Vai trò của chủ thể văn hóa trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Tây Nguyên - Góc nhìn từ giáo dục phổ thông

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
Vai trò của chủ thể văn hóa  
trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống  
Tây Nguyên - Góc nhìn từ giáo dục phổ thông  
Trung Thị Thu Thủy1, Phạm Thị Trung2  
TÓM TẮT: Văn hóa truyền thống Tây Nguyên với các giá trị tiêu biểu vẫn còn  
1 Học viện Chính trị Khu vực III Đà Nẵng  
phát huy tác dụng trong đời sống xã hội hiện tại ở nông thôn miền núi. Nhiều  
Số 232 Nguyễn Công Trứ, Sơn Trà,  
chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa, những định  
hướng trong giáo dục nhân cách… có thể tìm thấy trong văn hóa của các dân  
tộc thiểu số Tây Nguyên. Việc kế thừa và phát huy những giá trị đó trong giáo  
dục cho học sinh ở các tỉnh Tây Nguyên ý thức trách nhiệm của công dân, ý  
thức sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, ý thức trân trọng bản sắc  
văn hóa dân tộc có một tầm quan trọng đặc biệt. Trong nghiên cứu này, tác giả  
góp thêm lời bàn về vai trò nhà trường phổ thông trong việc “Xây dựng con  
người để phát triển văn hóa” ở phương diện vai trò của nhà trường phổ thông  
trong góp phần xây dựng ý thức tự giác của chủ thể trong bảo tồn và phát huy  
các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng các dân tộc tại chỗ ở Tây  
Nguyên.  
Đà Nẵng, Việt Nam  
Email: trungthuyh[email protected]  
2 Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum  
Số 22 Nguyễn Thái Học, thành phố Kon Tum,  
tỉnh Kon Tum, Việt Nam  
Email: ytrungkon[email protected]  
TỪ KHÓA: Giáo dục; chủ thể văn hóa; phát triển bền vững; Tây Nguyên.  
Nhận bài 10/6/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 9/7/2020 Duyệt đăng 30/8/2020.  
1. Đặt vấn đề  
vào việc xây dựng con người Việt Nam có thế giới quan  
Con người là mục tiêu hướng đến cũng đồng thời là khoa học, có nhân cách, lối sống đẹp với các đặc tính cơ  
động lực, là một trụ cột quan trọng trong sự phát triển bản “yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết,  
bền vững. Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp cần cù, sáng tạo”. (Theo http://baochinhphu.vn/Thoi-su/  
hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết 33-NQ/ Ket-luan-cua-Bo-Chinh-tri-ve-tiep-tuc-thuc-hien-Nghi-  
TW ngày 09 tháng 06 năm 2014) về Xây dựng và phát quyet-33-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-  
triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu Viet-Nam/397692.vgp).  
phát triển bền vững đất nước xác định quan điểm: “Phát  
Vùng văn hóa Tây Nguyên, nơi sinh tụ của 12 tộc người  
triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và tại chỗ (Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Ra Glai; Ba Na, Xơ  
xây dựng con người để phát triển văn hóa”. Một trong Đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, Mạ, M‘Nông và Cơ  
những nhiệm vụ trọng tâm là: “Chăm lo xây dựng con Ho), làm nên những sắc diện riêng của văn hóa tộc người.  
người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi Chính họ, những chủ nhân của văn hóa cồng chiêng, âm  
dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhạc truyền thống, lễ hội dân gian, điêu khắc, nghề thủ  
lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về công…, đã làm nên tính đa dạng của văn hóa Việt Nam.  
nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Trong xu thế chung của sự vận động và phát triển, những  
Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn giá trị văn hóa lại được trao truyền cho những thế hệ  
hóa dân tộc”.  
tương lai, để truyền thống luôn được bảo tồn, bảo lưu,  
Ngày 09 tháng 6 năm 2020, Bộ Chính trị đã có Kết sáng tạo theo sự lựa chọn của cộng đồng. Chỉ có cộng  
luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/ đồng các dân tộc thiểu số mới nuôi dưỡng một cách chu  
TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đáo và phát huy tốt những giá trị văn hóa Tây Nguyên  
Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp trong quá trình tộc người. Một khi cộng đồng các dân tộc  
ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, trong đó nhấn thiểu số Tây Nguyên nhận thức được ý nghĩa nền tảng  
mạnh: “Tập trung xây dựng con người Việt Nam phát và động lực của việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa  
triển toàn diện. Khẩn trương hoàn thiện việc xây dựng hệ thì chính họ có thể giải quyết được những mâu thuẫn do  
giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời thực tiễn văn hóa đặt ra. Bài toán chủ thể luôn là bài toán  
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. bền vững, theo Dam Bo: “…Người Tây Nguyên có thể  
Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục (GD), khoa học học và trở nên hoàn thiện với nền GD cần thiết, nhằm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
48  
Trung Thị Thu Thủy, Phạm Thị Trung  
trước hết mở rộng tầm nhìn cho họ, có thể đưa họ đến  
chỗ nhìn nhận cái mới và sáng tạo” (Dam Bo, (2003),  
Miền đất huyền ảo, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, tr.239).  
