông tin, hay nhân sự chưa gắn kết lâu dài  
với ngân hàng, một số trường hợp đạo đức  
cán bộ nhân viên ngân hàng bị tha hóa, gây  
thiệt hại nghiêm trọng cho nền  
2. Nguồn nhân lực của ngân hàng và đặc  
điểm nguồn nhân lực ngân hàng Việt  
Nam  
2.1. Nguồn nhân lực của ngân hàng  
Nguồn nhân lực của ngân hàng là toàn  
bộ người lao động làm việc trong ngân  
hàng, với nòng cốt là đội ngũ nhân sự trình  
độ cao, làm việc chuyên nghiệp, sáng tạo và  
có đạo đức nghề nghiệp, được tổ chức quản  
lý và phát triển nhằm làm tốt vai trò chủ thể  
trong quá trình thực thi chiến lược của ngân  
hàng thương mại, đáp ứng yêu cầu của nền  
kinh tế trong từng giai đoạn.  
Với đặc điểm ngân hàng là tổ chức đặc  
biệt phải chịu trách nhiệm với những nguồn  
lực tài chính khổng lồ trong nền kinh tế. Để  
hoạt động hiệu quả, nguồn nhân lực của  
ngân hàng phải đảm bảo được những yếu tố  
đặc thù. Nguồn nhân lực ngành Ngân hàng  
(*) Giảng viên khoa Kinh tế, Trường ĐH Kiến trúc Đà Nẵng  
68  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG 12/2019  
phải lấy nòng cốt là đội ngũ nhân sự trình độ  
cao, có chất lượng cao. Đây được hiểu là lực  
lượng làm việc, sẽ làm việc tại ngân hàng  
đáp ứng với mục tiêu đã đặt ra của ngân  
hàng về trình độ kiến thức, kỹ năng, về vị  
trí, về lĩnh vực, kinh nghiệm công tác ở mức  
độ cao và phức tạp, phù hợp với yêu cầu  
phát triển của ngân hàng, xã hội, nền kinh tế  
trong từng giai đoạn.  
dụng đầu vào khá khắt khe và các Ngân  
hàng thương mại cũng rất chú trọng đến  
công tác đào tạo kỹ năng định kỳ cho nhân  
viên  
Nguồn nhân lực còn mang nhiều sức ỳ.  
Xuất phát từ nền kinh tế lấy nông nghiệp  
làm chủ đạo, một bộ phận nhân lực trong  
nước vẫn còn bị ảnh hưởng, tác phong công  
nghiệp và kỷ luật lao động chưa cao  
Không chỉ chú trọng đến lực lượng  
đang làm việc, nguồn nhân lực của ngân  
hàng thương mại còn bao gồm cả lực lượng  
sẽ làm việc. Từ khái niệm này, các ngân  
hàng thương mại cần một tầm nhìn dài hạn  
hơn về vấn đề nguồn nhân lực để đảm bảo  
tốt hoạt động liên tục của ngân hàng.  
Bên cạnh những đặc điểm chung,  
nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại  
có những đặc điểm riêng như sau:  
Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực  
trong ngân hàng thương mại còn nhiều hạn  
chế. So với nhiều ngành nghề lĩnh vực khác,  
đầu vào tuyển dụng của khối ngân hàng  
thương mại khá cao và khắt khe, từ yêu cầu  
về ngoại hình, bằng cấp tới chuyên môn  
nghiệp vụ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng. Tuy  
nhiên vẫn còn một khoảng cách khá lớn  
giữa đào tạo tại nhà trường so với thực tiễn  
làm việc tại Ngân hàng. Do vậy, hầu hết các  
sinh viên mới ra trường đều phải trải qua  
khoảng 2 đến 6 tháng học việc và 2 tháng  
thử việc để được hướng dẫn công việc tại  
Ngân hàng trước khi giao việc chính thức.  
Một số trường hợp có thể phải trải qua giai  
đoạn tập sự từ 6 tháng đến 1 năm trước khi  
được học việc. Tuy nhiên cũng có một số  
trường hợp được thử việc ngay khi đỗ vào  
Ngân hàng. Điều này còn do từng Ngân  
hàng, vị trí việc làm và năng lực của các  
ứng viên thông qua hồ sơ và thể hiện qua  
quá trình ứng tuyển.  
Ngân hàng là tổ chức có ảnh hưởng  
tương đối lớn trong xã hội và nền kinh tế.  
