Vai trò của chủ thể văn hóa trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Tây Nguyên - Góc nhìn từ giáo dục phổ thông
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC
Vai trò của chủ thể văn hóa
trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống
Tây Nguyên - Góc nhìn từ giáo dục phổ thông
Trung Thị Thu Thủy1, Phạm Thị Trung2
TÓM TẮT: Văn hóa truyền thống Tây Nguyên với các giá trị tiêu biểu vẫn còn
1 Học viện Chính trị Khu vực III Đà Nẵng
phát huy tác dụng trong đời sống xã hội hiện tại ở nông thôn miền núi. Nhiều
Số 232 Nguyễn Công Trứ, Sơn Trà,
chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa, những định
hướng trong giáo dục nhân cách… có thể tìm thấy trong văn hóa của các dân
tộc thiểu số Tây Nguyên. Việc kế thừa và phát huy những giá trị đó trong giáo
dục cho học sinh ở các tỉnh Tây Nguyên ý thức trách nhiệm của công dân, ý
thức sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, ý thức trân trọng bản sắc
văn hóa dân tộc có một tầm quan trọng đặc biệt. Trong nghiên cứu này, tác giả
góp thêm lời bàn về vai trò nhà trường phổ thông trong việc “Xây dựng con
người để phát triển văn hóa” ở phương diện vai trò của nhà trường phổ thông
trong góp phần xây dựng ý thức tự giác của chủ thể trong bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng các dân tộc tại chỗ ở Tây
Nguyên.
Đà Nẵng, Việt Nam
Email: trungthuyh[email protected]
2 Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum
Số 22 Nguyễn Thái Học, thành phố Kon Tum,
tỉnh Kon Tum, Việt Nam
Email: ytrungkon[email protected]
TỪ KHÓA: Giáo dục; chủ thể văn hóa; phát triển bền vững; Tây Nguyên.
Nhận bài 10/6/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 9/7/2020 Duyệt đăng 30/8/2020.
1. Đặt vấn đề
vào việc xây dựng con người Việt Nam có thế giới quan
Con người là mục tiêu hướng đến cũng đồng thời là khoa học, có nhân cách, lối sống đẹp với các đặc tính cơ
động lực, là một trụ cột quan trọng trong sự phát triển bản “yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết,
bền vững. Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp cần cù, sáng tạo”. (Theo http://baochinhphu.vn/Thoi-su/
hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết 33-NQ/ Ket-luan-cua-Bo-Chinh-tri-ve-tiep-tuc-thuc-hien-Nghi-
TW ngày 09 tháng 06 năm 2014) về Xây dựng và phát quyet-33-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-
triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu Viet-Nam/397692.vgp).
phát triển bền vững đất nước xác định quan điểm: “Phát
Vùng văn hóa Tây Nguyên, nơi sinh tụ của 12 tộc người
triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và tại chỗ (Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Ra Glai; Ba Na, Xơ
xây dựng con người để phát triển văn hóa”. Một trong Đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, Mạ, M‘Nông và Cơ
những nhiệm vụ trọng tâm là: “Chăm lo xây dựng con Ho), làm nên những sắc diện riêng của văn hóa tộc người.
người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi Chính họ, những chủ nhân của văn hóa cồng chiêng, âm
dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhạc truyền thống, lễ hội dân gian, điêu khắc, nghề thủ
lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về công…, đã làm nên tính đa dạng của văn hóa Việt Nam.
nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Trong xu thế chung của sự vận động và phát triển, những
Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn giá trị văn hóa lại được trao truyền cho những thế hệ
hóa dân tộc”.
tương lai, để truyền thống luôn được bảo tồn, bảo lưu,
Ngày 09 tháng 6 năm 2020, Bộ Chính trị đã có Kết sáng tạo theo sự lựa chọn của cộng đồng. Chỉ có cộng
luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/ đồng các dân tộc thiểu số mới nuôi dưỡng một cách chu
TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đáo và phát huy tốt những giá trị văn hóa Tây Nguyên
Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp trong quá trình tộc người. Một khi cộng đồng các dân tộc
ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, trong đó nhấn thiểu số Tây Nguyên nhận thức được ý nghĩa nền tảng
mạnh: “Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát và động lực của việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa
triển toàn diện. Khẩn trương hoàn thiện việc xây dựng hệ thì chính họ có thể giải quyết được những mâu thuẫn do
giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời thực tiễn văn hóa đặt ra. Bài toán chủ thể luôn là bài toán
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. bền vững, theo Dam Bo: “…Người Tây Nguyên có thể
Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục (GD), khoa học học và trở nên hoàn thiện với nền GD cần thiết, nhằm
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
48
Trung Thị Thu Thủy, Phạm Thị Trung
trước hết mở rộng tầm nhìn cho họ, có thể đưa họ đến
chỗ nhìn nhận cái mới và sáng tạo” (Dam Bo, (2003),
Miền đất huyền ảo, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, tr.239).