2.2. Bài toán chủ thể từ góc độ giáo dục trong nhà trường phổ  
thông  
Thứ nhất, mục tiêu của GD phổ thông là giúp HS phát  
triển toàn diện về “Đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và  
các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng  
động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt  
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm  
công dân” (Điều 27, Luật GD, 2009). Nguyên lí của nền  
GD Việt Nam là “Nền GD xã hội chủ nghĩa có tính nhân  
dân, dân tộc, khoa học, hiện đại. Hoạt động GD phải  
được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, GD  
kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực  
tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã  
hội” (Điều 3, Luật GD 2009).  
Mục tiêu tổng quát trên được cụ thể một bước trong  
mục tiêu hoạt động của các loại hình nhà trường, nhất là  
các trường đặc thù dành HS dân tộc thiểu số. Một trong  
số hoạt động được chú trọng của các trường phổ thông  
dân tộc nọi trú (PTDTNT), trường phổ thông dân tộc bán  
trú (PTDTBT) là: “GD tinh thần đoàn kết giữa các dân  
tộc, kĩ năng sống, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường cho  
HS..., tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao… “Nhằm  
góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các  
dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc hậu (Điều 17, Quy chế Tổ  
chức hoạt động của các trường PTDTBT); “Tôn trọng  
phong tục tập quán tiến bộ của các dân tộc”, “Nhằm bảo  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Về chủ thể trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa  
truyền thống vùng Tây Nguyên  
Những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc  
thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên là một “nghịch lí” huyền  
diệu so với cuộc sống kinh tế khá giản đơn nơi này. Từ  
thập niên cuối thế kỉ XX, xã hội Tây Nguyên có những  
biến động mạnh. Nếu đầu thế kỉ XX, các dân tộc tại chỗ  
chiếm 95% dân số thì hiện nay người tại chỗ chỉ còn  
15-20% trên toàn địa bàn Tây Nguyên (tỉnh Đắk Lắk  
15%, tỉnh Đắc Nông còn 10%, tỉnh Kon Tum còn khoảng  
54%…). Mô hình làng truyền thống đã có những thay  
đổi lớn. Các cư dân tại chỗ đa phần được sắp xếp tái định  
cư so với địa vực cư trú truyền thống. Đa dạng sinh thái  
suy giảm nhanh chóng. Quyền sở hữu đất đai chuyển đổi.  
Kinh tế tự cấp tự túc “chuyển mình, bắt nhịp” sang nền  
kinh tế hàng hóa… và những cơ hội trong giao lưu tiếp  
biến với các dòng văn hóa đa dạng khác được rộng mở....  
Những va chạm với xã hội hiện đại không đơn thuần  
là những làn sóng tiêu cực hoàn toàn mà nó đã góp phần  
thay đổi một cách tích cực đời sống vật chất và tinh thần  
của cư dân nơi đây. Tuy nhiên, xu thế biến chuyển của tồn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc, xoá bỏ các  
tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân  
cách HS” (Điều 19, Quy chế về tổ chức và hoạt động các  
trường PTDTNT).  
Thứ hai, chương trình và sách giáo khoa thời gian qua  
đã tạo ra các điều kiện nhất định cho việc vận dụng các  
giá trị văn hóa địa phương trong GD HS.  
văn hoá các dân tộc tại chỗ lại diễn ra chủ yếu trên cái  
nền tâm thế tiếp biến tự phát và trong thế đối sánh không  
ngang bằng về trình độ phát triển xã hội. Hệ quả là gây  
nên sự “ngộ nhận” và “đứt gãy” của các giá trị văn hoá  
truyền thống. Các giá trị cũ nhanh chóng mất đi trong khi  
các giá trị mới thiếu định hướng để hình thành.  