Do đó, nguồn nhân lực của ngân hàng  
thương mại không chỉ phục tùng sứ mệnh  
của tổ chức, mà còn cần có trách nhiệm với  
lợi ích quốc gia, biết nỗ lực vì sự thịnh  
vượng chung của xã hội.  
2.2. Đặc điểm nguồn nhân lực ngành  
Ngân hàng tại Việt Nam  
Nguồn nhân lực của ngân hàng thương  
mại, trước hết, mang những đặc điểm chung  
của nguồn nhân lực Việt Nam, cụ thể:  
Thể trạng của nguồn nhân lực nhìn  
chung còn hạn chế, nhưng bù lại có nhiều  
thế mạnh như tố chất thông minh, khéo léo  
và tỉ mỉ.  
Nguồn nhân lực còn yếu về ngoại ngữ,  
tin học và thiếu hụt các kỹ năng. Đây trở  
thành một trong những rào cản chính trong  
tiến trình hội nhập. Tuy nhiên, so với mặt  
bằng chung, nguồn nhân lực ngành Ngân  
hàng được đánh giá có sự phát triển kỹ năng  
mềm khá tốt hơn do những yêu cầu từ tuyển  
Thứ hai, với sự phát triển nhanh chóng  
của lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, cũng  
như sự thay đổi của hạ tầng công nghệ và  
quá trình hội nhập quốc tế, một bộ phận  
nhân lực có thâm niên cao trong các ngân  
69  
12/2019  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
hàng thương mại gặp nhiều khó khăn trong  
việc bắt kịp điều kiện kinh doanh mới. Điều  
này có thể thấy rõ qua các cuộc đào thải tại  
các Ngân hàng thương mại. Nhân lực Ngân  
hàng phải thường xuyên học hỏi, trau dồi,  
nâng cao năng lực để vượt qua được các kỳ  
thi sát hạch chuyên môn, thích ứng được với  
công nghệ mới. Điều này sẽ giúp bản thân  
của nhân viên và cả ngân hàng cũng sẽ ngày  
càng phát triển.  
thể: năm 2000, tổng số cán bộ công nhân  
viên làm việc trong ngành ngân hàng là  
67.558 người, đến năm 2012 con số này đã  
là 180.000 người. Theo Phê duyệt Quy  
hoạch Phát triển nhân lực Việt Nam giai  
đoạn 2011 – 2020 Đến năm 2015, nhân lực  
làm việc trong ngành ngân hàng là 240.000  
và dự báo đến năm 2020 tổng số nhân lực  
trong ngành ngân hàng vào khoảng 300.000  
người.  
Thứ ba, một đặc điểm đáng chú ý nữa  
của nguồn nhân lực trong ngân hàng thương  
mại là việc thiếu hụt chuyên gia, đặc biệt là  
các vị trí đòi hỏi chất lượng cao như các vị  
trí quản trị rủi ro, hoạch định…  
Nhìn nhận thị trường lao động ngành  
Ngân hàng trong thời gian qua, có thể thấy  
sự tăng trưởng nhanh nhưng khá bất ổn. Có  
những giai đoạn ngành Ngân hàng, nhu cầu  
tuyển dụng rất nóng trên thị trường lao  
động. Cụ thể như những năm 2005 – 2008,  
sinh viên ra trường có thể dễ dàng tìm kiếm  
được một vị trí việc làm tại Ngân hàng. Đó  
là những thời điểm cả nền kinh tế tăng  
trưởng nóng, số lượng các chi nhánh phòng  
giao dịch của ngân hàng gia tăng nhanh  
chóng, các ngân hàng đã tuyển dụng ồ ạt  
nhân sự. Riêng năm 2017, tỷ lệ tăng trưởng  
tín dụng của ngành kinh tế đến 53,89%. Cho  
đến năm 2009, khi cuộc khủng hoảng kinh  
tế xảy ra, thị trường trong nước nói chung  
và ngành Ngân hàng nói riêng đứng trước sự  
suy giảm về tốc độ phát triển. Hàng loạt các  
ngân hàng rơi vào diện kiểm soát đặc biệt,  
phải bắt buộc tái cơ cấu. Nhân sự Ngân  
hàng cũng theo đó bị cắt giảm hoặc cũng tự  
rời bỏ việc do chế độ lương thưởng cũng bị  
cắt giảm. Những năm 2011 – 2013, tăng  
trưởng tín dụng của nền kinh tế rất thấp, cho  
đến năm 2014 mới tăng tốc trở lại với mức  
18% năm 2015.  