2.2. Bài toán chủ thể từ góc độ giáo dục trong nhà trường phổ
thông
Thứ nhất, mục tiêu của GD phổ thông là giúp HS phát
triển toàn diện về “Đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân” (Điều 27, Luật GD, 2009). Nguyên lí của nền
GD Việt Nam là “Nền GD xã hội chủ nghĩa có tính nhân
dân, dân tộc, khoa học, hiện đại. Hoạt động GD phải
được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, GD
kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực
tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã
hội” (Điều 3, Luật GD 2009).
Mục tiêu tổng quát trên được cụ thể một bước trong
mục tiêu hoạt động của các loại hình nhà trường, nhất là
các trường đặc thù dành HS dân tộc thiểu số. Một trong
số hoạt động được chú trọng của các trường phổ thông
dân tộc nọi trú (PTDTNT), trường phổ thông dân tộc bán
trú (PTDTBT) là: “GD tinh thần đoàn kết giữa các dân
tộc, kĩ năng sống, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường cho
HS..., tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao… “Nhằm
góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các
dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc hậu (Điều 17, Quy chế Tổ
chức hoạt động của các trường PTDTBT); “Tôn trọng
phong tục tập quán tiến bộ của các dân tộc”, “Nhằm bảo
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Về chủ thể trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống vùng Tây Nguyên
Những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc
thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên là một “nghịch lí” huyền
diệu so với cuộc sống kinh tế khá giản đơn nơi này. Từ
thập niên cuối thế kỉ XX, xã hội Tây Nguyên có những
biến động mạnh. Nếu đầu thế kỉ XX, các dân tộc tại chỗ
chiếm 95% dân số thì hiện nay người tại chỗ chỉ còn
15-20% trên toàn địa bàn Tây Nguyên (tỉnh Đắk Lắk
15%, tỉnh Đắc Nông còn 10%, tỉnh Kon Tum còn khoảng
54%…). Mô hình làng truyền thống đã có những thay
đổi lớn. Các cư dân tại chỗ đa phần được sắp xếp tái định
cư so với địa vực cư trú truyền thống. Đa dạng sinh thái
suy giảm nhanh chóng. Quyền sở hữu đất đai chuyển đổi.
Kinh tế tự cấp tự túc “chuyển mình, bắt nhịp” sang nền
kinh tế hàng hóa… và những cơ hội trong giao lưu tiếp
biến với các dòng văn hóa đa dạng khác được rộng mở....
Những va chạm với xã hội hiện đại không đơn thuần
là những làn sóng tiêu cực hoàn toàn mà nó đã góp phần
thay đổi một cách tích cực đời sống vật chất và tinh thần
của cư dân nơi đây. Tuy nhiên, xu thế biến chuyển của tồn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, xoá bỏ các
tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân
cách HS” (Điều 19, Quy chế về tổ chức và hoạt động các
trường PTDTNT).
Thứ hai, chương trình và sách giáo khoa thời gian qua
đã tạo ra các điều kiện nhất định cho việc vận dụng các
giá trị văn hóa địa phương trong GD HS.
văn hoá các dân tộc tại chỗ lại diễn ra chủ yếu trên cái
nền tâm thế tiếp biến tự phát và trong thế đối sánh không
ngang bằng về trình độ phát triển xã hội. Hệ quả là gây
nên sự “ngộ nhận” và “đứt gãy” của các giá trị văn hoá
truyền thống. Các giá trị cũ nhanh chóng mất đi trong khi
các giá trị mới thiếu định hướng để hình thành.
