Vai trò của Hội An với con đường tơ lụa trên biển (từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII)

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
DOI: 10.47393/jshe.v10i4.862  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
VAI TRÒ CỦA HỘI AN VỚI CON ĐƯỜNG TƠ LỤA TRÊN BIỂN  
(TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVIII)  
Nhận bài:  
Tăng Chánh Tína*, Phan Nguyễn Huy Chinhb  
15 – 04 – 2020  
Chấp nhận đăng:  
10 – 06– 2020  
Tó m tắt: Con đường tơ lụa trên biển được xem là khởi đầu cho mọi con đường thương mại hàng hải  
quốc tế, khô ng chỉ có ý nghĩa về giao thương; con đường tơ lụa trên biển cò n là nền tảng cho những  
khá m phá , hiểu biết mới của con người về các vùng đất, địa lý, tự nhiên, chí nh trị, xã hội của cá c khu  
vực trên thế giới. Với vị trí quan trọng về chí nh trị, văn hóa; từ rất sớm, thương cảng Hội An (Việt Nam)  
đã dự phần và có vai trò quan trọng trên tuyến đường huyết mạch này. Bài viết này sẽ tập trung làm rõ  
về sự ra đời cũng như vai trò của Hội An với con đường tơ lụa trên biển từ đầu thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ  
XVIII.  
Từ khóa: con đường tơ lụa; vai trò ; thương mại; hàng hải; Hội An.  
Mãi đến thế kỉ V thời Đông Tấn, nhà sư Pháp Hiển  
từ Ấn Độ đến Xri Lanca, sau đó trở về nước bằng  
1. Mở đầu  
Với việc ra đời của con đường tơ lụa trên biển, Việt  
Nam đã trở thành trạm trung chuyển cho các tuyến giao  
thương hàng hải quốc tế. Theo đó, xuyên suốt chiều dài  
lịch sử, các thương cảng ở Việt Nam trong đó có thương  
cảng Hội An đã tích cực tham gia vào tuyến giao  
thương trên con đường tơ lụa trên biển nhất là giai đoạn  
từ đầu thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII, tạo điều kiện  
giao lưu kinh tế và văn hoá giữa nhiều quốc gia trên thế  
giới.  
đường biển. Những ghi chép sinh động của ông trong  
“Phật quốc kí” (còn gọi là Pháp Hiển truyện) đã miêu tả  
chi tiết tuyến hàng hải từ Sư tử quốc (Xri Lanca) qua Da  
Phò Đề (Giava) và cuối cùng là vùng Sơn Đông. Hành  
trình của nhà sư Pháp Hiển có tính lịch sử vì đã khai  
thông tuyến giao thông biển từ Biển Đông đến Ấn Độ  
Dương qua các eo biển ở khu vực Đông Nam Á hải đảo  
và quan trọng hơn, đó là mốc đánh dấu sự hình thành  
con đường tơ lụa trên biển. Và thời gian trước đó, chỉ  
được xem là khoảng thời gian định hình cho hoạt động  
thương mại trên biển của Trung Quốc (Nguyễn &  
Hoàng, 2008, 125).  
2. Khái quát về con đường tơ lụa trên biển  
2.1. Sự ra đời  
Về sự hình thành của con đường tơ lụa trên biển  
hiện có nhiều giả thuyết. Nhiều ý kiến cho rằng từ trước  
thế kỉ V, đã xuất hiện những mầm mống sơ khai của con  
đường tơ lụa trên biển ở Trung Quốc. Tuy nhiên, giai  
đoạn này chỉ diễn ra quá trình giao lưu giữa Trung Quốc  
với các nước lân cận diễn ra trên quy mô nhỏ hẹp. Đây  
được xem là giai đoan xác lập cho các mối quan hệ bằng  
đường biển giữa Trung Quốc và các nước.  
Con đường tơ lụa là một mạng lưới, một hệ thống  
các con đường trao đổi thương mại trên biển. Trong đó,  
Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc hình hành  
và định hình một số hoat động ở con đường tơ lụa trên  
biển; con đường tơ lụa trên biển hoàn toàn không phải  
là của Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng.  
2.2. Tên gọi  
Nguồn gốc của thuật ngữ “Con đường tơ lụa”  
không phải xuất phát từ Trung Quốc. Người khai sinh ra  
thuật ngữ Seidenstrasse (Con đường tơ lụa) chính là nhà  
địa lý học người Đức Ferdinand von Richthofen (1833 -  
1905), ông đã sử dụng thuật ngữ này trong các báo cáo  
a,b Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng  
*
Tác giả liên hệ  
Tăng Chánh Tín  
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số đặc biệt (2020), 15-21 | 15  
Tăng Chánh Tín, Phan Nguyễn Huy Chinh  
hàn lâm của mình gửi đi từ Trung Á. Các báo cáo này  
được xuất bản lần đầu ở Berlin vào năm 1877. Trong  
các nghiên cứu của ông về con đường thương mại cổ đại  
xuất phát từ Trung Hoa đi về phía tây châu Á, xuyên  
qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran,  
Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, các nước xung quanh Địa  
Trung Hải và đến tận châu Âu, dài hơn 6.400 km.  