Thứ tư, cơ cấu nguồn nhân lực có đặc  
thù giới tính. Điển hình như ở bộ phận giao  
dịch của các ngân hàng thương mại chủ yếu  
là nữ giới. Trong khi đó, công việc ở bộ  
phận tín dụng hay thu hồi nợ lại thường có  
tỷ lệ nam giới cao hơn.  
Thứ năm, nguồn nhân lực ngành Ngân  
hàng không ổn định. Về phía Ngân hàng,  
thường xảy ra các cuộc đào thải hàng loạt,  
tuyển dụng hàng loạt. Về phía người lao  
động, tình trạng nhảy việc tại các ngân hàng  
khá lớn, đặc biệt là các bộ phận kinh doanh,  
quan hệ khách hàng, tín dụng.  
3. Thực trạng nguồn nhân lực ngành  
Ngân hàng  
3.1. Thực trạng nguồn nhân lực làm  
việc trong ngành Ngân hàng  
Về số lượng nhân viên  
Số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà  
nước VN (NHNN) cho thấy nguồn nhân lực  
ngành ngân hàng đã có bước phát triển  
nhanh chóng trong giai đoạn vừa qua, cụ  
70  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG 12/2019  
Bảng 1. Số lượng nhân sự của một số Ngân hàng thương mại tại Việt Nam  
từ năm 2013 – 2018  
Đơn vị tính: người  
Năm  
Vietcombank  
Vietinbank  
BIDV  
2013  
13.864  
2014  
14.099  
2015  
14.755  
2016  
15.615  
2017  
16.227  
2018  
17.215  
19.886  
18.231  
7.290  
6.128  
5.561  
5.007  
8.791  
1.183  
19787  
19.130  
7419  
21024  
24.000  
7616  
21061  
25.088  
7787  
22.309  
24888  
8766  
21.543  
25.416  
9.757  
8.897  
27.429  
7.546  
10340  
4.985  
Techcombank  
MBBank  
VPBank  
SHB  
6.939  
9.501  
5.553  
9.296  
1.910  
7.810  
12.927  
6.083  
9935  
7892  
8.129  
23.826  
6186  
17.387  
6.351  
9.822  
3.937  
ACB  
10.334  
4.848  
TPBank  
2.800  
(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên các Ngân hàng)  
30,000  
25,000  
20,000  
15,000  
10,000  
5,000  
0
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
Hình 1. Số lượng nhân sự của một số Ngân hàng thương mại uy tín  
tại Việt Nam từ năm 2013 – 2018  
Bảng 1 cho thấy số lượng nhân sự của  
tăng mạnh qua các năm. Trong đó,  
Vietcombank có số lượng nhân sự tăng khá  
ổn định. Từ năm 2015, Vietcombank duy trì  
được mức tăng số lượng nhân sự khoảng 4%  
đến 6% hàng năm. VPBank là ngân hàng có  
tỷ lệ tăng nhân sự hàng năm rất cao trong số  
các ngân hàng tác giả thống kê, năm 2014 tỷ  
lệ tăng khoảng 70%, nhiều năm đạt tỷ lệ  
trên 30%. Nhìn chung, nhu cầu tuyển dụng  
nhân viên mới của ngân hàng vẫn còn khá  
cao.  
một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam.  
Tác giả thống kê từ Báo cáo thường niên  
của các ngân hàng trong danh sách Top 10  
Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm  
2019 do Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá  
Việt Nam (Vietnam Report) bình chọn.  
Riêng Agribank nằm trong danh sách nhưng  
tác giả không lấy được số liệu nên loại bỏ  
khỏi danh sách này.  
Tổng quát chung, có thể thấy, số lượng  
nhân viên của các ngân hàng có xu hướng  
71  
12/2019  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
OCB  
7,081  
8,299  
9,480  
Lienvietpost Bank  
VPBank  
MBBank  
9,636  
9,739  
Techcombank  
ACB  
10,471  
Vietcombank  
Sacombank  
Vietinbank  
BIDV  
17,848  
17,891  
22,164  
23,244  
20,000  
-
5,000  
10,000  
15,000  
25,000  
Hình 2. Thống kê 10 ngân hàng thương mại có số nhân viên nhiều nhất tính đến 30/06/2019  
(số liệu tính riêng Ngân hàng Mẹ)  
Tính đến 30/06/2019, BIDV là ngân  
hàng có số lượng nhân viên đông nhất hệ  
thống với số lượng là 23.244 người, kế đến  
là Vietinbank với số lượng 22.164 người. Số  
lượng nhân viên ở mức khoảng 17 nghìn  
người có thể kể đến Vietcombank và  
Sacombank. Trong số 10 ngân hàng thương  
mại có số lượng nhân viên nhiều nhất hệ  
thống tính đến 3006/2019 còn có ACB,  
Techcombank, MB Bank, VP Bank,  
Lienviet post Bank và OCB với số lượng  
nhân viên khoảng từ 7 nghìn đến 10  
nghìn/ngân hàng.  