Chương trình dạy học hiện nay ở các môn chính khóa,
các hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL) đều có thiết
kế thời lượng nhất định cho các nội dung địa phương. Ví
dụ: Chương trình GD cấp THCS hiện hành (theo Quyết
định 16/2006/QĐ-BGD&ĐT) quy định chính thức 34
tiết học cho các vấn đề địa phương, tập trung ở các môn:
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GD công dân, Âm nhạc. Ngoài
ra, trong hướng dẫn thực hiện, Bộ GD&ĐT cũng lưu ý
đến việc triển khai chương trình phù hợp với điều kiện
địa phương, vận dụng các kiến thức địa phương, trong đó
có văn hóa địa phương vào trong các giờ dạy cụ thể. Trên
cơ sở mục tiêu chung và hướng dẫn của Sở GD&ĐT, các
nhà trường tiến hành lựa chọn nội dung và hình thức dạy
học văn hoá địa phương phù hợp. Sở GD&ĐT đã biên
soạn sách giáo khoa địa phương ở các môn học làm cơ sở
cho GV và HS trong tổ chức các hoạt động GD. Có thể
thấy một số điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt
động GD văn hóa địa phương trong nhà trường như sau:
- Dạy học văn hoá truyền thống qua các môn học:
Chương trình hiện nay đều dành một phần thời lượng
Trong quá trình triển khai các chính sách xã hội cho
vùng nông thôn miền núi, các nhà hoạch định và quản
lí thường băn khoăn trước một thách thức lớn là một bộ
phận người dân trở nên thụ động, trông chờ. Các báo
cáo giảm nghèo của các cấp đều nhận xét rằng: “Một bộ
phận người dân chưa thực sự chủ động vươn lên thoát
nghèo…” như một mô típ quen thuộc. Các chính sách
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu
số trong quá trình hội nhập phát triển cũng không tránh
khỏi “rào cản” trên. Có thể nói, những chính sách sẽ hạn
chế về hiệu quả và thiếu bền vững khi nội lực của chủ thể
chưa đủ khả năng thẩm thấu và phát huy các cơ chế hỗ
trợ. Quá trình phát triển và hội nhập, các cư dân thiểu số
tại chỗ đứng trước thách thức lớn của nội lực, khả năng
đề kháng, thanh lọc và thẩm thấu để làm phong phú hơn
các giá trị văn hóa của chính họ. Bài toán “chủ thể”
được xem là bài toán vừa cấp thiết vừa vừa lâu dài trong
phát triển bền vững của mỗi dân tộc trên nhiều phương
diện của đời sống.
Số 34 tháng 10/2020
49
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC
nhất định cho nội dung địa phương với mục tiêu về kiến
Thứ ba, quy mô, mạng lưới trường lớp, các chính sách
thức, kĩ năng và thái độ cụ thể. Ví dụ: Môn Lịch sử cấp hỗ trợ tạo thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động GD
THPT dành 7 tiết, môn GD công dân dành 6 tiết, môn
Địa lí dành 5 tiết cho các vấn đề lịch sử địa phương. Mặt
khác, trong các chủ điểm, bài học bắt buộc của mỗi môn
học đều có những “khoảng mở” để GV liên hệ những
kiến thức tự nhiên, xã hội... gần gũi với HS, giúp các em
hiểu về bản thân, gia đình, cộng đồng của mình. Vì vậy,
GV có thể tích hợp các nội dung về văn hoá địa phương
trong các môn học sao cho phù hợp, tránh gây quá tải
nặng nề cho HS. Đối với các phân môn, việc tích hợp
nội dung GD văn hóa có thể ở dạng ngữ liệu phục vụ cho
quá trình phân tích để hình thành đơn vị kiến thức mới
cho HS.
- Dạy học văn hoá truyền thống qua các HĐNGLL:
Cùng với dạy học ở trên lớp thì HĐNGLL là một bộ
phận rất quan trọng trong quá trình dạy học - GD ở nhà
trường. Loại hình trường nội trú và bán trú vùng dân tộc
thiểu số có lợi thế trong việc triển khai nội dung thực
hiện chương trình, kế hoạch GD. Đây là môi trường tốt
cho việc tổ chức các loại hình hoạt động GD nhằm góp
phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân
tộc, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu. Việc lựa chọn các nội
dung dạy học văn hoá địa phương trong trường nội trú
và bán trú có thể thông qua các hoạt động ngoài giờ như
sau:
Hoạt động văn hoá nghệ thuật: Đây là hoạt động
không thể thiếu và phù hợp với lứa tuổi HS phổ thông,
gồm nhiều thể loại như: hát múa dân gian, diễn tấu nhạc
cụ, sáng tạo đồ chơi, sưu tầm và kể chuyện cổ tích; diễn
kịch ngắn, sưu tầm và diễn đọc thành ngữ, tục ngữ, dân
ca, vẽ tranh, tham gia vào các tổ chức lễ hội…
Hoạt động thể dục thể thao: Hoạt động này nhằm rèn
luyện một số phẩm chất cho HS, gồm nhiều hình thức tổ
chức rất phong phú, như: tổ chức các trò chơi dân gian,
các hoạt động thể dục, thi đấu thể thao đơn giản… Điều
này vừa phát triển thể lực, tâm hồn vừa bồi dưỡng tri
thức cho các em.