Trong đó, cảng Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến đã  
phát triển vượt xa thương cảng Quảng Châu. Các  
thương nhân Ả Rập lúc bấy giờ nhận xét “Tuyền Châu  
là một trong những thương cảng lớn nhất thế giới”. Tiếp  
đến, thời nhà Minh đã chú trọng đề ra những chính sách  
nhằm thúc đẩy và phát triển ngành thương mại biển như  
tái lập các Thị Bách Ti, miễn giảm thuế khi buôn bán  
với dân bản địa và đón tiếp các tàu buôn từ nước ngoài  
đến triều cống,…  
Thuật ngữ của Ferdinand von Richthofen lúc bấy  
giờ tuy đã được biết đến nhưng chưa sử dụng rộng rãi,  
mãi đến khi một trong các học trò của Richthofen tại  
trường Đại học Humboldt ở Berlin bắt đầu sử dụng nó  
trong các nghiên cứu của mình vào thập niên 1930.  
Người học trò này là một nhà thám hiểm tên là Sven  
Hedin, người Thụy Điển. Vào năm 1936 ông xuất bản  
một cuốn sách có nhan đề “Die Seidenstrasse” bằng  
tiếng Đức và “Sidenvägen” bằng tiếng Thụy Điển.  
Cuốn sách sau đó được dịch sang một số ngôn ngữ  
khác, bao gồm tiếng Anh vào năm 1938, và được biết  
đến với cái tên “The Silk Road” (Con đường Tơ lụa).  
Đến giữa thế kỉ XVI, những biến động của thị trường  
Trung Quốc, đó là việc nhà Minh thực hiện chính sách  
“hải cấm” đã làm cho “con đường tơ lụa trên biển” của  
Trung Quốc sau giai đoạn phát triển cực thịnh đã có dấu  
hiệu suy giảm rõ rệt và suy tàn cuối thế kỉ XVIII.  
Hải trình của con đường tơ lụa trên biển có điểm  
cực Tây bắt đầu từ Roma qua các hải cảng vùng Trung  
Cận Đông như: Al Tur, Fustat, Cairo... men theo bờ  
biển phía nam Ấn Độ qua Thái Lan vòng xuống eo  
Malacca để vào vùng biển Thái Bình Dương.  
Và mãi đến năm 1989, khi cuốn sách của tác giả  
Che Muqi có nhan đề Con đường tơ lụa: Quá khứ và  
Hiện tại được Nhà xuất bản Ngoại văn Bắc Kinh xuất  
bản thì thuật ngữ này mới được chính thức sử dụng ở  
Trung Quốc (Trung Hiếu, 2019). Về sau, giới học thuật  
quốc tế đều thống nhất tên gọi con đường tơ lụa để chỉ  
tuyến đường thông thương thời cổ đại xuất phát từ  
Trung Quốc qua Nam Á, Tây Á nối liền tới châu Âu và  
Bắc Phi, bao gồm tuyến đường trên bộ (Con đường tơ  
lụa - Silk Road) và trên biển (Con đường tơ lụa trên  
biển - Maritime Silk Road).  
Sau khi vượt qua eo Malacca, con đường chia làm  
hai ngả. Một ngả men theo vùng biển Việt Nam qua các  
cảng: Côn Đảo - Cù Lao Chàm - Hội An - vào vùng  
biển Nam Trung Hoa rồi qua nam Nhật Bản. Ngả thứ  
hai đi vào quần đảo Indonesia, Philippines rồi ngược  
vào vùng phía nam Trung Quốc để tới nam Nhật Bản -  
Cảng Hakata trên đảo Kyushu được coi là điểm tận  
cùng phía Đông của con đường này.  