Chương trình dạy học hiện nay ở các môn chính khóa,  
các hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL) đều có thiết  
kế thời lượng nhất định cho các nội dung địa phương. Ví  
dụ: Chương trình GD cấp THCS hiện hành (theo Quyết  
định 16/2006/QĐ-BGD&ĐT) quy định chính thức 34  
tiết học cho các vấn đề địa phương, tập trung ở các môn:  
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GD công dân, Âm nhạc. Ngoài  
ra, trong hướng dẫn thực hiện, Bộ GD&ĐT cũng lưu ý  
đến việc triển khai chương trình phù hợp với điều kiện  
địa phương, vận dụng các kiến thức địa phương, trong đó  
có văn hóa địa phương vào trong các giờ dạy cụ thể. Trên  
cơ sở mục tiêu chung và hướng dẫn của Sở GD&ĐT, các  
nhà trường tiến hành lựa chọn nội dung và hình thức dạy  
học văn hoá địa phương phù hợp. Sở GD&ĐT đã biên  
soạn sách giáo khoa địa phương ở các môn học làm cơ sở  
cho GV và HS trong tổ chức các hoạt động GD. Có thể  
thấy một số điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt  
động GD văn hóa địa phương trong nhà trường như sau:  
- Dạy học văn hoá truyền thống qua các môn học:  
Chương trình hiện nay đều dành một phần thời lượng  
Trong quá trình triển khai các chính sách xã hội cho  
vùng nông thôn miền núi, các nhà hoạch định và quản  
lí thường băn khoăn trước một thách thức lớn là một bộ  
phận người dân trở nên thụ động, trông chờ. Các báo  
cáo giảm nghèo của các cấp đều nhận xét rằng: “Một bộ  
phận người dân chưa thực sự chủ động vươn lên thoát  
nghèo…” như một mô típ quen thuộc. Các chính sách  
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu  
số trong quá trình hội nhập phát triển cũng không tránh  
khỏi “rào cản” trên. Có thể nói, những chính sách sẽ hạn  
chế về hiệu quả và thiếu bền vững khi nội lực của chủ thể  
chưa đủ khả năng thẩm thấu và phát huy các cơ chế hỗ  
trợ. Quá trình phát triển và hội nhập, các cư dân thiểu số  
tại chỗ đứng trước thách thức lớn của nội lực, khả năng  
đề kháng, thanh lọc và thẩm thấu để làm phong phú hơn  
các giá trị văn hóa của chính họ. Bài toán “chủ thể”  
được xem là bài toán vừa cấp thiết vừa vừa lâu dài trong  
phát triển bền vững của mỗi dân tộc trên nhiều phương  
diện của đời sống.  
Số 34 tháng 10/2020  
49  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
nhất định cho nội dung địa phương với mục tiêu về kiến  
Thứ ba, quy mô, mạng lưới trường lớp, các chính sách  
thức, kĩ năng và thái độ cụ thể. Ví dụ: Môn Lịch sử cấp hỗ trợ tạo thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động GD  
THPT dành 7 tiết, môn GD công dân dành 6 tiết, môn  
Địa lí dành 5 tiết cho các vấn đề lịch sử địa phương. Mặt  
khác, trong các chủ điểm, bài học bắt buộc của mỗi môn  
học đều có những “khoảng mở” để GV liên hệ những  
kiến thức tự nhiên, xã hội... gần gũi với HS, giúp các em  
hiểu về bản thân, gia đình, cộng đồng của mình. Vì vậy,  
GV có thể tích hợp các nội dung về văn hoá địa phương  
trong các môn học sao cho phù hợp, tránh gây quá tải  
nặng nề cho HS. Đối với các phân môn, việc tích hợp  
nội dung GD văn hóa có thể ở dạng ngữ liệu phục vụ cho  
quá trình phân tích để hình thành đơn vị kiến thức mới  
cho HS.  
- Dạy học văn hoá truyền thống qua các HĐNGLL:  
Cùng với dạy học ở trên lớp thì HĐNGLL là một bộ  
phận rất quan trọng trong quá trình dạy học - GD ở nhà  
trường. Loại hình trường nội trú và bán trú vùng dân tộc  
thiểu số có lợi thế trong việc triển khai nội dung thực  
hiện chương trình, kế hoạch GD. Đây là môi trường tốt  
cho việc tổ chức các loại hình hoạt động GD nhằm góp  
phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân  
tộc, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu. Việc lựa chọn các nội  
dung dạy học văn hoá địa phương trong trường nội trú  
và bán trú có thể thông qua các hoạt động ngoài giờ như  
sau:  
Hoạt động văn hoá nghệ thuật: Đây là hoạt động  
không thể thiếu và phù hợp với lứa tuổi HS phổ thông,  
gồm nhiều thể loại như: hát múa dân gian, diễn tấu nhạc  
cụ, sáng tạo đồ chơi, sưu tầm và kể chuyện cổ tích; diễn  
kịch ngắn, sưu tầm và diễn đọc thành ngữ, tục ngữ, dân  
ca, vẽ tranh, tham gia vào các tổ chức lễ hội…  
Hoạt động thể dục thể thao: Hoạt động này nhằm rèn  
luyện một số phẩm chất cho HS, gồm nhiều hình thức tổ  
chức rất phong phú, như: tổ chức các trò chơi dân gian,  
các hoạt động thể dục, thi đấu thể thao đơn giản… Điều  
này vừa phát triển thể lực, tâm hồn vừa bồi dưỡng tri  
thức cho các em.  