Hoạt động xã hội: Hoạt động này nhằm GD các em
gắn bó và ý thức hơn đối với quê hương, đất nước, con
người. Có thể tổ chức những buổi đi thăm và chăm sóc
các di tích lịch sử, di tích văn hoá, các thắng cảnh; quyên
góp ủng hộ các bạn có hoàn cảnh đặc biệt; thăm viếng
các các nhân tiêu biểu như các già làng, nghệ nhân…
Khích lệ các em chung tay vào việc tổ chức các buổi hội
làng…
Các hoạt động tiếp cận khoa học - kĩ thuật: Tổ chức và
tham gia các câu lạc bộ có nội dung liên quan đến việc
tìm hiểu, sưu tầm và thuyết minh về giá trị văn hoá tinh
thần của các phong tục, tập quán, các vật dụng quan thiết
với đời sống, các thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hoá địa
phương hoặc các loại hình văn hoá khác mang tính chất
gần gũi với HS theo từng cấp học.
các các giá trị văn hóa truyền thống.
Năm học 2016 - 2017, Tây Nguyên có 59 trường phổ
thông dân tộc nội trú (DTNT), trong đó có 06 trường
cấp tỉnh và 53 trường cấp huyện. Tổng số HS phổ thông
DTNT Tây Nguyên năm học 2016 - 2017 là 14.454 HS,
trong đó cấp tỉnh là 3.249 HS và cấp huyện là 11.205 HS
(theo Báo cáo tình hình phát triển GD&ĐT vùng Tây
Nguyên năm 2017). Để tạo điều kiện thuận lợi cho con
em đồng bào DTTS ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa
đến trường, các tỉnh Tây Nguyên cũng chú trọng phát
triển về quy mô, mạng lưới trường PTDTBT. Năm học
2016 -2017, toàn vùng có 97 trường và 12.753 HS bán
trú. Chất lượng GD của hệ thống trường PTDTBT ngày
càng được nâng lên. Năm học 2016-2017, số HS hoàn
thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp THCS đạt 92%; số HS
đạt thành tích từ cấp huyện trở lên chiếm 3% ở cả 2 cấp
học; số trường đạt chuẩn quốc gia ở cấp tiểu học là 05
trường, cấp THCS 01 trường. Kết quả này khẳng định
chất lượng GD của các trường PTDTBT ở Tây Nguyên
đã đạt được nhiều tiến bộ rõ rệt, mặt bằng chất lượng có
thể đặt ngang bằng với các trường có điều kiện thuận
lợi của vùng (Theo tài liệu Hội nghị phát triển GD&ĐT
vùng Tây Nguyên tổ chức ngày 17 tháng 10 năm 2017
tại Đà Lạt, tr.4).
2.3. Một vài tín hiệu từ sự tác động và lan tỏa của hoạt động
giáo dục văn hóa truyền thống trong nhà trường
Thời gian qua, triển khai tinh thần Nghị quyết Trung
ương 5, khóa VIII và mục tiêu, chương trình GD, ở Tây
Nguyên cũng đã có những mô hình trong việc bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa. Qua đó, HS được hiểu
nhiều hơn về những giá trị văn hóa tiêu biểu, đồng thời
nhận thức được những hủ tục cần xóa bỏ của chính cộng
đồng mình. HS cũng học được cách ứng xử tôn trọng tích
cực đối với các sự khác biệt về văn hóa trong cộng đồng
đa dân tộc. Điều đặc biệt là từ những hoạt động GD văn
hóa địa phương trong nhà trường đã tạo ra sự lan tỏa của
chính giá trị văn hóa ấy trong đời sống cộng đồng.
Một trong những hoạt động tiêu biểu cho xu hướng
lan tỏa trên là hoạt động bảo lưu nghệ thuật cồng chiêng
trong nhà trường như Trường Tiểu học Đặng Trần Côn
(xã Ngọc Bay, thành phố Kon Tum), Trường Phổ thông
DTNT Đắk Glei, tỉnh Kon Tum; Trường THCS DTNT
huyện Ia Pa (tỉnh Gia Lai), Trường Phổ thông DTNT
tỉnh Gia Lai… Bằng cách mời các nghệ nhân và người
am hiểu đến trao dạy các em diễn tấu cồng chiêng để
tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ của nhà
trường cũng như các hội diễn cồng chiêng các cấp đã tiếp
thêm không khí mới cho sự hồi sinh của nghệ thuật này.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
50
Trung Thị Thu Thủy, Phạm Thị Trung
Không gian văn hóa cồng chiêng có thêm điều kiện môi
trường xã hội mới để cộng sinh. Hiện tượng trên là một
minh chứng cho quá trình bảo tồn văn hóa địa phương từ
chính HS - chủ thể văn hóa và là chủ nhân của tương lai.
