Tài liệu Giáo dục về di sản văn hóa phi vật thể trong trường phổ thông hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững

Viện Khoa học giáo dục Việt Nam  
Vietnam Institute of Educational Sciences  
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam  
Vietnam Museum of Ethnology  
Trung tâm nghiên cứu quốc tế  
về di sản văn hóa phi vật thể  
ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương  
International Research Centre  
for Intangible Cultural Heritage  
in the Asia-Pacific Region  
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN  
GIÁO DỤC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ  
TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG  
HƯỚNG TỚI CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  
– 2019 –  
1
MỤC LỤC  
PHẦN MỘT - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT  
THỂ VÀ GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  
1. Di sản văn hóa phi vật thể  
8
8
8
8
8
8
9
1.1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể  
1.1.1. Di sản văn hóa phi vật thể là gì?  
1.1.2. Các hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể  
1.1.3. Các đặc trưng chung của di sản văn hóa phi vật thể  
1.2. Giới thiệu tóm tắt về các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được  
UNESCO công nhận là di sản thế giới  
1.2.1. Nhã nhạc cung đình Huế  
1.2.2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên  
1.2.3. Dân ca quan họ Bắc Ninh  
1.2.4. Ca trù  
1.2.5. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc  
1.2.6. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương  
1.2.7. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ  
1.2.8. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh  
1.2.9. Nghi lễ và trò chơi kéo co (Hồ sơ đa quốc gia)  
1.2.10. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt  
1.2.11. Hát Xoan Phú Thọ  
9
10  
10  
11  
11  
12  
12  
13  
13  
14  
14  
15  
16  
16  
16  
16  
18  
18  
19  
19  
19  
20  
21  
1.2.12. Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ  
2. Giáo dục vì sự phát triển bền vững  
2.1. Phát triển bền vững và Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc  
2.1.1. Phát triển bền vững  
2.1.2. Các mục tiêu PTBV của LHQ  
2.1.3. Khía cạnh văn hóa trong PTBV  
2.2. Giáo dục vì sự phát triển bền vững  
2.3. Khái quát về GDVSPTBV ở Việt Nam  
2.3.1. Bối cảnh  
2.3.2. Một số chính sách cơ bản về GDVSPTBV của Việt Nam  
2.3.3. Một số kết quả chính của Việt Nam về GDVSPTBV  
3. Mối quan hệ giữa giáo dục về di sản văn hóa phi vật thể và giáo dục vì sự  
phát triển bền vững trong bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam  
3.1. Bối cảnh đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay  
3.2. Tầm quan trọng và yêu cầu giáo dục về di sản VHPVT vì sự PTBV trong giáo  
dục phổ thông của VN  
21  
22  
23  
25  
3.3. Mối quan hệ giữa giáo dục về DSVHPVT và giáo dục VSPTBV  
PHẦN HAI - HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH GIÁO DỤC VỀ DI SẢN VĂN HÓA  
PHI VẬT THỂ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NHÀ TRƯỜNG  
PHỔ THÔNG  
25  
25  
25  
25  
26  
1. Nguồn lực tham gia  
1.1. Học sinh  
1.2. Giáo viên  
1.3. Cộng đồng chủ thể văn hóa  
1.4. Các nhà khoa học, chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể và chuyên gia giáo  
dục  
26  
1.5. Các nhà quản lý văn hóa  
2
26  
27  
27  
27  
27  
1.6. Các nhà quản lý giáo dục  
1.7. Truyền thông  
2. Cách tiếp cận  