3. Sự ra đời của thương cảng Hội An  
Với những đặc điểm vị trí địa lý thuận lợi, từ đầu  
Công nguyên, thương cảng Hội An đã tồn tại và phát  
triển trên nền tảng văn hoá Sa Huỳnh. Giai đoạn của  
những thế kỷ đầu sau Công nguyên, Champa từng là  
điểm đến đồng thời cũng là chốn đi về của nhiều đoàn  
thương thuyền từ Đông Bắc Á xuống, từ Đông Nam Á,  
Tây Nam Á sang. Đặc biệt các thương cảng vùng  
Champa (trong đó có thương cảng Hội An mà ngày đó  
gọi là Lâm Ấp phố) là những thương cảng sâu, nơi ẩn  
gió tốt, có nguồn nước ngọt dồi dào và quê hương của  
những sản vật như ngà voi, sừng tê giác, trầm hương, sa  
nhân, đồi mồi nên các thương cảng vùng Champa đã trở  
thành trạm trung chuyển rất lí tưởng cho những tàu  
buôn nước ngoài trên con đường tơ lụa trên biển.  
2.3. Hoạt động  
Hoạt động của con đường tơ lụa trên biển gắn với  
vai trò quan trọng của Trung Quốc trên tuyến đường  
này. Năm Khai nguyên thứ 2 (714) dưới thời nhà  
Đường, triều đình thiết lập Thị Bách Ti ở Quảng Châu  
để quản lý những việc mua bán của thuyền bè nước  
ngoài. Đến thời Tống, kỹ thuật hàng hải có sự phát  
triển, đột phá mới, người Trung Quốc đã bắt đầu biết sử  
dụng la bàn để đi biển và từ thời Lưỡng Tống, đồ gốm  
đã trở thành mặt hàng buôn bán chủ yếu trên con đường  
thương mại biển (Nguyễn & Hoàng, 2008, 128).  
Từ thời nhà Nguyên, con đường tơ lụa trên biển  
không ngừng phát triển, ngành thương mại biển không  
ngừng được mở rộng. Nghề đóng thuyền đi biển cũng  
phát triển quy mô hơn trước bởi lợi nhuận rất cao.  
Giai đoạn từ thế kỉ V đến thế kỉ X, người Chăm đã  
thiết lập nên một hệ thống cảng thị, mạng lưới giao  
16  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 15-21  
thông rộng lớn, có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều thị  
của cư dân cổ ở Hội An nói riêng và cả Champa nói  
chung (Đỗ, 2016).  
trường, trung tâm nguyên liệu, luân chuyển hàng hoá  
(V. K. Nguyễn & Trần, 2019,138-147). Dải bờ biển  
miền Trung làm cơ sở, coi tiềm năng kinh tế biển là thế  
mạnh, các cộng đồng người thuộc vương quốc Champa  
đã thiết lập “một hệ thống thương cảng giúp cho việc  
trao đổi thương mại với các quốc gia bên ngoài. Các  
thương cảng này đã đóng một vai trò quan trọng trong  
việc hình thành con đường tơ lụa trên biển vào thế kỉ IX  
- X và phồn thịnh trong các thế kỉ sau” (Hà, 2002, 346).  
4. Hội An với con đường tơ lụa trên biển (từ  
đầu thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII)  
Xứ Quảng dưới thời các chúa Nguyễn trong những  
thế kỉ XVI - XVIII là một vùng đất trù phú nhất của  
Đàng Trong với đô thị thương cảng Hội An nổi tiếng  
mở rộng cửa giao thương với thế giới bên ngoài. Sau  
một thời gian suy thoái kéo dài đến 150 năm từ năm  
1306 - 1558, trải qua các triều đại phong kiến như nhà  
Trần, nhà Hồ, nhà Lê, cảng thị Hội An mới được phục  
hồi trở lại dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 -  
1613) nhờ chính sách mở cửa buôn bán với nước ngoài,  
khôi phục hoạt động ngoại thương trên thương cảng Hội  
An và nhằm mục đích tăng cường tiềm lực kinh tế - xã  
hội và quân sự của Đàng Trong để đối đầu với chính  
quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.  
Giai đoạn từ thế kỉ X trở về sau nhất là trong kỷ  
nguyên thương mại sớm ở khu vực Đông Nam Á, thương  
cảng Hội An và hệ thống các thương cảng của vùng  
Amaravati (bao gồm cả thương cảng vùng cửa sông Hàn  
- Đà Nẵng, bến cảng trên đảo Cù Lao Chàm và đảo Lý  
Sơn, cảng Cổ Lũy vùng cửa sông Trà Khúc ở Quảng  
Ngãi) đã dự nhập một cách tích cực vào mạng lưới giao  
thông biển của khu vực và được ghi nhận là những điểm  
đến thường xuyên của các đoàn thuyền buôn và thương  
nhân Trung Hoa, Arab và Đông Nam Á.  