Tương tự như vậy, nhằm góp phần bảo tồn trang phục
các dân tộc thiểu số, Sở GD&ĐT các tỉnh Tây Nguyên
và một số trường nội trú phát động GV và HS mặc sắc
phục dân tộc trong các ngày lễ và một số ngày trong
tuần như Trường Tiểu học - THCS Đinh Núp (xã Ea Tar,
huyện Cư M’gar, tỉnh Đak Lak), Trường THPT DTNT
Nơ Trang Lơng tỉnh Đak Lak, Trường Phổ thông DTNT
Tây Nguyên…. Hoạt động này cũng đã lan tỏa sinh động
trong cộng đồng. Những khung cửi đã cất đi bấy lâu, nay
được các mẹ, các chị đem ra để dệt vải, may áo cho con
đi học và cả gia đình. Nghề dệt thổ cẩm vốn khó có cơ
hội khôi phục nay được phát huy bằng chính nhu cầu của
chủ thể với cả một niềm tự hào sâu sắc.
Mặt khác, trong điều kiện trang thiết bị dạy học ở các
trường vùng có đông HS dân tộc thiểu số còn nhiều khó
khăn, một số đơn vị trường học đã chủ động xây dựng
“góc địa phương” phục vụ cho hoạt động GD này. Góc
địa phương trong trường học tập trung trưng bày các di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc ở dưới
dạng hiện vật thật hay các mô hình. Việc tổ chức góc địa
phương thu hút sự quan tâm ủng hộ của các nghệ nhân,
cha mẹ HS và cộng đồng.
Ngôn ngữ là công cụ quan trọng để lưu giữ bản sắc
văn hoá tộc người. Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ GD&ĐT,
hiện toàn quốc có 7 ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số
được đưa vào nhà trường giảng dạy từ cấp Tiểu học đến
cấp Trung học. Các tỉnh Tây Nguyên cũng phối hợp chặt
chẽ với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, biên soạn
nhiều tài liệu, sách giáo khoa… bằng tiếng DTTS (tiếng
nói, chữ viết của người DTTS có đông dân số nhất ở từng
địa phương) đưa vào giảng dạy ở các trường tiểu học tại
các vùng đồng bào DTTS, các trường phổ thông DTNT.
Tính đến năm học 2016 -2017, toàn vùng Tây Nguyên có
107 trường, 626 lớp, với 14.964 HS học tiếng Ê Đê, 84
trường, 392 lớp với 8.726 HS học tiếng Jrai; 26 trường,
68 lớp với 1.991 HS học tiếng Bana (theo Tài liệu Hội
nghị phát triển GD&ĐT vùng Tây Nguyên tổ chức ngày
17 tháng 10 năm 2017 tại Đà Lạt, tr.4). Các em được học
cách viết ngôn ngữ của mình trở nên tự tin hơn là điều
kiện để học tốt các môn học khác. Phụ huynh cũng hài
lòng hơn vì ngôn ngữ mẹ đẻ được bảo lưu và trân trọng.
2.4. Một số hạn chế cần quan tâm
Một là, mặc dù quan điểm chỉ đạo, chủ trương đã khá
rõ ràng và toàn điện, tuy nhiên, nhận thức về vai trò, vị
trí văn hóa nói chung hay việc tổ chức các hoạt động GD
văn hoá địa phương nói riêng nhằm góp phần hình thành
cho HS sự hiểu, lòng yếu mến, tự hào giá trị văn hóa của
dân tộc, nền văn hóa đất nước và thái độ - kĩ năng ứng xử
thích hợp trong môi trường đa văn hóa chưa thực sự chú
trọng đúng mực, đôi nơi còn xem nhẹ.
Hai là, mục tiêu chú trọng đến việc bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống mặc dù đã được nêu
trong các văn bản có tính quan điểm định hướng nhưng
lại chưa được cụ thể và xuyên suốt trong chương trình và
sách giáo khoa hiện hành. Điều này thể hiện chủ yếu ở
các phương diện sau:
- Thời lượng dành cho các nội dung có tính tích hợp
đến việc tổ chức các hoạt động GD liên quan đến việc
tổ chức các hoạt động tìm hiểu, khám phá các giá trị
văn hóa địa phương trong nhà trường còn chưa được chú
trọng.