động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có  
mức thu nhập bình quân lao động cao nhất  
trong các ngành kinh tế với 21,6 triệu đồng,  
khá cao so với mức thu nhập bình quân/lao  
động của khu vực dịch vụ là 9,41 triệu đồng.  
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 7,76  
triệu đồng, tăng 8,5% (trong đó ngành sản  
xuất và phân phối điện có mức thu nhập  
bình quân đạt cao nhất với 16,1 triệu đồng);  
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt  
mức thấp nhất trong các khu vực kinh tế với  
5,25 triệu đồng.  
Theo khảo sát từ báo cáo tài chính  
kiểm toán năm 2018 của hơn 20 ngân hàng,  
thu nhập bình quân hàng tháng của nhân  
viên dao động từ 12,37 triệu đồng đến 34  
triệu đồng.  
Về thu nhập nhân viên ngân hàng  
Thống kê tại Sách Trắng Doanh nghiệp  
Việt Nam năm 2019 do Bộ Kế hoạch và  
Đầu tư, Tổng cục Thống kê vừa công bố cho  
thấy, trong năm 2017, nhân viên ngành hoạt  
72  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG 12/2019  
Baoviet Bank  
Saigon Bank  
Lienvietpost Bank  
ABBank  
12.37  
13  
14.33  
15  
OCB  
16.03  
16.4  
HDBank  
Vietbank  
SCB  
17.14  
17.23  
17.47  
17.54  
17.58  
17.88  
18.3  
Bắc Á Bank  
SeABank  
SHB  
VPBank  
Sacombank  
Eximbank  
ACB  
19  
20.5  
22.16  
22.88  
23.93  
25.16  
25.89  
Vietinbank  
VIB  
TPBank  
BIDV  
MBBank  
Techcombank  
Vietcombank  
30  
33.5  
30  
0
5
10  
15  
20  
25  
35  
40  
Hình 3. Thu nhập bình quân hàng tháng của nhân viên một số ngân hàng năm 2018  
Đây là mức lương bình quân tính từ  
Báo cáo tài chính kiểm toán, trong đó bao  
gồm cả các chức danh từ ban lãnh đạo cho  
đến nhân viên. Do vậy, thực tế số đông nhân  
viên sẽ được nhận mức thu nhập thấp hơn  
tuy nhiên vẫn là khá tốt so với mặt bằng  
chung của nền kinh tế.  
thuần/người/tháng và 31,5 triệu đồng lợi  
nhuận trước thuế/người/tháng. Con số này  
tại Techcombank là 98 triệu đồng lợi nhuận  
thuần/người/tháng và 94 triệu đồng lợi  
nhuận trước thuế/người/tháng. Như vậy đi  
kèm với mức thu nhập cao, các nhân viên  
ngân hàng cũng đang phải làm việc rất áp  
lực và vất vả.  
Về hiệu suất làm việc của nhân viên  
ngân hàng  
Tuy số lượng nhân viên ngân hàng  
nhiều nhưng nguồn nhân sự ngân hàng  
chất lượng chưa cao.  
Đi cùng với mức lương cao thì áp lực  
trong ngành Ngân hàng cũng rất lớn. Để đạt  
được mức lương như trên, nhân viên ngân  
hàng cũng phải thường xuyên làm thêm giờ  
và đối diện với áp lực rủi ro lớn. Thống kê  
số liệu từ báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm  
cho thấy, Vietcombank vẫn đang dẫn đầu  
với mức lợi nhuận ghi nhận trong 6 tháng  
đầu năm lên tới 11.303 tỷ đồng, tăng trưởng  
41% so với cùng kỳ. Tính ra, mỗi nhân viên  
Vietcombank đã tạo ra 132,67 triệu đồng lợi  
nhuận thuần/tháng và 102,58 triệu đồng lợi  
nhuận trước thuế/tháng. Đứng thứ hai trong  
hệ thống thuộc về nhân viên BIDV, mỗi  
nhân viên tạo ra 102,2 triệu đồng lợi nhuận  
Thứ nhất, thiếu hụt nhân sự một số lĩnh  
vực chuyên môn cao. Một số lĩnh vực đang  
thiếu hụt nhân sự như quản trị rủi ro, thanh  
toán quốc tế, đầu tư quốc tế… nhưng nguồn  
cung nhân sự chất lượng cho lĩnh vực này  
không nhiều, nên việc tuyển dụng không dễ  
dàng và hầu hết các đơn vị đều phải cạnh  
tranh chế độ đãi ngộ để giữ chân người làm.  
