Bài thảo luận Hóa vô cơ - Chủ đề: Oxy già (H₂O₂)
OXI GIÀ (H2O2)
ôxy. Mặc dù trên thực tế liên kết O-O là một liên kết đơn, phân tử có rào cản cao đáng
khác biệt giữa các dạng hơi và tinh thể; thực vậy người ta đã quan sát được một
khoảng rộng giá trị trong các tinh thể chứa phân tử H2O2.
Hiđrô perôxít có thể phân hủy tự nhiên thành nước và ôxy. Thông thường nó phản ứng
cơ và hữu cơ.
một cách tự nhiên:
2 H2O2 → 2 H2O + O2 + Nhiệt lượng
thường được thêm vào như là chất ổn định.
Việc đổ hiđrô perôxít nồng độ cao vào các chất dễ cháy có thể sinh ra sự cháy tức thì
do ôxy được giải phóng từ sự phân hủy hiđrô perôxít. Hiđrô perôxít nồng độ cao (viết
tắt tiếng Anh: HTP high-test peroxide) cần phải lưu trữ trong các thùng chứa thông
thoáng khí để ngăn ngừa việc tích lũy khí ôxy mà nếu không thì cuối cùng sẽ dẫn tới sự
phá hỏng thùng chứa. Thùng chứa phải được làm từ các vật liệu tương thích như
perôxít vào. (Lưu ý rằng polyetylen là tương thích ở nhiệt độ phòng nhưng có thể nổ
cùng với perôxít khi bị cháy.)
Trong dung dịch nước, hiđrô perôxít có thể ôxi hóa hay khử nhiều loại ion vô cơ. Khi nó
thành ion sắt Fe3+,
một số trong các phản ứng này là ngược lại; Mn2+ bị ôxi hóa thành Mn4+ (trong dạng
Hiđrô perôxít thường xuyên được sử dụng làm chất khử trong hóa hữu cơ. Một ứng
thành mêtyl phênyl sulfôxít trong 99% yield trong metanol trong thời gian 18 giờ (hay 20
Ph-S-CH3 + H2O2 → Ph-S(O)-CH3 + H2O
có thể tạo ra perôxít màu xanh lam không ổn định CrO(O2)2. Nó cũng có thể tạo ra các
(H3O2)+.
Ngày nay hiđrô perôxít được sản xuất gần như duy nhất chỉ bằng sự tự ôxi hóa của 2-
etyl-9,10-đihiđrôxyanthracen thành 2-etylanthraquinon và hiđrô perôxít sử dụng ôxy từ
trình tổng quan của quá trình này được đơn giản hóa như sau (dễ nhầm lẫn):
H2 + O2 → H2O2
Tuy nhiên tính kinh tế của công nghệ này phụ thuộc
vào tính hiệu quả của quá trình tái chế quinon cũng
Trước đây các công nghệ vô cơ đã được sử dụng,
khi điện phân.
Năm 1994, sản lượng toàn thế giới của H2O2 là
khoảng 1,9 triệu tấn, phần lớn trong chúng có nồng
độ 70% hoặc thấp hơn. Trong năm này giá bán buôn
"cơ sở 100%".
Hiđrô perôxít làm việc tốt nhất như là tác nhân đẩy khi ở nồng độ cực cao. Tuy nhiên,
có rất ít nhà cung cấp hiđrô perôxít có độ tinh khiết cao, và họ cũng không thể bán với
lượng lớn cho bất kỳ ai. Kết quả là những người nghiệp dư mông muốn sử dụng nó
như là nhiên liệu cho tên lửa thông thường phải mua nó với nồng độ 70% hoặc thấp
hơn (phần lớn trong số 30% còn lại là nước, và đôi khi còn có dấu vết của các chất ổn
nhưng điều này là cực kỳ nguy hiểm do hơi perôxít có thể kích nổ ở nhiệt độ khoảng
70 °C. Hướng tiếp cận an toàn hơn là thổi khí (trơ về mặt hóa học với các chất có trong
dụng phương pháp này thì các tạp chất thường vẫn có thể gây nổ.