- Chương trình và sách giáo khoa hiện hành chưa
hướng đến việc giải quyết hài hòa giữa tính phổ biến
và tính đặc thù của các địa phương. Biểu hiện tập trung
nhất của hạn chế trên là ở chỗ thiết kế chương trình chưa
chú trọng dành thời lượng tương xứng cho các vấn đề
của địa phương, trong đó có vấn đề văn hóa. Đơn cử,
số tiết dành cho các vấn đề của địa phương ở cấp THCS
chỉ chiếm 0,91% so với tổng thời lượng các môn học
chính khóa trên lớp (34/3710 tiết). Ở cấp THPT, tổng số
tiết chính thức cho các nội dung địa phương là 12 tiết,
tập trung cho 3 môn: Địa lí, Lịch sử và GD Công dân.
Thời lượng chính thức như nêu trên rất khó để có thể
giải quyết các vấn đề liên quan đến địa phương, trong đó
có văn hóa. Việc tổ chức các hoạt động GD văn hóa địa
phương trong nhà trường trông đợi vào các hoạt động
GD ngoài giờ lên lớp.
- Mặc dù, trong thực tế việc tổ chức các hoạt động
GD văn hóa, đáp ứng các mục tiêu và quan điểm như đã
nêu không chỉ thực hiện ở các tiết học dành cho GD địa
phương, mà trong suốt quá trình dạy học, các vấn đề văn
hóa địa phương có thể tích hợp trong nhiều bài học liên
quan. Tuy nhiên, dạy học tích hợp chưa trở thành nguyên
tắc, quan điểm chung nhất quán từ đầu trong việc xây
dựng chương trình sách giáo khoa và phương thức giảng
dạy ở các cấp học phổ thông. Các môn Tự nhiên - Xã hội,
Khoa học, Sử - Địa ở cấp Tiểu học mới chỉ được xây dựng
Các ấn phẩm bằng ngôn ngữ dân tộc được gia tăng thêm theo hướng tích hợp liên môn và xuyên môn. Việc dạy học
số lượng độc giả. Quan trọng hơn là từ quá trình dạy tích hợp ở cấp THCS mới dừng chủ yếu ở mức độ tích hợp
học trên trong nhà trường đã góp phần xây dựng yếu tố trong môn học kết hợp với tích hợp đa môn. Ở cấp THPT,
ý thức tự giác của cộng đồng trong giữ gìn ngôn ngữ tộc dạy học tích hợp chưa trở thành định hướng chung trong
trong môi trường gia đình và cộng đồng, biểu đạt các giá việc xây dựng chương trình sách giáo khoa.
trị văn học nghệ thuật của tộc người; góp phần chuyển tải
một số nội dung kinh tế - xã hội.
Thứ ba, trong khi năng lực của một bộ phận GV vốn
là một trong các hạn chế ảnh hưởng đến việc linh hoạt
Số 34 tháng 10/2020
51
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC
trong tổ chức thực hiện chương trình và sách giáo khoa hóa các dân tộc thiểu số, bên cạnh nhận thức và thái độ
thì đa phần các GV công tác ở vùng có đông HS DTTS trên, cán bộ quản lí và GV cần tiếp tục được bồi dưỡng
chưa được tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về văn hóa nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở phương diện
này một cách hệ thống.
các dân tộc thiểu số cũng như các kĩ năng trong việc tích
hợp vận dụng các giá trị văn hóa vào trong tổ chức các
hoạt động GD nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ trên. Bên cạnh đó, đội ngũ quản lí, GV người dân tộc
thiểu số hiện vẫn chiếm tỉ lệ khiêm tốn.
- Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện hơn
nữa các vấn đề về di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
tại chỗ của Tây Nguyên. Công tác nghiên cứu khoa học
về văn hóa các tộc người đã được chú trọng triển khai,
góp phần quan trọng trong việc hiểu biết một cách tổng
quát, cụ thể và sâu sắc hơn đời sống của các tộc người.
Qua đó, các nhà khoa học đã cung cấp những luận cứ
khoa học và những khuyến nghị trực tiếp trong việc xây
dựng và thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách
phát triển văn hóa. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách
chuyên sâu và toàn diện về các nhóm địa phương vốn rất
đa dạng của các tộc người thiểu số còn có những khoảng
trống nhất định như: các vấn đề về ngôn ngữ, về các
giá trị văn hóa của các nhóm địa phương... Hơn nữa, sự
biến chuyển của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa truyền
thống của các tộc người trong sự giao thoa, tiếp biến và
thích ứng với đời sống hiện đại vẫn rất cần những nghiên
cứu chuyên sâu, toàn diện và kịp thời hơn, nhằm tiếp tục
tăng cường sự hiểu biết về các tộc người và những vấn đề
dân tộc đương đại cũng như đề xuất các kiến nghị khoa
học cho sự bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của
mỗi tộc người phù hợp với thực tiễn của địa phương và
nhu cầu của người dân. Những nghiên cứu toàn diện trên
là cơ sở cho các tỉnh Tây Nguyên trong việc biên soạn
các tài liệu GD địa phương cũng như các tài liệu tham
khảo chính thống cho GV và HS trong nhà trường.