Thứ hai, thiếu hụt nhân sự vừa am hiểu  
về tài chính vừa giỏi về công nghệ. Đây là  
một vướng mắc hiện đang xảy ra tại các tổ  
chức tín dụng. Nhân lực có kỹ năng chuyên  
môn tài chính, ngân hàng chiếm trên 90%,  
73  
12/2019  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
nhưng thiếu các kỹ năng về IT và ngoại ngữ.  
Lượng nhân sự giỏi về IT được tuyển dụng  
bổ sung, nhưng lại không giỏi về chuyên  
môn tài chính - ngân hàng dẫn tới lập trình  
các ứng dụng sản phẩm, dịch vụ không hiệu  
quả. Trong khi đó, do thiếu hụt về nguồn  
cung, nhân sự khối công nghệ tài chính có  
nhiều lựa chọn việc làm. Nhân sự khối này  
hiện đang có mức thu nhập cao nhất ở các tổ  
chức và cũng là khối nhân sự dễ dàng  
chuyển việc từ tổ chức tín dụng này qua tổ  
chức tín dụng khác, khiến các đơn vị liên  
tục phải thiếu hụt và tìm kiếm ứng viên mới.  
Thứ ba, nguồn nhân lực còn yếu về  
nhân sự mới, đào tạo lại, tiếp nhận công việc  
đảm bảo cho hoạt động của tổ chức vẫn diễn  
ra liên tục và trôi chảy là một bài toán khó  
đối với ngân hàng.  
Thứ năm, vấn đề về mặt đạo đức của  
nhân viên ngân hàng cũng cần được quan  
tâm. Thời gian qua, xảy ra rất nhiều vụ có  
ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế  
trong lĩnh vực ngân hàng. Theo ý kiến của  
Tổng Thanh tra Lê Minh Khái, tham nhũng  
xảy ra nghiêm trọng, phức tạp, tinh vi, nhất  
là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; quản  
lý, sử dụng đất đai; quản lý, khai thác tài  
nguyên, khoáng sản và đầu tư công. 10 vụ  
án lớn về kinh tế, tham nhũng và các vụ án  
điển hình được đưa ra xét xử trong năm  
2018 thì có đến 6 vụ án liên quan đến các  
lãnh đạo cấp cao của ngân hàng, đó là chưa  
tính đến các vụ án nhỏ liên quan đến một số  
nhân viên ngân hàng.  
kiến thức và kỹ năng. Nhận định về nguồn  
nhân lực ngành ngân hàng, tại hội thảo do  
Viện nhân lực ngân hàng tài chính tổ chức,  
ông Trần Hữu Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ  
chức cán bộ NHNN cho biết, nguồn nhân  
lực ngân hàng hiện nay vừa thiếu vừa yếu,  
chẳng hạn như mảng kiến thức bổ trợ (tin  
học, ngoại ngữ) rất yếu; kiến thức kinh tế,  
ngân hàng, giao tiếp hạn chế. Nhiều ngân  
hàng thiếu đội ngũ quản trị điều hành, lãnh  
đạo có trình độ chuyên môn, khả năng phân  
tích, am hiểu luật pháp và độc lập xử lý các  
vấn đề thực tế. Trình độ chuyên môn, khả  
năng lập dự án, tầm nhìn chiến lược của đội  
ngũ giám đốc chưa đáp ứng yêu cầu cạnh  
tranh và hội nhập.  
4. Nguyên nhân hạn chế  
Chưa xây dựng được cụ thể chiến lược  
nguồn nhân lực về dài hạn. Chiến lược phát  
triển nguồn nhân lực của các Ngân hàng  
chưa cụ thể hóa và gắn liền với chiến lược  
phát triển của Ngân hàng. Tất cả các ngân  
hàng đều có chiến lược phát triển của mình  
nhưng chưa có chiến lược, chương trình  
hành động cụ thể riêng về xây dựng nguồn  
nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát  
triển của ngân hàng gắn với định hướng phát  
triển trong dài hạn. Thực tế cho thấy có rất  
nhiều đợt tuyển dụng hàng loạt và cũng  
nhiều đợt sa thải hàng loạt nhân viên trong  
ngân hàng. Điều này cũng gây nên tâm lý  
hoang mang cho chính nhân viên của ngân  
hàng và cả thị trường lao động khi tiếp nhận  
những thông tin này. Nhân viên cũng không  
yên tâm để công tác và đóng góp vào sự  
phát triển của Ngân hàng. Nguy hại nhất là  
Thứ tư, mức độ gắn bó của nhân viên  
ngân hàng với tổ chức thấp. Có thể thấy,  
ngành Ngân hàng là ngành có mức độ nhảy  
việc cao nhất trong các nền kinh tế. Điều  
này ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân  
lực chung của tổ chức. Bình quân khi tuyển  
nhân sự mới, ngân hàng thường phải dành ít  
nhất là 6 tháng đến 1 năm để đào tạo lại.  