Nhờ mở cửa và quan hệ buôn bán với người nước  
ngoài mà thương cảng Hội An đã trở thành điểm  
dừng chân và trạm trung chuyển của nhiều tuyến hải  
thương quốc tế, bên cạnh đó là hoạt động trao đổi  
mua bán hàng hoá, cung cấp nước ngọt, than củi,  
lương thực. Cristophoro Borri từng nhận định: “Châm  
ngôn của người Đàng Trong là không sợ sệt bất cứ  
nước nào trên thế giới. Hoàn toàn trái ngược với vua  
Trung Quốc là sợ bất cứ ai nên đóng chặt cửa không  
cho người nước ngoài vào, không cho phép buôn bán  
ở nước mình” (Borri, 2014, 93). Vì lẽ đó, Hội An đã  
dự phần và có những đóng góp quan trọng trên con  
đường thương mại trên biển từ đầu thế kỉ XVI đến  
cuối thế kỉ XVIII.  
Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII có thể được  
xem là giai đoạn phát triển thịnh vượng nhất của nagara  
Amaravati cả về mặt chính trị, kinh tế và văn hoá nhờ  
vào sự phát triển mạnh mẽ của giao thương biển quốc tế  
với vai trò quan trọng của cảng thị Hội An. Các tư liệu  
cổ của văn khắc Champa đã cung cấp những tư liệu  
quan trọng cho thấy sự hội nhập tích cực, chủ động và  
liên tục của Champa trong việc dự nhập vào mạng lưới  
giao thương quốc tế. Ngoài ra, dựa trên những tư liệu  
khảo cổ học về việc tìm thấy được đồ gốm men ngọc  
của lò Việt Châu (thế kỷ X), đồ sứ hoa lam, đồ gốm  
men ngọc Long Tuyền, đồ sứ hoa lam Đồng An (thế kỉ  
XII – XIII) và đồ sứ trắng Đức Hóa (thế kỉ XIII) ở địa  
điểm Trảng Sỏi (Cẩm Hà, Hội An), Bàu Đá (Cẩm  
Thanh, Hội An) hay giếng Champa cũng đã được tìm  
thấy ở xóm Thanh Chiêm và xóm An Bàng (Cẩm Hà,  
Hội An).  
4.1. Điểm dừng chân, trao đổi mua bán hàng hoá  
Dưới tác động của hoạt động thương mại thế giới  
và các nước trong khu vực, đồng thời, do yêu cầu xây  
dựng tiềm lực chính trị - kinh tế - quân sự lớn mạnh để  
đối trọng với chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài,  
chúa Nguyễn đã thực thi chính sách ngoại thương mở  
cửa đối với bên ngoài. Nhờ vây, hoạt động thương  
nghiệp ở Đàng Trong nói chung và Hội An nói riêng  
đã phát triển phồn thịnh từ thế kỉ XVI. Ngoài ra, Hội  
An còn hội tụ những điều kiện địa lý thuận lợi để trở  
thành một thương cảng sầm uất. Với vị trí địa lý nằm  
bên cạnh sông Thu Bồn, liền ngay với cửa Đại, phía  
trước được che chắn bởi Cù Lao Chàm, các thuyền bè  
Từ những tư liệu khảo cổ học trên, có thể thấy rằng,  
trước khi trở thành một thương cảng nổi tiếng của Đàng  
Trong ở thế kỉ XVI – XVIII thì Hội An đã từng là một  
trung tâm kinh tế có tầm quan trọng bậc nhất của cư dân  
cổ Champa. Sự hiện diện phong phú của các hiện vật  
khảo cổ học, đặc biệt là các hiện vật gốm sứ thương mại  
đã góp phần quan trọng vào việc phục dựng lại lịch sử  
17  
Tăng Chánh Tín, Phan Nguyễn Huy Chinh  
từ ngoài biển vào có thể đi qua cửa Đại hay đi vào từ  
phía cửa Hàn (vịnh Đà Nẵng), theo sông Cổ Cò đến  
Hội An (Đ. A. S. Trần, 2000, 51-64).  
sinh sống. Đầu tiên phải kể đến các thương nhân Hoa  
Kiều và Nhật Bản. Theo sau là người Bồ Đào Nha, rồi  
người Hà Lan lần lượt tìm đến, lập các thương điếm để  
buôn bán lâu dài trên đất Hội An. Trong số 37 hồ sơ về  
mối quan hệ giữa công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) với  
các chúa Nguyễn trong thế kỉ XVII - XVIII do TS.  
Nguyễn Văn Bình và TS. John Kleinen (ĐH Leiden -  
ĐH Amsterdam, Hà Lan) công bố tại Hội thảo quốc tế  
về Hội An (1990) thì có đến 19 văn kiện liên quan trực  
tiếp đến việc giao lưu thương mại của VOC với các  
cảng thị miền Trung, trong đó chủ yếu là thương cảng  
Hội An (Trương & Kleinen, 1991, 63-67).  