- Thứ ba, các quan điểm, mục tiêu về phát triển văn hóa
nói chung, các mục tiêu về GD văn hóa, xây dựng con
người cần đươc cụ thể hóa thiết thực trong chương trình
và sách giáo khoa. Trong đó, mục tiêu của chương trình
cần chú trọng đến các phẩm chất và năng lực văn hóa của
HS phổ thông phù hợp với tâm sinh lí của các cấp học.
Trên cơ sở mục tiêu và chuẩn về phẩm chất, năng lực
chung thống nhất toàn quốc, thời lượng dành cho các vấn
đề của địa phương cần đảm bảo ít nhất 20% trong tổng
số thời gian phân phối cho chương trình nhằm tạo dư địa
cho sự chủ động và linh hoạt của địa phương trong việc
vận dụng bổ sung các nội dung mang tính đặc thù về lịch
sử, địa lý kinh tế xã hội và văn hóa của địa phương….
- Thứ tư, xây dựng kế hoạch hoạt động của nhà trường,
của tổ chuyên môn và của GV. Trong kế hoạch hoạt động
của nhà trường cần lưu ý, yêu cầu các hoạt động của nhà
trường trong các lĩnh vực phải có chú ý đến việc vận
dụng các giá trị tích cực của các di sản văn hóa vào các
hoạt động văn hóa, thể thao, tích hợp trong các tiết dạy
phù hợp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn
Theo thống kê của các Sở GD&ĐT, năm học 2015 -
2016, khu vực Tây Nguyên có 1.322 GV, trong đó có 206
GV là người dân tộc thiểu số. Như vậy, tỉ lệ GV là người
dân tộc thiểu số khá thấp so với tổng số GV (15.6%).
Thực trạng này ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức các
hoạt động GD đặc thù. Ví dụ, hiện nay, mặc dù Bộ GD&
ĐT đã ban hành chương trình và sách giáo khoa, chế độ
chính sách cho người dạy và người học nhưng quy mô
dạy tiếng dân tộc theo nhu cầu còn rất hạn chế. Nguyên
nhân chính là do không có đủ đội ngũ GV để triển khai
công tác này một cách hiệu quả. Trong khi đó, công tác
đào tạo bồi dưỡng GV ở lĩnh vực này còn nhiều vướng
mắc khi các trường cao đẳng sư phạm không có đội ngũ
giảng viên đảm bảo tiêu chí để thực hiện nhiệm vụ trên.
Thứ tư, nhận thức về vai trò, vị trí của việc tổ chức
các hoạt động GD văn hoá địa phương mặc dù đã được
các Sở GD&ĐT quan tâm nhưng chưa thực sự chú trọng
đúng mực trong thiết kế khung chương trình của từng
bậc học. Cùng với đó, những tri thức, tư liệu về văn hoá
địa phương chủ yếu nằm rải rác ở những tài liệu, những
bài báo của nhóm tác giả, chưa được biên soạn hệ thống
và có sự lựa chọn phù hợp với cấp học.
Thứ năm, các nhà quản lí và GV chưa dành thời gian,
tâm huyết để sưu tầm, tổng hợp, lựa chọn những kiến
thức tiêu biểu trọng tâm và lựa chọn phương pháp truyền
đạt phù hợp; Cán bộ quản lí và GV chưa được tập huấn
chuyên môn nghiệp vụ lĩnh vực này một cách đầy đủ hệ
thống. Vì vậy, việc dạy học chương trình văn hoá địa
phương hiện nay vào trong các hoạt động GD chủ yếu
phụ thuộc nhiều vào trình độ, tâm huyết của cá nhân GV.
2.5. Một số giải pháp phát huy thế mạnh của nhà trường phổ
thông nhằm góp phần xây dựng ý thức tự giác của chủ thể văn
hóa trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
- Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức
của cấp quản lí, GV và cộng đồng về vai trò và vị trí
của nhà trường trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống, tạo sự đồng thuận, thống nhất và tính
nguyên tắc trong triển khai thực hiện. Tránh hiện tượng
“cán bộ nào, phong trào đó” như thời gian vừa qua. Bản
thân mỗi cán bộ quản lí và GV công tác ở vùng có đông
HS dân tộc thiểu số cần được tiếp tục bồi dưỡng một
cách có hệ thống hơn nữa về văn hóa các dân tộc thiểu hoá của các dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc hậu. Các tổ
số tại chỗ. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả vai trò, vị trí chuyên môn cần xây dựng các kế hoạch, các địa chỉ dạy
của nhà trường trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn học có tích hợp nội dung trên. Các GV trong xây dựng kế
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
52
Trung Thị Thu Thủy, Phạm Thị Trung
hoạch bài giảng, kế hoạch cho các hoạt động ngoài giờ
lên lớp cần chú ý đến việc tích hợp các nội dung văn hóa
địa phương một cách phù hợp.