Khi nhân viên nghỉ việc, ngân hàng lại phải  
vật vã, khổ sở lao vào vòng xoáy tuyển dụng  
74  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG 12/2019  
những tin đồn về việc sắp sa thải, tinh  
kiếm một công việc khác và không chuyên  
tâm vào công việc tại Ngân hàng.  
giản… sẽ khiến các nhân viên lo lắng và tìm  
1500  
1000  
500  
0
-500  
1136  
1010  
739  
-138  
-168  
529  
523  
-307  
-454  
-1000  
-1500  
-2000  
-2500  
-1986  
Hình 4. Thay đổi quy mô nhân sự các ngân hàng 30/06/2019 so với đầu năm 31/12/2018  
Để giữ được lòng trung thành của nhân  
Nguồn nhân lực được đào tạo còn thiếu  
viên, các ngân hàng cũng cần xem xét lại  
về kiến thức và kỹ năng, điều này một phần  
chế độ làm việc và lương thưởng của nhân  
đến từ chất lượng đào tạo trong trường đại  
viên. Về cơ bản, nhân viên ngân hàng có thu  
học và từ các em sinh viên. Một số chương  
nhập khá cao. Dù vẫn còn thiếu hụt những  
trình đào tạo còn mang tính hàn lâm và nặng  
kỹ năng và kiến thức, nhưng nhân viên ngân  
về lý thuyết, thiếu các nội dung ứng dụng và  
hàng đã làm việc và mang lại lợi nhuận khá  
thực hành. Trong khi đó, công việc trong  
cao cho ngân hàng. Nhân viên ngân hàng  
ngân hàng có mức độ phức tạp và đòi hỏi  
làm việc dưới quá nhiều áp lực và cường độ  
chuyên môn và thực hành phải thành thạo,  
làm việc rất cao. Hầu hết các nhân viên  
tuyệt đối chính xác. Tồn tại một độ chênh  
ngân hàng đều phải làm việc quá thời gian  
nhất định giữa lý thuyết và thực tiễn nên khi  
quy định (8 giờ/ngày). Hơn nữa nhân viên  
các sinh viên đi làm thì không thể tiếp cận  
ngân hàng còn phải đối mặt với những rủi ro  
được ngay với công việc.  
lớn liên quan đến nghiệp vụ. Điều này làm  
Nhân viên ngân hàng chậm thay đổi  
suy giảm cả về thể chất và tinh thần của  
theo công nghệ mới, ngại học hỏi nâng cao  
nhân viên. Trong trường hợp chế độ lương  
trình độ. Tồn tại một số đơn vị bộ máy nhân  
thưởng đánh giá, khen thưởng không xứng  
sự cồng kềnh và cũ. Đến từ lí do công việc  
đáng, nhân viên sẽ có ý định chuyển sang  
với cường độ cao và áp lực lớn thêm vào  
nơi làm việc khác. Tuy nhiên, đôi khi việc  
việc ngại học hỏi dẫn đến nhân viên ít cập  
thay đổi công việc lại phụ thuộc vào chính  
nhật các kiến thức mới, tiếp thu công nghệ  
từ nhân viên.  
mới. Các buổi đào tạo tập huấn trở thành  
Đối với rủi ro đạo đức của nhân viên,  
gánh nặng và trên tinh thần bắt buộc, chưa  
bên cạnh những nguyên nhân chủ quan là sự  
lôi kéo được nhân viên hứng thú và hăng  
buông lỏng chất lượng tuyển dụng, đào tạo  
say học hỏi.  
và giám sát nhân viên ngân hàng làm phát  
sinh rủi ro, còn có cả những nguyên nhân  
75  
12/2019  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
khách quan như áp lực về lãi suất và điều  
kiện tiếp cận khoản vay, áp lực vay và trả nợ  
vay và đôi khi là từ chính những quy định  
pháp lý chưa rõ ràng trong hệ thống pháp  
luật. Mức độ phong phú của dịch vụ ngân  
hàng mang lại lợi ích cho xã hội và cộng  
đồng, đồng thời cũng là cơ hội phát sinh  
nhiều rủi ro hơn cho nhân viên ngân hàng.  