Hoạt động xã hội: Hoạt động này nhằm GD các em  
gắn bó và ý thức hơn đối với quê hương, đất nước, con  
người. Có thể tổ chức những buổi đi thăm và chăm sóc  
các di tích lịch sử, di tích văn hoá, các thắng cảnh; quyên  
góp ủng hộ các bạn có hoàn cảnh đặc biệt; thăm viếng  
các các nhân tiêu biểu như các già làng, nghệ nhân…  
Khích lệ các em chung tay vào việc tổ chức các buổi hội  
làng…  
Các hoạt động tiếp cận khoa học - kĩ thuật: Tổ chức và  
tham gia các câu lạc bộ có nội dung liên quan đến việc  
tìm hiểu, sưu tầm và thuyết minh về giá trị văn hoá tinh  
thần của các phong tục, tập quán, các vật dụng quan thiết  
với đời sống, các thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hoá địa  
phương hoặc các loại hình văn hoá khác mang tính chất  
gần gũi với HS theo từng cấp học.  
các các giá trị văn hóa truyền thống.  
Năm học 2016 - 2017, Tây Nguyên có 59 trường phổ  
thông dân tộc nội trú (DTNT), trong đó có 06 trường  
cấp tỉnh và 53 trường cấp huyện. Tổng số HS phổ thông  
DTNT Tây Nguyên năm học 2016 - 2017 là 14.454 HS,  
trong đó cấp tỉnh là 3.249 HS và cấp huyện là 11.205 HS  
(theo Báo cáo tình hình phát triển GD&ĐT vùng Tây  
Nguyên năm 2017). Để tạo điều kiện thuận lợi cho con  
em đồng bào DTTS ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa  
đến trường, các tỉnh Tây Nguyên cũng chú trọng phát  
triển về quy mô, mạng lưới trường PTDTBT. Năm học  
2016 -2017, toàn vùng có 97 trường và 12.753 HS bán  
trú. Chất lượng GD của hệ thống trường PTDTBT ngày  
càng được nâng lên. Năm học 2016-2017, số HS hoàn  
thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp THCS đạt 92%; số HS  
đạt thành tích từ cấp huyện trở lên chiếm 3% ở cả 2 cấp  
học; số trường đạt chuẩn quốc gia ở cấp tiểu học là 05  
trường, cấp THCS 01 trường. Kết quả này khẳng định  
chất lượng GD của các trường PTDTBT ở Tây Nguyên  
đã đạt được nhiều tiến bộ rõ rệt, mặt bằng chất lượng có  
thể đặt ngang bằng với các trường có điều kiện thuận  
lợi của vùng (Theo tài liệu Hội nghị phát triển GD&ĐT  
vùng Tây Nguyên tổ chức ngày 17 tháng 10 năm 2017  
tại Đà Lạt, tr.4).  
2.3. Một vài tín hiệu từ sự tác động và lan tỏa của hoạt động  
giáo dục văn hóa truyền thống trong nhà trường  
Thời gian qua, triển khai tinh thần Nghị quyết Trung  
ương 5, khóa VIII và mục tiêu, chương trình GD, ở Tây  
Nguyên cũng đã có những mô hình trong việc bảo tồn  
và phát huy các giá trị văn hóa. Qua đó, HS được hiểu  
nhiều hơn về những giá trị văn hóa tiêu biểu, đồng thời  
nhận thức được những hủ tục cần xóa bỏ của chính cộng  
đồng mình. HS cũng học được cách ứng xử tôn trọng tích  
cực đối với các sự khác biệt về văn hóa trong cộng đồng  
đa dân tộc. Điều đặc biệt là từ những hoạt động GD văn  
hóa địa phương trong nhà trường đã tạo ra sự lan tỏa của  
chính giá trị văn hóa ấy trong đời sống cộng đồng.  
Một trong những hoạt động tiêu biểu cho xu hướng  
lan tỏa trên là hoạt động bảo lưu nghệ thuật cồng chiêng  
trong nhà trường như Trường Tiểu học Đặng Trần Côn  
(xã Ngọc Bay, thành phố Kon Tum), Trường Phổ thông  
DTNT Đắk Glei, tỉnh Kon Tum; Trường THCS DTNT  
huyện Ia Pa (tỉnh Gia Lai), Trường Phổ thông DTNT  
tỉnh Gia Lai… Bằng cách mời các nghệ nhân và người  
am hiểu đến trao dạy các em diễn tấu cồng chiêng để  
tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ của nhà  
trường cũng như các hội diễn cồng chiêng các cấp đã tiếp  
thêm không khí mới cho sự hồi sinh của nghệ thuật này.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
50  
Trung Thị Thu Thủy, Phạm Thị Trung  
Không gian văn hóa cồng chiêng có thêm điều kiện môi  
trường xã hội mới để cộng sinh. Hiện tượng trên là một  
minh chứng cho quá trình bảo tồn văn hóa địa phương từ  
chính HS - chủ thể văn hóa và là chủ nhân của tương lai.  