Trong những năm thập niên 1950 HTP đã từng có sẵn hơn, nhưng do sự e ngại về an
toàn nên các nhà sản xuất hàng loạt kể từ đó đã chuyển sang sản xuất H2O2 có nồng
độ thấp khi có thể. Một số nhóm nghiệp dư đã biểu thị sự quan tâm của họ trong việc tự
sản xuất perôxít để sử dụng cho chính họ và bán lại với một lượng nhỏ cho những
người khác.
Hơi hiđrô perôxít có thể kích nổ trên 70 °C, vì thế việc bảo quản dung dịch và hơi ở
điều kiện mát là then chốt. Việc chưng cất hiđrô perôxít ở áp suất thường cũng rất nguy
hiểm. Hơi hiđrô perôxít có thể tạo ra các chất nhạy nổ do tiếp xúc với các hiđrôcacbon
như dầu mỡ. Các phản ứng nguy hiểm dao động từ bắt cháy tới nổ đã được thông báo
Hiđrô perôxít, nếu đổ vào vải (hay các chất dễ cháy khác) sẽ làm bay hơi nước cho đến
khi nồng độ đạt đến mức đủ lớn thì vật liệu sẽ tự động bắt cháy. Sản phẩm da nói
chung chứa sắt kim loại từ quá trình thuộc da và thông thường bắt lửa rất nhanh.
Hiđrô perôxít đặc (>50%) là một chất ăn mòn, và thậm chí các dung dịch mạnh để sử
dịch hiđrô perôxít là nguy hiểm, do sự phân hủy trong dạ dày giải phóng ra một lượng
khí lớn (10 lần thể tích của dung dịch 3%) dẫn tới sự chảy máu trong.
thư đối với con người. Nghiên cứu trên chuột phát hiện ra sự tăng nguy cơ ung thư hệ
tiêu hóa sau việc hấp thụ hiđrô perôxít, nhưng các nghiên cứu khác trên động vật đã
chứng tỏ nó không thuyết phục. Hiđrô perôxít được sản xuất như là phụ phẩm trong
việc trao đổi ôxy trong cơ thể, và gần như mọi cơ thể đều có enzym có tên gọi là
Trong gia đình
độ cao hơn nó có thể làm cháy da khi tiếp xúc. Ở nồng độ thấp (3%), nó được sử dụng
bổ sung các hóa chất ổn định) như là nước rửa miệng. Các dung dịch perôxít thương
mại (chủ yếu là H2O2 mua từ các hiệu thuốc) là không thích hợp cho việc uống nó do
chúng chứa các hóa chất bổ sung có tính độc hại.
Một số người làm vườn và những người trồng cây thủy sinh đã nói đến giá trị của hiđrô
perôxít trong các dung dịch nước của họ. Họ cho rằng sự phân hủy tự nhiên của nó giải
phóng ôxy cho cây trồng mà nó có thể làm tăng sự phát triển của rễ cũng như giúp xử
lý các rễ đã thối rữa, là các tế bào chết do thiếu ôxy.
Perôxít thương mại, như các dung dịch 3% mua tại hiệu thuốc, có thể sử dụng để tẩy
các vết máu khỏi quần áo và thảm.
Một lọ nước ôxy già trong tủ thuốc gia đình.
Do hiđrô perôxít phân hủy khi có ánh sáng nên nó cần phải bảo quản trong điều kiện
mát và tránh chiếu nắng trực tiếp. Nó cũng cần được bảo quản trong chai lọ có dãn
nhãn rõ ràng, xa tầm với của trẻ em do nếu uống nhầm một lượng lớn thì nó có thể sinh
ra các vấn đề với hệ tiêu hóa như bỏng, tổn thương và nôn mửa.
Các dung dịch đậm đặc hơn, chẳng hạn 35% sẽ gây ra chết người khi uống mà không
pha loãng.
gốc clo.
Các ứng dụng chủ yếu khác trong công nghiệp của nó còn bao gồm cả việc sản xuất
được sử dụng nhiều trong các phòng thí nghiệm, cũng được điều chế từ axít meta-
clorôbenzôic.