5. Bộ môn Tài chính - Ngân hàng với mục  
tiêu đào tạo sinh viên ngành đáp ứng yêu  
cầu nguồn nhân lực cho các ngân hàng  
trong thời kỳ công nghệ số  
của các ngân hàng, tác giả đề xuất một số  
kiến nghị như sau:  
5.1.Xác định Chuẩn đầu ra của  
ngành phù hợp với yêu cầu của các nhà sử  
dụng lao động  
Chuẩn đầu ra là yêu cầu tối thiểu về  
kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm  
nghề nghiệp mà người học đạt được sau khi  
hoàn thành chương trình đào tạo, được cơ sở  
đào tạo cam kết với người học, xã hội và  
công bố công khai cùng với các điều kiện  
đảm bảo thực hiện. Đây là những yêu cầu  
mà sinh viên phải biết và phải làm được sau  
khi tốt nghiệp. Do đó, để sinh viên ra trường  
đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao  
động, cần thiết và trước tiên cần xây dựng  
chuẩn đầu ra phù hợp và bám sát với yêu  
cầu của thị trường lao động. Xây dựng  
chuẩn đầu ra không chỉ phù hợp tại thời hiện  
tại mà cần có sự phân tích và dự đoán định  
hướng sự phát triển ngành, sự thay đổi của  
thị trường lao động trong tương lai. Chuẩn  
đầu ra cần thường xuyên sửa đổi, bổ sung  
hàng năm để cập nhật những thay đổi mới.  
5.2.Xây dựng Chương trình đào tạo  
đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao  
động, theo hướng ứng dụng, tăng số lượng  
các học phần thực hành  
Trong thời đại số hóa ngày nay, các  
nhà quản lý nguồn vốn có thể tăng cường  
hiệu quả kinh doanh và thúc đẩy sự kết nối  
trong doanh nghiệp thông qua việc nắm bắt  
và áp dụng công nghệ mới. Đặc biệt, những  
người đi trước trong việc tiên đoán về  
những thay đổi sẽ sẵn sàng hơn để tạo ra  
những giải pháp phù hợp cho tương lai.  
Hơn nữa, theo ước tính của Standard  
Chartered, việc sử dụng các máy gửi tiền tự  
động sẽ làm giảm chi phí xử lý tiền mặt trên  
tổng số tiền mặt cần được xử lý xuống xấp  
xỉ 0.5% - 1% từ mức 2% - 2.5% (phương  
pháp thu tiền truyền thống).  
Nhận thức được vai trò của số hóa tiền  
mặt, tại Việt Nam các ngân hàng thương  
mại đã chủ động đầu tư, ứng dụng các công  
nghệ mới; hợp tác với các công ty cung cấp  
dịch vụ ví điện tử trong khu vực để hỗ trợ  
các giao dịch thanh toán trên nền ví điện tử  
ở thị trường nội địa cũng như các giao dịch  
xuyên biên giới.  
Dựa trên Chuẩn đầu ra được thiết lập,  
xây dựng khung chương trình đào tạo với  
cấu trúc các học phần phù hợp với yêu cầu  
từ thị trường lao động. Nhà trường gắn kết  
với nhà tuyển dụng trong hoạt động cập  
nhật, cải tiến chương trình đào tạo, nâng cao  
vai trò của nhà tuyển dụng lao động trong  
việc đóng góp ý kiến và tham gia vào hoạt  
động xây dựng chương trình đào tạo. Bộ  
môn tăng cường các học phần thực hành, bổ  
sung thêm các kiến thức thực tế, rèn luyện  
các kỹ năng để sinh viên ra trường có đầy  
Và cũng theo dự báo của Ngân hàng  
Nhà nước Việt Nam, nhu cầu nhân lực chất  
lượng cao ngành tài chính ngân hàng vào  
năm 2020 là 120.900 người, tăng gấp hai lần  
so với năm 2016 (61.000 người). Để đào tạo  
sinh viên ra trường đáp ứng được yêu cầu  
76  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG 12/2019  
đủ kiến thức và kỹ năng tham gia thị trường  
lao động.  
trường đại học cần có sự liên kết để xúc tiến  
các khóa đào tạo theo chuẩn mực quốc tế,  
đào tạo bài bản nhân sự khối ngành IT để  
phát triển trong một hệ sinh thái nhân sự cho  
tài chính số, ngân hàng số.  