2.1. Học sinh là trung tâm (learner-centred approach)  
2.2. Giáo viên hứng thú với di sản văn hóa phi vật thể và giáo dục vì sự phát triển  
bền vững  
28  
28  
28  
29  
30  
30  
30  
31  
35  
2.3. Đa dạng hóa cách thức học tập  
2.4. Kết hợp giữa các yếu tố của di sản văn hóa phi vật thể và các nguyên tắc của  
giáo dục vì sự phát triển bền vững cho việc học  
2.5.Cách tiếp cận toàn trường  
3. Phương pháp thực hiện  
3.1. Phương pháp khai thác tư liệu  
3.2. Nguồn tài liệu  
3.3. Quy trình thực hiện  
4. Tích hợp di sản văn hóa phi vật thể vào bài học trong nhà trường vì mục tiêu  
giáo dục vì sự phát triển bền vững  
35  
52  
4.1. Khung tích hợp  
4.2. Một số ví dụ minh họa về bài soạn tích hợp nội dung giáo dục di sản văn hóa  
phi vật thể  
52  
63  
72  
84  
94  
1. Tiết học Ngữ văn 6 – Truyền thuyết thánh gióng  
2. Tiết học Mỹ thuật 6 – Vẽ tranh đề tài lễ hội  
3. Tiết học Khoa học tự nhiên 7 – Độ cao và độ to của âm  
4. Tiết học Địa lý 9 – Tây Nguyên  
5. Tiết học Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 6 – Hoạt động xã hội và phục  
vụ cộng đồng  
107  
127  
PHỤ LỤC  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
3
Lời cảm ơn  
Tài liệu hướng dẫn “Giáo dục di sản văn hóa phi vật thể trong trường phổ thông hướng tới các  
mục tiêu phát triển bền vững” là kết quả hợp tác giữa Trung tâm nghiên cứu quốc tế về di sản  
văn hóa phi vật thể ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương (IRCI), Bảo tàng dân tộc học Việt  
Nam (VME) và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (VNIES), trong khuôn khổ dự án  
“Nghiên cứu đa ngành về sự đóng góp của di sản văn hóa phi vật thể đối với phát triển  
bền vững: Tập trung vào giáo dục”.  
Tài liệu hướng dẫn này được thực hiện với sự hỗ trợ và tư vấn của rất nhiều cá nhân và tổ  
chức. Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới tất cả những người đã đóng góp cho  
nỗ lực này.  
Trung tâm nghiên cứu quốc tế về Di sản văn hóa phi vật thể ở khu vực Châu Á – Thái Bình  
Dương (IRCI) đóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp những hướng dẫn chi tiết và hỗ trợ  
về tài chính, kĩ thuật để thực hiện tài liệu.  
Chúng tôi vô cùng biết ơn những ý kiến tư vấn và sự hỗ trợ nhiệt tình của Văn phòng  
UNESCO Bangkok và Văn phòng UNESCO Hà Nội trong quá trình thực hiện việc biên soạn  
tài liệu, đặc biệt là Ông Toshiyuki Matsumoto cùng các cán bộ phụ trách văn hóa của  
UNESCO Hà Nội.  
Nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đã dành thời gian để đóng góp các ý kiến tư vấn chuyên  
môn, tham gia các cuộc họp và cung cấp những phản hồi quan trọng cho các bản thảo của tài  
liệu. Lời cảm ơn đặc biệt xin được gửi tới Ngài Hisao Kato, Hiệu trưởng trường đại học sư  
phạm Nara, người đã hỗ trợ cho việc tổ chức Hội thảo giới thiệu và góp ý cho tài liệu này tại  
Nara trong tháng 1/2019. Trân trọng cảm ơn GS. Masahisa Sato, Trường Đại học Tokyo, Nhật  
Bản, về những góp ý sâu sắc và tâm huyết để chúng tôi có thể hoàn thiện tài liệu.  
Chúng tôi cũng muốn bày tỏ sự ghi nhận những nỗ lực, đóng góp quí báu của các đồng nghiệp  
tại Cục di sản văn hóa, Bảo tàng Dân tộc học và Viện Khoa học giáo dục Việt Nam.  
Lời cảm ơn chân thành xin được gửi tới cán bộ quản lý và giáo viên của các trường THCS  
Yên Hòa và THCS Ngô Sĩ Liên đã chia sẻ kinh nghiệm về nội dung và cách thức thực hiện  
giáo dục di sản văn hóa phi vật thể trong trường phổ thông, đồng thời cũng là đối tượng sẽ  
tiếp nhận và sử dụng tài liệu này.  