Sử dụng H2O2 như là tác nhân đẩy có một số ưu thế như sự phân hủy của nó tạo ra
nước và ôxy. Nhiên liệu được bơm vào trong khoang phản ứng, ở đó thông thường các
chất xúc tác kim loại (đặc biệt là bạc hay bạch kim) kích thích sự phân hủy, luồng hơi
nước-ôxy được tạo ra hoặc là được sử dụng trực tiếp hoặc được trộn với nhiên liệu để
là chất ôxi hóa để đốt nhiên liệu thì xung lực riêng của nó cao hơn, có thể đạt tới 350 s
(3,5 kN•s/kg), phụ thuộc vào loại nhiên liệu. Perôxít đã được sử dụng rất thành công
như là chất ôxi hóa cho tên lửa đẩy giá thành thấp của Anh, tên lửa Black Knight (Hiệp
sĩ đen) cho các lần phóng vệ tinh của dự án Black Arrow (Mũi tên đen).
cung cấp Isp thấp hơn một chút so với ôxy lỏng, nhưng là một chất dễ bảo quản, không
cần làm lạnh và đậm đặc hơn và nó có thể sử dụng để chạy các tuốc bin khí nhằm tạo
ra áp suất cao. Nó cũng có thể sử dụng để làm mát tái sinh các động cơ tên lửa.
phát hiện ra trong các lần thử nghiệm ngư lôi là nồng độ cao của H2O2 trong các chỗ
uốn vuông góc của các ống dẫn HTP có thể dẫn tới các vụ nổ của các tàu ngầm hay
ngư lôi.
Trong khi ứng dụng của nó như là tác nhân đẩy đơn cho các động cơ lớn đã bị suy
giảm thì các thiết bị đẩy nhỏ (để kiểm soát tư thế) sử dụng hiđrô perôxít vẫn còn được
sử dụng trong một số vệ tinh và đem lại ích lợi cho tàu vũ trụ, làm cho nó dễ dàng hơn
trong việc điều chỉnh và an toàn hơn trong khi nạp và chứa nhiên liệu trước khi hạ cánh
(khi so sánh với tác nhân đẩy đơn hidrazin). Tuy nhiên hiđrazin là tác nhân đẩy đơn phổ
hơn.
Nước ôxy già được sử dụng như là chất khử trùng và chất khử khuẩn trong nhiều năm.
Trong khi việc sử dụng nó đã bị suy giảm trong những năm gần đây do sự phổ biến của
các sản phẩm OTC có mùi vị dễ chịu hơn và có sẵn hơn thì nó vẫn được nhiều bệnh
viện, bác sĩ và nha sĩ sử dụng trong việc vô trùng, làm sạch và xử lý mọi thứ từ sàn nhà
Hiđrô perôxít 35% cấp thực phẩm được gọi là "nước ôxy già", với các giá trị y học hay
phẩm này cho rằng nó có thể hòa loãng và sử dụng trong "liệu pháp siêu ôxi hóa" để
dụng có lợi của perôxít bị cấm bởi cộng đồng khoa học.
Gần đây, các nhà thực hành y học khác cũng sử dụng các liều hiđrô perôxít tiêm tĩnh
mạch trong nồng độ cực thấp (nhỏ hơn 1%) trong liệu pháp hiđrô perôxít - một hướng
không có các chứng cứ khoa học cho thấy hiđrô perôxít là an toàn, có hiệu quả hay có
ích trong điều trị ung thư". Họ cũng khuyến cáo các bệnh nhân ung thư cần "duy trì việc
chăm sóc của các bác sĩ chuyên khoa, là những người sử dụng các phương pháp điều
trị đã được thử thách và các thử nghiệm điều trị đã được phê chuẩn của các điều trị
mới có triển vọng".
Bạn đang xem tài liệu "Bài thảo luận Hóa vô cơ - Chủ đề: Oxy già (H₂O₂)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_thao_luan_hoa_vo_co_chu_de_oxy_gia_ho.docx