Theo GS Trần Quốc Vượng, “Hội An là sự phục  
hưng của cảng thị Champapura, nơi ngã tư đường nước  
(sông Cổ Cò-Đế Võng-Trường Giang và sông Chợ Củi-  
Sài Thị)” (Nhiều tác giả, 2004, 88).  
Nhắc đến vai trò trung tâm mua bán, trao đổi hàng  
hóa của Hội An trong giai đoạn này, không thể không  
nhắc đến vai trò của tiền cảng Cù Lao Chàm. Bởi lẽ, từ  
buổi khởi nguyên của các hoạt động thương mại Đông -  
Tây ở khi vực biển Đông thì vận mệnh của Hội An và  
Cù Lao Chàm đã gắn chặt với nhau. Trong thư tịch cổ Ả  
Rập đã ghi chép: “Tàu từ Hind (Ấn Độ) đến Sanf  
(Champa) mất 10 ngày. Ở đây có nước ngọt và trầm  
hương xuất khẩu... Họ dừng lấy nước ngọt ở Sanf-  
Fulaw, Cham Pulaw (Cù Lao Chàm) rồi định hướng đi  
đến Sin (Trung Quốc)” (Hoàng, 2007, 121).  
Còn đối với thương nhân Nhật Bản, trong số 354  
Shuinjo (Châu ấn trạng) mà Mạc phủ Tokugawa cấp  
cho các thương thuyền Nhật Bản ra nước ngoài buôn  
bán trong khoảng thời gian 1604 - 1634, thì có 334  
Shuinjo được cấp để đi đến 19 thương cảng thuộc các  
nước Đông Nam Á, chiếm 93,5% trong đó Hội An có  
86 thuyền, chiếm tỉ lệ 66% (Vũ, 1991, 206-207).  
Những số liệu dẫn chứng trên đây đã chứng tỏ thương  
cảng Hội An có sức thu hút lớn đối với các thuyền  
buôn nước ngoài.  
Vào giai đoạn từ đầu thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ  
XVIII, thương nhân các nước phương Tây như Hà Lan,  
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp… các nước  
Đông Nam Á như Mã Lai, Indonesia, Thái Lan,  
Singapore,…và các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc,  
Nhật Bản hàng năm đã dừng chân tại Hội An để nghỉ  
chân hay trao đổi hàng hoá trên các thương thuyền. Với  
điều kiện thuận lợi của mình, Hội An trở thành nơi đô  
hội sầm uất bậc nhất của xứ Đàng Trong.  
Một trong những mặt hàng được trao đổi, mua bán  
từ rất sớm tại thương cảng Đại Chiêm - Hội An là trầm  
hương và nô lệ. “giá một đứa bé là ba lạng vàng hay trả  
bằng gỗ thơm tương đương với ba lạng vàng” (Trần &  
Vũ, 1991, 132). Trầm hương của Quảng Nam đã thu hút  
một số lượng đông đảo các thương nhân nước ngoài tới  
tìm mua, nhất là từ các nước Trung Á và Đông Á.  
Người Ả Rập, Trung Hoa và Nhật Bản đều rất ưa  
chuộng món hàng này. Ngoài hai nguồn hàng xuất khẩu  
chính trên, ở đây “còn xuất khẩu vàng, ngà voi, sừng tê,  
đồi mồi, tơ lụa, hồ tiêu, mật ong, đường mía, các loại gỗ  
quý, các loại đậu, chim và thú vật hiếm lạ…và những  
loại lâm thổ sản khác” (Trần & Vũ, 1991, 133).  
Trong tác phẩm “Xứ Đàng Trong 1621”,  
Cristophoro Borri đã ghi lại cảnh quan nơi đây với một  
ngòi bút đầy cảm xúc: “Còn về hải cảng thì thật lạ lùng  
chỉ trong hơn một trăm dặm một chút mà người ta đếm  
được hơn 60 cảng, tất cả đều rất thuận tiện để cập bến  
và lên đất liền. Là vì ở ven bờ có nhiều nhánh biển lớn,  
hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới  
và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng  
thuộc tỉnh Quảng Nam. Người ta cập bến bằng hai cửa  
biển, một gọi là Turon (Đà Nẵng) và một gọi là  
Puluciambello (Cửa Đại, Hội An). Các cửa biển cách  
nhau chừng 3 hay 4 dặm, kế đó biển chia làm hai nhánh  
đi sâu vào đất liền chừng bảy hay tám dặm làm thành  
như hai con sông luôn tách rời nhau để rồi cùng gặp  
nhau và đổ vào một con sông lớn. Tàu bè từ hai phía tới  
cũng đi vào con sông này” (Borri, 2014, 91).  
Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp  
lục, thuyền buôn nước ngoài đến Hội An mang theo các  
mặt hàng may mặc, vải, giấy, đồ đồng, đồ gỗ, sành sứ,  
đồ thờ cúng, tạp hoá, thực phẩm, dược phẩm. Trong đó,  
đồ sành sứ chiếm tỉ lệ 4,64%, đúng hàng thứ tư trong số  
các mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhập khẩu vào Hội An  
(Lê, 1977, 357-358).  
Về hàng xuất khẩu, Hội An xuất ra nước ngoài các  
mặt hàng gỗ, đặc sản quý hiếm (như sừng tê, ngà voi,  
trầm hương, yến sào), hải sản, kim loại, nông sản thực  
Nhờ hội tụ những yếu tố đó mà Hội An đã trở thành  
nơi thu hút các thương nhân các nước đến buôn bán và  
18  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 15-21  
phẩm, hàng thủ công, dược phẩm. Trong những mặt kể  
“Hòn Tàu, Hòn Kẽm, Hòn Vung  
Ba hòm xúm lại đỡ vùng Quảng Nam  
Non sông ai dựng ai làm  
hàng kể trên thì đồ gốm sứ chiếm một tỉ lệ lớn. Những  
tư liệu khảo cổ học dựa trên kết quả khai quật ở Hội An  
đã chứng minh cho điều đó. Trong công cuộc khai quật  
vào năm 1989, đã phát hiện một số lượng khá lớn đồ  
gốm Trung Hoa ở các địa điểm Hậu Xá (Thanh Hà, Hội  
An), chùa Âm Bổn (Sơn Phong, Hội An). Tiếp theo đó  
là sự phát hiện các đồ gốm thuộc dòng gốm Hizen (Nhật  
Bản) chứng minh cho hoạt động giao thương của Hội  
An rất phát triển.  
Sông Sài Giang lượn khúc, Cù Lao Chàm xanh um”  
“Quảng Nam có núi Ngũ Hành  
Có sông chợ Củi, có thành Đồng Dương”  
Địa danh chúng tôi muốn nhắc tới ở đây chính là  
chợ Củi (Sài Thị) và sông Sài Thị (Sài Thị Giang). Sài  
Thị Giang là tên của một con sông chảy qua Chợ Củi  
sầm uất rồi chảy qua những bến nước Câu Lâu, Vạn  
Đông… kéo dài mãi tới Gò Sài của Điện Phương (Điện  
Bàn) ngày nay. Nhiều ý kiến đồng ý sông Chợ Củi  
chính là một đoạn sông Thu Bồn đi qua cái chợ Củi  
(thuộc thôn Đông Khương, xã Điện Phương nay), nơi  
tập trung thuyền bè đông đúc để được tiếp củi - nhiên  
liệu chất đốt cần thiết, nước ngọt, lâm hải sản cho  
những chuyến đi xa.  
Bên cạnh các hoạt động với các thương nhân người  
Hoa, người Nhật thì thời kỳ này, hoạt động thương mại  
với các thương nhân phương Tây cũng rất phát triển.  
Tuy nhiên, trong chính sách giao thương với thương  
nhân phương Tây, chính quyền chúa Nguyễn vẫn luôn  
lo sợ mối nguy cơ tiềm ẩn về an ninh quốc gia, do vậy,  
chính quyền chúa Nguyễn luôn ban hành lệnh cấm,  
không cho thuyền hoặc thương nhân phương Tây vào để  
buôn bán.  
Học giả Nguyễn Văn Xuân trong bài viết “Từ Sài  
Thị đến Sài Gòn” từng nhận định: “Từ bến cảng quốc tế  
này, các tàu bè đều cần đến củi và nước sạch để giải  
quyết sinh hoạt khi ở lại hay tiếp tục hành trình. Củi  
nước, đặc biệt củi là vấn đề cực kỳ quan trọng cho tàu  
bè đô thị cũng như cho dân địa phương. Vì thế phải lập  
một chợ lớn chuyên việc buôn củi bao gồm các thợ đốn  
củi, các thuyền bè và lái buôn cho toàn nhiệm vụ này”  
(V. X. Nguyễn, 2010).  
Từ sau thế kỉ XVII, hoạt động buôn bán của thương  
nhân phương Tây có bước khởi sắc hơn bằng việc các  
thương thuyền phương Tây đã đến Hội An buôn bán  
nhiều hơn. Điển hình như các thương nhân Bồ Đào Nha  
đã tiến hành bán vũ khí và mua các mặt hàng từ Hội An  
như tơ lụa, hồ tiêu, gỗ quý, trầm hương,…hay thương  
nhân Hà Lan tiến hành việc bán ra những sản phẩm bạc  
nén, chì, vải, thuỷ tinh và mua lại các mặt hàng như  
vàng, tơ lụa, đường,… Tuy nhiên, hoạt đông buôn bán  
của thương nhân phương Tây sau ba thế kỷ phồn thịnh  
đến khoảng cuối thế kỉ XVIII đã suy tàn do nhiều  
nguyên nhân.  