Tương tự như vậy, nhằm góp phần bảo tồn trang phục  
các dân tộc thiểu số, Sở GD&ĐT các tỉnh Tây Nguyên  
và một số trường nội trú phát động GV và HS mặc sắc  
phục dân tộc trong các ngày lễ và một số ngày trong  
tuần như Trường Tiểu học - THCS Đinh Núp (xã Ea Tar,  
huyện Cư M’gar, tỉnh Đak Lak), Trường THPT DTNT  
Nơ Trang Lơng tỉnh Đak Lak, Trường Phổ thông DTNT  
Tây Nguyên…. Hoạt động này cũng đã lan tỏa sinh động  
trong cộng đồng. Những khung cửi đã cất đi bấy lâu, nay  
được các mẹ, các chị đem ra để dệt vải, may áo cho con  
đi học và cả gia đình. Nghề dệt thổ cẩm vốn khó có cơ  
hội khôi phục nay được phát huy bằng chính nhu cầu của  
chủ thể với cả một niềm tự hào sâu sắc.  
Mặt khác, trong điều kiện trang thiết bị dạy học ở các  
trường vùng có đông HS dân tộc thiểu số còn nhiều khó  
khăn, một số đơn vị trường học đã chủ động xây dựng  
“góc địa phương” phục vụ cho hoạt động GD này. Góc  
địa phương trong trường học tập trung trưng bày các di  
sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc ở dưới  
dạng hiện vật thật hay các mô hình. Việc tổ chức góc địa  
phương thu hút sự quan tâm ủng hộ của các nghệ nhân,  
cha mẹ HS và cộng đồng.  
Ngôn ngữ là công cụ quan trọng để lưu giữ bản sắc  
văn hoá tộc người. Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ GD&ĐT,  
hiện toàn quốc có 7 ngôn ngữ của các cộng đồng thiểu số  
được đưa vào nhà trường giảng dạy từ cấp Tiểu học đến  
cấp Trung học. Các tỉnh Tây Nguyên cũng phối hợp chặt  
chẽ với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, biên soạn  
nhiều tài liệu, sách giáo khoa… bằng tiếng DTTS (tiếng  
nói, chữ viết của người DTTS có đông dân số nhất ở từng  
địa phương) đưa vào giảng dạy ở các trường tiểu học tại  
các vùng đồng bào DTTS, các trường phổ thông DTNT.  
Tính đến năm học 2016 -2017, toàn vùng Tây Nguyên có  
107 trường, 626 lớp, với 14.964 HS học tiếng Ê Đê, 84  
trường, 392 lớp với 8.726 HS học tiếng Jrai; 26 trường,  
68 lớp với 1.991 HS học tiếng Bana (theo Tài liệu Hội  
nghị phát triển GD&ĐT vùng Tây Nguyên tổ chức ngày  
17 tháng 10 năm 2017 tại Đà Lạt, tr.4). Các em được học  
cách viết ngôn ngữ của mình trở nên tự tin hơn là điều  
kiện để học tốt các môn học khác. Phụ huynh cũng hài  
lòng hơn vì ngôn ngữ mẹ đẻ được bảo lưu và trân trọng.  
2.4. Một số hạn chế cần quan tâm  
Một là, mặc dù quan điểm chỉ đạo, chủ trương đã khá  
rõ ràng và toàn điện, tuy nhiên, nhận thức về vai trò, vị  
trí văn hóa nói chung hay việc tổ chức các hoạt động GD  
văn hoá địa phương nói riêng nhằm góp phần hình thành  
cho HS sự hiểu, lòng yếu mến, tự hào giá trị văn hóa của  
dân tộc, nền văn hóa đất nước và thái độ - kĩ năng ứng xử  
thích hợp trong môi trường đa văn hóa chưa thực sự chú  
trọng đúng mực, đôi nơi còn xem nhẹ.  
Hai là, mục tiêu chú trọng đến việc bảo tồn và phát  
huy các giá trị văn hóa truyền thống mặc dù đã được nêu  
trong các văn bản có tính quan điểm định hướng nhưng  
lại chưa được cụ thể và xuyên suốt trong chương trình và  
sách giáo khoa hiện hành. Điều này thể hiện chủ yếu ở  
các phương diện sau:  
- Thời lượng dành cho các nội dung có tính tích hợp  
đến việc tổ chức các hoạt động GD liên quan đến việc  
tổ chức các hoạt động tìm hiểu, khám phá các giá trị  
văn hóa địa phương trong nhà trường còn chưa được chú  
trọng.  