5.3.Đổi mới phương pháp giảng dạy  
gắn Nhà trường với Ngân hàng trong công  
tác đào tạo, tăng cường các học phần đáp  
ứng yêu cầu thời đại mới  
5.4.Về phương pháp học tập của sinh  
viên  
Nhiều năm qua, bộ môn Tài chính –  
Ngân hàng đã có sự liên kết với các Ngân  
hàng trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.  
Hàng năm, Nhà trường tổ chức các đợt thực  
tập nhận thức và thực tập tốt nghiệp để đưa  
các em sinh viên đến thực tập tại các Ngân  
hàng. Tuy nhiên, các em chưa được tiếp  
xúc, hướng dẫn sâu sát để có thể học hỏi và  
tham gia trực tiếp vào các nghiệp vụ tại  
Ngân hàng. Để các em sinh viên sau khi tốt  
nghiệp có thể tham gia thành thạo các  
nghiệp vụ tại ngân hàng, cần đẩy mạnh hơn  
nữa hoạt động hợp tác giữa Nhà trường và  
Ngân hàng. Nhà trường có thể trực tiếp liên  
kết với Ngân hàng đầu mối. Từ đó, hàng  
năm các em được thực tập theo các diện  
được chú ý ở ngân hàng, được học việc, phụ  
việc trong ngân hàng. Đối với mỗi học phần  
tại trường, các em được thực hành trực tiếp  
tại ngân hàng. Sau khi ra trường, sinh viên  
được ưu tiên làm việc tại Ngân hàng đầu  
mối. Các ngân hàng được tham gia vào quá  
trình đào tạo sinh viên, tuyển dụng sinh  
viên.  
Chủ động học hỏi, nắm vững kiến thức  
chuyên môn, ngoại ngữ, trao dồi kỹ năng  
thái độ làm việc, khả năng sáng tạo, giao  
tiếp và xử lý công việc.  
Chủ động thích ứng công nghệ mới,  
tăng cường tham gia các hội nhóm, các buổi  
hội thảo, tọa đàm, trao đổi về khoa học công  
nghệ, kiến thức mới.  
Năng động, chịu khó, chăm chỉ trong  
học tập và các hoạt động ngoại khóa, chủ  
động tích cực trong các chương trình nhà  
trường liên kết với các ngân hàng, công ty  
tài chính như các buổi tham quan, thực tập,  
tập sự,…  
6. Lời kết  
Phát triển nguồn nhân lực phục vụ  
ngành ngân hàng là một trong những nhiệm  
vụ trọng tâm để ngành ngân hàng phát triển  
bền vững và liên tục. Bộ môn Tài chính –  
Ngân hàng, trường Đại học Kiến trúc Đà  
Nẵng với sứ mệnh đào tạo cử nhân ngành  
Tài chính – Ngân hàng có vai trò cần phải  
đào tạo ra nguồn nhân lực đảm bảo cả chất  
lượng và số lượng đảm bảo sự phát triển  
vững mạnh ngành.  
Nhà trường cần phải thay đổi phương  
pháp đào tạo ngành tài chính ngân hàng để  
đáp ứng yêu cầu thời đại mới, ứng dụng tốt  
công nghệ trong đào tạo sinh viên, đưa vào  
chương trình các môn học và khuyến khích  
thành lập các câu lạc bộ chuyên về công  
nghệ mới để hình thành môi trường trao đổi  
kiến thức, các nội dung cơ bản như: tổng  
quan về fintech, thị trường, đồng tiền và các  
giao dịch trong tương lai với ứng dụng. Các  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bộ Kế hoạch Đầu tư, “Sách trắng  
Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019”,  
NXB Thống Kê  
[2]. Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Văn Thọ  
(2014), “Biến động nhân lực ngành  
77  
12/2019  
KỶ YẾU HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC & GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG  
ngân hàng tại VN - thực trạng và giải  
[4]. Báo cáo thường niên các ngân hàng từ  
năm 2013 đến năm 2018 lấy tại website  
vietstock.com.vn  
pháp”, Tạp chí Cộng sản.  
[3]. Quyết định phê duyệt quy hoạch phát  
triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011  
– 2020 của Thủ tướng chính phủ ngày  
22/07/2011  
[5]. Website Tổng cục Thống kê:  
78  
pdf 11 trang Thùy Anh 12080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bộ môn Tài chính – ngân hàng trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng hiện đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbo_mon_tai_chinh_ngan_hang_truong_dai_hoc_kien_truc_da_nang.pdf