Chợ Củi thời này chẳng khác gì một thị tứ, tấp nập  
kẻ bán người mua, cảnh “trên bến dưới thuyền” dập dìu  
thuyền bè qua lại. Củi được khai thác từ trên thượng  
nguồn để cung cấp cho toàn bộ vùng dinh trấn, các lò  
gạch và gốm nung Thanh Hà, lò đúc đồng Phước Kiều  
và thuyền bè trong nước và tàu buôn ngoại quốc từ cảng  
Hội An, Trà Nhiêu lên. Đoạn sông từ cầu Câu Lâu ngày  
nay kéo dài mãi xuống khoảng 4 - 5 cây số có Gò Sài  
(gần chợ La Nghi) là một gò cao chất đầy củi, muối,  
nước mắm để dễ tiếp ứng cho ghe thuyền. Sông Chợ  
Củi còn là nơi neo đậu tàu thuyền, đóng quân của đại  
thủy quân chúa Nguyễn.  
4.2. Cung cấp nước ngọt, than củi, lương thực  
Bên cạnh việc trao đổi, mua bán hàng hóa; một  
trong những vai trò không kém phần quan trọng của Hội  
An trong giai đoạn này chính là cung cấp nước ngọt,  
than củi cũng như nhu yếu phẩm cho các thương thuyền  
ngoại quốc. Hội An (Hoài phố) ngày xưa có phạm vi  
khá rộng, không chỉ nằm trong phạm vi phố cổ như bây  
giờ mà có thể không gian của nó còn mở rộng rất nhiều  
về phía đông (Cù Lao Chàm) và phía Tây (Sài Thị -  
Thanh Chiêm).  
Như vậy, có thể thấy, giai đoạn thế kỉ XVI-thế kỉ  
XVIII, với tư cách là một điểm dừng quan trọng trên  
con đường tơ lụa trên biển, Hội An đã là nơi các thuyền  
buôn quốc tế cập bến để bổ sung nước ngọt, thực phẩm  
và nhiên liệu than củi bên cạnh trao đổi, mua bán các  
mặt hàng khác.  
Nhắc tới chức năng cung cấp than củi, chất đốt,  
nước ngọt của cảng thị Hội An thời kỳ này, chúng ta  
không thể không nhắc đến những địa danh đã đi vào ca  
dao xứ Quảng:  
19  
Tăng Chánh Tín, Phan Nguyễn Huy Chinh  
4.3. Cầu nối giao lưu văn hoá  
Hà, V. T. (2002). Khảo cổ học Việt Nam, tập 3. Khoa  
học Xã hội.  
Hoàng, A. T. (2007). Cù Lao Chàm và hoạt động  
thương mại ở biển Đông thời vương quốc  
Champa. Kỷ yếu Cù Lao Chàm - Vị thế, tiềm  
năng và triển vọng.  
Trong suốt ba thế kỉ (XVI - XVIII), Hội An đã thực  
sự trở thành cầu nối cũng như nơi hội tụ sự giao lưu văn  
hóa Đông - Tây. Sự có mặt của các thương nhân Trung  
Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đã để lại  
những dấu ấn đậm nét của sự giao lưu văn hóa. Sự giao  
lưu ấy được thể hiện rõ nét trong kiến trúc Hội An. Đó  
là những ngôi nhà cổ mang phong cách Việt - Hoa;  
những hội quán mà đặc biệt là chùa Cầu (Lai Viễn  
Kiều) mang đậm phong cách Nhật - Việt - Hoa.  
Lê, Q. Đ. (1977). Phủ biên tạp lục, tập 1. Khoa học  
Xã hội.  
Nguyễn, M. M., & Hoàng, V. V. (2008). Con đường  
Tơ lụa: Quá khứ và tương lai. Giáo dục.  
Nguyễn, V. K., & Trần, V. M. (2019). Cù Lao Chàm  
trong không gian biển Champa thế kỷ XI - XV:  
Tiềm năng, vị thế và hoạt động giao thương quốc  
tế. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Cù Lao Chàm đa  
dạng tài nguyên thiên nhiên - văn hoá và phát  
triển bền vững, Quảng Nam.  