- Chương trình và sách giáo khoa hiện hành chưa  
hướng đến việc giải quyết hài hòa giữa tính phổ biến  
và tính đặc thù của các địa phương. Biểu hiện tập trung  
nhất của hạn chế trên là ở chỗ thiết kế chương trình chưa  
chú trọng dành thời lượng tương xứng cho các vấn đề  
của địa phương, trong đó có vấn đề văn hóa. Đơn cử,  
số tiết dành cho các vấn đề của địa phương ở cấp THCS  
chỉ chiếm 0,91% so với tổng thời lượng các môn học  
chính khóa trên lớp (34/3710 tiết). Ở cấp THPT, tổng số  
tiết chính thức cho các nội dung địa phương là 12 tiết,  
tập trung cho 3 môn: Địa lí, Lịch sử và GD Công dân.  
Thời lượng chính thức như nêu trên rất khó để có thể  
giải quyết các vấn đề liên quan đến địa phương, trong đó  
có văn hóa. Việc tổ chức các hoạt động GD văn hóa địa  
phương trong nhà trường trông đợi vào các hoạt động  
GD ngoài giờ lên lớp.  
- Mặc dù, trong thực tế việc tổ chức các hoạt động  
GD văn hóa, đáp ứng các mục tiêu và quan điểm như đã  
nêu không chỉ thực hiện ở các tiết học dành cho GD địa  
phương, mà trong suốt quá trình dạy học, các vấn đề văn  
hóa địa phương có thể tích hợp trong nhiều bài học liên  
quan. Tuy nhiên, dạy học tích hợp chưa trở thành nguyên  
tắc, quan điểm chung nhất quán từ đầu trong việc xây  
dựng chương trình sách giáo khoa và phương thức giảng  
dạy ở các cấp học phổ thông. Các môn Tự nhiên - Xã hội,  
Khoa học, Sử - Địa ở cấp Tiểu học mới chỉ được xây dựng  
Các ấn phẩm bằng ngôn ngữ dân tộc được gia tăng thêm theo hướng tích hợp liên môn và xuyên môn. Việc dạy học  
số lượng độc giả. Quan trọng hơn là từ quá trình dạy tích hợp ở cấp THCS mới dừng chủ yếu ở mức độ tích hợp  
học trên trong nhà trường đã góp phần xây dựng yếu tố trong môn học kết hợp với tích hợp đa môn. Ở cấp THPT,  
ý thức tự giác của cộng đồng trong giữ gìn ngôn ngữ tộc dạy học tích hợp chưa trở thành định hướng chung trong  
trong môi trường gia đình và cộng đồng, biểu đạt các giá việc xây dựng chương trình sách giáo khoa.  
trị văn học nghệ thuật của tộc người; góp phần chuyển tải  
một số nội dung kinh tế - xã hội.  
Thứ ba, trong khi năng lực của một bộ phận GV vốn  
là một trong các hạn chế ảnh hưởng đến việc linh hoạt  
Số 34 tháng 10/2020  
51  
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN GIÁO DỤC  
trong tổ chức thực hiện chương trình và sách giáo khoa hóa các dân tộc thiểu số, bên cạnh nhận thức và thái độ  
thì đa phần các GV công tác ở vùng có đông HS DTTS trên, cán bộ quản lí và GV cần tiếp tục được bồi dưỡng  
chưa được tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về văn hóa nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở phương diện  
này một cách hệ thống.  
các dân tộc thiểu số cũng như các kĩ năng trong việc tích  
hợp vận dụng các giá trị văn hóa vào trong tổ chức các  
hoạt động GD nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm  
vụ trên. Bên cạnh đó, đội ngũ quản lí, GV người dân tộc  
thiểu số hiện vẫn chiếm tỉ lệ khiêm tốn.  
- Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện hơn  
nữa các vấn đề về di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số  
tại chỗ của Tây Nguyên. Công tác nghiên cứu khoa học  
về văn hóa các tộc người đã được chú trọng triển khai,  
góp phần quan trọng trong việc hiểu biết một cách tổng  
quát, cụ thể và sâu sắc hơn đời sống của các tộc người.  
Qua đó, các nhà khoa học đã cung cấp những luận cứ  
khoa học và những khuyến nghị trực tiếp trong việc xây  
dựng và thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách  
phát triển văn hóa. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách  
chuyên sâu và toàn diện về các nhóm địa phương vốn rất  
đa dạng của các tộc người thiểu số còn có những khoảng  
trống nhất định như: các vấn đề về ngôn ngữ, về các  
giá trị văn hóa của các nhóm địa phương... Hơn nữa, sự  
biến chuyển của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa truyền  
thống của các tộc người trong sự giao thoa, tiếp biến và  
thích ứng với đời sống hiện đại vẫn rất cần những nghiên  
cứu chuyên sâu, toàn diện và kịp thời hơn, nhằm tiếp tục  
tăng cường sự hiểu biết về các tộc người và những vấn đề  
dân tộc đương đại cũng như đề xuất các kiến nghị khoa  
học cho sự bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của  
mỗi tộc người phù hợp với thực tiễn của địa phương và  
nhu cầu của người dân. Những nghiên cứu toàn diện trên  
là cơ sở cho các tỉnh Tây Nguyên trong việc biên soạn  
các tài liệu GD địa phương cũng như các tài liệu tham  
khảo chính thống cho GV và HS trong nhà trường.  