3. Kết luận
Trong tổng thể các vấn đề cấp thiết của Tây Nguyên
hiện nay như đói nghèo, hiện trạng còn “dang dở” của hệ
- Thứ năm, sớm rà soát, điều chỉnh những bất cập trong thống cơ sở hạ tầng, vấn đề “đa dạng” các thành phần dân
các chính sách cụ thể về GD vùng miền núi, vùng dân tộc cùng với sự suy giảm của sự đa dạng môi trường sinh
tộc thiểu số như: chính sách miễn giảm học phí, chính thái... thì vấn đề văn hóa vốn có vai trò quan trọng trong
sách hỗ trợ chi phí học tập, chính sách cử tuyển, chính sự phát triển bền vững của mỗi tộc đang có sự “đứt gãy”.
sách đào tạo và giải quyết việc làm cho đối tượng sinh Sự phát triển bền vững của văn hóa góp phần vào phát
viên người dân tộc thiểu số… Trong thời gian tới, cần tập triển bền vững nói chung phải được thực hiện bởi chính
trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất nhằm kiên cố hóa chủ nhân của nền văn hóa đó. Nhà trường phổ thông với
trường lớp học, nhà bán trú, các công trình chức năng và mục tiêu GD và “dư địa” của mình có vai trò quan trọng
nhà công vụ cho GV để cải thiện điều kiện cơ sở vật chất và “lợi thế” nhất định trong việc góp phần xây dựng ý
trường lớp và nhà công vụ cho GV nhất là vùng nông thức tự giác của chủ thể văn hóa cùng với niềm tự hào
thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc có điều kiện kinh tự cường quốc gia dân tộc thống nhất. Sự phát triển của
tế xã hội còn nhiều khó khăn.
cá nhân hay xã hội rất cần sự cân bằng nhất định giữa
truyền thống và hiện đại.
Tài liệu tham khảo
[1] Dam Bo, (2003), Miền đất huyền ảo, NXB Hội Nhà văn,
Hà Nội, tr.239.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, (2017), Tài
liệu Hội nghị Phát triển giáo dục và đào tạo vùng Tây
Nguyên, Đà Lạt.
[3] Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009.
[4] Jacques Dournes, (2003), Miền đất huyền ảo, hành trình
qua miền mơ tưởng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.
[5] Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao, (1992), Ủy ban quốc
gia về Thập kỉ quốc tế phát triển văn hóa: Thập kỉ thế giới
phát triển văn hóa, Hà Nội.
THE ROLE OF CULTURAL SUBJECT IN PRESERVING AND PROMOTING
THE TRADITIONAL CULTURE IN THE CENTRAL HIGHLANDS
OF VIETNAM - A PERSPECTIVE FROM GENERAL EDUCATION
Trung Thi Thu Thuy1, Pham Thi Trung2
ABSTRACT: The traditional culture of Central Highlands of Vietnam with its
1 Academy of Politics Region III
typical values is still effective in current social life in the mountainous and
232 Nguyen Cong Tru street, Da Nang, Vietnam
rural areas. Many guidelines of the Party and State on building cultural life
and orientations in personality education have been found in the culture of
ethnic minorities in the Central Highlands. The inheritance and promotion of
these values has a special importance in educating students in the Central
Highlands provinces to increase their strong emphasis on the responsibilities
of citizens, a sense of compliance with the constitution and laws; and a
sense of appreciation for national cultural identity. In this study, the authors
have contributed more comments on the role of schools in “building people
to develop culture” from the aspects of the role of schools in contributing to
building a self-awareness of the subjects in preserving and promoting the
traditional cultural values of indigenous ethnic communities in the Central
Highlands of Vietnam.
Email: trungthuyh[email protected]
2 Kon Tum Department of Education and Training
22 Nguyen Thai Hoc street, Kon Tum city,
Kon Tum province, Vietnam
Email: ytrungkon[email protected]
KEYWORDS: Education; cultural subject; sustainable Development; Central Highlands.
Số 34 tháng 10/2020
53
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của chủ thể văn hóa trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Tây Nguyên - Góc nhìn từ giáo dục phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
vai_tro_cua_chu_the_van_hoa_trong_bao_ton_va_phat_huy_van_ho.pdf