Vai trò giao lưu văn hóa của Hội An còn được thể  
hiện qua sự đa dạng của đời sống tôn giáo tín ngưỡng  
với sự có mặt của các tôn giáo như Phật giáo, Lão Giáo,  
Nho giáo, Công giáo… và các tín ngưỡng thờ cúng tổ  
tiên, thờ tổ nghề, thờ Thiên hậu, thờ Quan Công, thờ Bà  
Mụ, thờ Bắc đế Trần vũ…  
Nguyễn, V. X. (2010). Từ Sài Thị đến Sài Gòn.  
Nhiều tác giả. (2004). Duyên hải miền Trung - Đất và  
người. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.  
Trần, Đ. A. S. (2000). Các thương cảng vùng Trung  
Trung bộ Việt Nam và con đường gốm sứ ở vùng  
Tây Nam Thái Bình Dương trong thời đại thương  
mại (thế kỷ XVI - XVIII). Tạp chí Thông tin  
Khoa học và Công nghệ, 4(30), 51-64.  
Hội An còn là trung tâm giao lưu ngôn ngữ quốc tế  
với nguồn tư liệu phong phú được tìm thấy từ các ngôn  
ngữ Hán-Nôm đến Nhật Bản, Pháp và cả chữ Phạn cổ.  
Đồng thời, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của  
Hội An với tư cách là một trong những chiếc nôi hình  
thành chữ Quốc ngữ vào nửa đầu thế kỉ XVII. Sự giao  
lưu văn hóa cũng làm nên tính cách, phong cách của  
người Hội An; những con người hiền hòa, hiếu khách và  
cởi mở.  
Trần, K. P., & Vũ, H. M. (1991). Cửa Đại Chiêm thời  
vương quốc Champa thế kỷ IV - XV. In Đô thị  
cổ Hội An. Khoa học xã hội.  
5. Kết luận  
Từ đầu thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII, hoạt động  
thương mại trên con đường tơ lụa tên biển đã ghi dấu ấn  
của Hội An với tư cách là một điểm dừng chân, trạm  
trung chuyển; trung tâm mua bán hàng hải cũng như  
cung cấp nhu yếu phẩm, nhiên liệu cho các thương nhân  
Đông - Tây. Nghiên cứu về Hội An, đặt trong bối cảnh  
và hoạt động của con đường tơ lụa thực sự là một vấn  
đề nghiên cứu hấp dẫn và còn nhiều dư địa cho các nhà  
nghiên cứu trong và ngoài nước.  
Trung Hiếu. (2019, December 26). Danh xưng “Con  
đường Tơ lụa” vốn dĩ không phải của Trung  
Quốc?. Cơ quan ngôn luận của Hiệp hội Doanh  
nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam.  
vn.vn/kham-pha/danh-xung-con-duong-to-lua-  
von-di-khong-phai-cua-trung-  
quoc/20191226033237736  
Trương, V. B., & Kleinen, J. (1991). Tư liệu VOC về  
mối quan hệ giữa công ty Đông Ấn Hà Lan với  
các chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII - XVIII. Đô  
thị cổ Hội An. Khoa học xã hội.  
Vũ, M. G. (1991). Người Nhật, phố Nhật và di tích  
Nhật Bản ở Hội An. Đô thị cổ Hội An. Khoa học  
xã hội.  
Tài liệu tham khảo  
Borri, C. (2014). Xứ Đàng Trong năm 1621. Tổng hợp  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Đỗ, T. G. (2016). Hội An - Champa trong kỷ nguyên  
thương mại sớm của Đông Nam Á (900 - 1300).  
Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Dinh trấn Thanh  
Chiêm và chữ Quốc ngữ, Quảng Nam.  
20  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 15-21  
THE ROLE OF HOI AN TO THE MARITIME SILK ROAD  
(FROM THE FIRST HALF OF 16TH CENTURY TO THE SECOND HALF OF 18TH CENTURY)  
Tang Chanh Tin, Phan Nguyen Huy Chinh  
The University of Danang - University of Science and Education  
Abstract: The Maritime Silk Road is considered the beginning of all international maritime trade routes, not only in terms of  
trade; the Maritime Silk Road is also the foundation for human discoveries and understanding about geography, nature, politics and  
society of many parts of the world. Thanks to its significantly geopolitical and geo-cultural position; from a very early age, Hoi An  
trading port (Vietnam) has participated and played an important role on this arterial route. This article will focus on clarifying the birth  
as well as the role of Hoi An to the Maritime Silk Road from) early 16th century to the end of 18th century.  
Key words: The Silk Road; Role; Trade; Maritime trade; Hoi An.  
21  
pdf 7 trang Thùy Anh 11140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của Hội An với con đường tơ lụa trên biển (từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_hoi_an_voi_con_duong_to_lua_tren_bien_tu_dau_the.pdf