- Thứ ba, các quan điểm, mục tiêu về phát triển văn hóa  
nói chung, các mục tiêu về GD văn hóa, xây dựng con  
người cần đươc cụ thể hóa thiết thực trong chương trình  
và sách giáo khoa. Trong đó, mục tiêu của chương trình  
cần chú trọng đến các phẩm chất và năng lực văn hóa của  
HS phổ thông phù hợp với tâm sinh lí của các cấp học.  
Trên cơ sở mục tiêu và chuẩn về phẩm chất, năng lực  
chung thống nhất toàn quốc, thời lượng dành cho các vấn  
đề của địa phương cần đảm bảo ít nhất 20% trong tổng  
số thời gian phân phối cho chương trình nhằm tạo dư địa  
cho sự chủ động và linh hoạt của địa phương trong việc  
vận dụng bổ sung các nội dung mang tính đặc thù về lịch  
sử, địa lý kinh tế xã hội và văn hóa của địa phương….  
- Thứ tư, xây dựng kế hoạch hoạt động của nhà trường,  
của tổ chuyên môn và của GV. Trong kế hoạch hoạt động  
của nhà trường cần lưu ý, yêu cầu các hoạt động của nhà  
trường trong các lĩnh vực phải có chú ý đến việc vận  
dụng các giá trị tích cực của các di sản văn hóa vào các  
hoạt động văn hóa, thể thao, tích hợp trong các tiết dạy  
phù hợp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn  
Theo thống kê của các Sở GD&ĐT, năm học 2015 -  
2016, khu vực Tây Nguyên có 1.322 GV, trong đó có 206  
GV là người dân tộc thiểu số. Như vậy, tỉ lệ GV là người  
dân tộc thiểu số khá thấp so với tổng số GV (15.6%).  
Thực trạng này ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức các  
hoạt động GD đặc thù. Ví dụ, hiện nay, mặc dù Bộ GD&  
ĐT đã ban hành chương trình và sách giáo khoa, chế độ  
chính sách cho người dạy và người học nhưng quy mô  
dạy tiếng dân tộc theo nhu cầu còn rất hạn chế. Nguyên  
nhân chính là do không có đủ đội ngũ GV để triển khai  
công tác này một cách hiệu quả. Trong khi đó, công tác  
đào tạo bồi dưỡng GV ở lĩnh vực này còn nhiều vướng  
mắc khi các trường cao đẳng sư phạm không có đội ngũ  
giảng viên đảm bảo tiêu chí để thực hiện nhiệm vụ trên.  
Thứ tư, nhận thức về vai trò, vị trí của việc tổ chức  
các hoạt động GD văn hoá địa phương mặc dù đã được  
các Sở GD&ĐT quan tâm nhưng chưa thực sự chú trọng  
đúng mực trong thiết kế khung chương trình của từng  
bậc học. Cùng với đó, những tri thức, tư liệu về văn hoá  
địa phương chủ yếu nằm rải rác ở những tài liệu, những  
bài báo của nhóm tác giả, chưa được biên soạn hệ thống  
và có sự lựa chọn phù hợp với cấp học.  
Thứ năm, các nhà quản lí và GV chưa dành thời gian,  
tâm huyết để sưu tầm, tổng hợp, lựa chọn những kiến  
thức tiêu biểu trọng tâm và lựa chọn phương pháp truyền  
đạt phù hợp; Cán bộ quản lí và GV chưa được tập huấn  
chuyên môn nghiệp vụ lĩnh vực này một cách đầy đủ hệ  
thống. Vì vậy, việc dạy học chương trình văn hoá địa  
phương hiện nay vào trong các hoạt động GD chủ yếu  
phụ thuộc nhiều vào trình độ, tâm huyết của cá nhân GV.  
2.5. Một số giải pháp phát huy thế mạnh của nhà trường phổ  
thông nhằm góp phần xây dựng ý thức tự giác của chủ thể văn  
hóa trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống  
- Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức  
của cấp quản lí, GV và cộng đồng về vai trò và vị trí  
của nhà trường trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn  
hóa truyền thống, tạo sự đồng thuận, thống nhất và tính  
nguyên tắc trong triển khai thực hiện. Tránh hiện tượng  
“cán bộ nào, phong trào đó” như thời gian vừa qua. Bản  
thân mỗi cán bộ quản lí và GV công tác ở vùng có đông  
HS dân tộc thiểu số cần được tiếp tục bồi dưỡng một  
cách có hệ thống hơn nữa về văn hóa các dân tộc thiểu hoá của các dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc hậu. Các tổ  
số tại chỗ. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả vai trò, vị trí chuyên môn cần xây dựng các kế hoạch, các địa chỉ dạy  
của nhà trường trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn học có tích hợp nội dung trên. Các GV trong xây dựng kế  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
52  
Trung Thị Thu Thủy, Phạm Thị Trung  
hoạch bài giảng, kế hoạch cho các hoạt động ngoài giờ  
lên lớp cần chú ý đến việc tích hợp các nội dung văn hóa  
địa phương một cách phù hợp.  
3. Kết luận  
Trong tổng thể các vấn đề cấp thiết của Tây Nguyên  
hiện nay như đói nghèo, hiện trạng còn “dang dở” của hệ  
- Thứ năm, sớm rà soát, điều chỉnh những bất cập trong thống cơ sở hạ tầng, vấn đề “đa dạng” các thành phần dân  
các chính sách cụ thể về GD vùng miền núi, vùng dân tộc cùng với sự suy giảm của sự đa dạng môi trường sinh  
tộc thiểu số như: chính sách miễn giảm học phí, chính thái... thì vấn đề văn hóa vốn có vai trò quan trọng trong  
sách hỗ trợ chi phí học tập, chính sách cử tuyển, chính sự phát triển bền vững của mỗi tộc đang có sự “đứt gãy”.  
sách đào tạo và giải quyết việc làm cho đối tượng sinh Sự phát triển bền vững của văn hóa góp phần vào phát  
viên người dân tộc thiểu số… Trong thời gian tới, cần tập triển bền vững nói chung phải được thực hiện bởi chính  
trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất nhằm kiên cố hóa chủ nhân của nền văn hóa đó. Nhà trường phổ thông với  
trường lớp học, nhà bán trú, các công trình chức năng và mục tiêu GD và “dư địa” của mình có vai trò quan trọng  
nhà công vụ cho GV để cải thiện điều kiện cơ sở vật chất và “lợi thế” nhất định trong việc góp phần xây dựng ý  
trường lớp và nhà công vụ cho GV nhất là vùng nông thức tự giác của chủ thể văn hóa cùng với niềm tự hào  
thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc có điều kiện kinh tự cường quốc gia dân tộc thống nhất. Sự phát triển của  
tế xã hội còn nhiều khó khăn.  
cá nhân hay xã hội rất cần sự cân bằng nhất định giữa  
truyền thống và hiện đại.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Dam Bo, (2003), Miền đất huyền ảo, NXB Hội Nhà văn,  
Hà Nội, tr.239.  
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên,  
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, (2017), Tài  
liệu Hội nghị Phát triển giáo dục và đào tạo vùng Tây  
Nguyên, Đà Lạt.  
[3] Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009.  
[4] Jacques Dournes, (2003), Miền đất huyền ảo, hành trình  
qua miền mơ tưởng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.  
[5] Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao, (1992), Ủy ban quốc  
gia về Thập kỉ quốc tế phát triển văn hóa: Thập kỉ thế giới  
phát triển văn hóa, Hà Nội.  
THE ROLE OF CULTURAL SUBJECT IN PRESERVING AND PROMOTING  
THE TRADITIONAL CULTURE IN THE CENTRAL HIGHLANDS  
OF VIETNAM - A PERSPECTIVE FROM GENERAL EDUCATION  
Trung Thi Thu Thuy1, Pham Thi Trung2  
ABSTRACT: The traditional culture of Central Highlands of Vietnam with its  
1 Academy of Politics Region III  
typical values is still effective in current social life in the mountainous and  
232 Nguyen Cong Tru street, Da Nang, Vietnam  
rural areas. Many guidelines of the Party and State on building cultural life  
and orientations in personality education have been found in the culture of  
ethnic minorities in the Central Highlands. The inheritance and promotion of  
these values has a special importance in educating students in the Central  
Highlands provinces to increase their strong emphasis on the responsibilities  
of citizens, a sense of compliance with the constitution and laws; and a  
sense of appreciation for national cultural identity. In this study, the authors  
have contributed more comments on the role of schools in “building people  
to develop culture” from the aspects of the role of schools in contributing to  
building a self-awareness of the subjects in preserving and promoting the  
traditional cultural values of indigenous ethnic communities in the Central  
Highlands of Vietnam.  
Email: trungthuyh[email protected]  
2 Kon Tum Department of Education and Training  
22 Nguyen Thai Hoc street, Kon Tum city,  
Kon Tum province, Vietnam  
Email: ytrungkon[email protected]  
KEYWORDS: Education; cultural subject; sustainable Development; Central Highlands.  
Số 34 tháng 10/2020  
53  
pdf 6 trang Thùy Anh 16240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của chủ thể văn hóa trong bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Tây Nguyên - Góc nhìn từ giáo dục phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_chu_the_van_hoa_trong_bao_ton_va_phat_huy_van_ho.pdf