Xin được trân trọng cảm ơn tất cả những bạn bè, đồng nghiệp đã làm việc nghiêm túc, cẩn  
trọng để hỗ trợ cho quá trình biên soạn tài liệu. Cảm ơn những đồng nghiệp trong và ngoài  
VME và VNIES đã cùng tham gia vào việc dịch thuật, biên tập, chế bản tài liệu.  
Cuối cùng, tài liệu này là kết quả của một trong những dự án nghiên cứu do ODA tài trợ cho  
các hoạt động UNESCO của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật  
Bản.  
4
Chúng tôi hy vọng tài liệu sẽ góp phần cung cấp kiến thức, kĩ năng, hình thành thái độ và phát  
triển những năng lực cần thiết cho giáo viên và học sinh trong quá trình triển khai giáo dục di  
sản văn hóa phi vật thể trong trường phổ thông hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững  
trong chương trình giáo dục phổ thông mới.  
5
Danh mục từ viết tắt  
DSVH  
Di sản văn hóa  
DSVHPVT Di sản văn hóa phi vật thể  
GDVSPTBV Giáo dục vì sự phát triển bền vững  
GV  
Giáo viên  
HS  
Học sinh  
KHTN  
KHXH  
LHQ  
Khoa học tự nhiên  
Khoa học xã hội  
Liên hợp quốc  
PTBV  
UNESCO  
Phát triển bền vững  
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc  
6
Giới thiệu  
1. Mục tiêu  
“Tài liệu hướng dẫn giáo dục về di sản văn hóa phi vật thể trong trường phổ thông  
hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững” được xây dựng nhằm cung cấp cho các nhà  
nghiên cứu, nhà giáo dục, cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường một công cụ lý luận và thực  
hành trong việc giáo dục về các di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) của Việt Nam cho  
học sinh, đóng góp vào việc thực hiện Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc  
mà Việt Nam đã cam kết thực hiện.  
2. Cấu trúc  
Tài liệu được chia thành hai phần chính:  
Phần I. Một số vấn đề chung về DSVHPVT và giáo dục vì sự phát triển bền vững.  
Phần này giới thiệu những thông tin chung về DSVHPVT, về 12 DSVHPVT của Việt Nam  
được UNESCO công nhận, về giáo dục vì sự phát triển bền vững và mối quan hệ giữa hai lĩnh  
vực này. Đây là những vấn đề lý luận khái quát để giúp nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và  
giáo viên có được những hiểu biết cơ bản nhất làm nền tảng cho việc thực hành giáo dục  
DSVHPVT trong nhà trường.  
Phần II. Hướng dẫn thực hành giáo dục DSVH PVT vì sự phát triển bền vững trong nhà  
trường phổ thông.  
Phần này bao gồm cách tiếp cận, qui trình thực hiện, khung tích hợp cho một số môn học cấp  
THCS, và giáo án minh họa cách tích hợp giáo dục về DSVHPVT qua 5 môn học, hoạt động  
giáo dục. Đây là những gợi ý giúp người thực hiện biết cách tích hợp nội dung giáo dục  
DSVHPVT vào môn học và các hoạt động giáo dục vẫn đảm bảo các mục tiêu của bài học  
đồng thời tạo cơ hội cho học sinh khám phá, tìm hiểu thêm về những DSVHPVT của đất  
nước mình.  
3. Phạm vi  
. Về giới hạn phạm vi cấp học: Trong khuôn khổ hiện tại, phần hướng dẫn thực hành  
của tài liệu cung cấp những chỉ dẫn cụ thể cho việc tích hợp giáo dục DSVHPVT  
trong nhà trường ở cấp THCS thông qua một ma trận tích hợp từ lớp 6 đến lớp 9 và  
một số ví dụ minh họa về giáo án giảng dạy các môn học/ hoạt động giáo dục. Tuy  
nhiên, đối với các nội dung cơ bản khác như một số vấn đề lý luận chung, cách tiếp  
cận, các bước thực hiện..., giáo viên/ nhà giáo dục có thể vận dụng cho bất kỳ cấp học,  
đối tượng người học nào tùy thuộc vào mục đích của mình. Đối với các giáo án minh  
họa, giáo viên cũng có thể tham khảo cách thức tổ chức các hoạt động học tập để tự  
thiết kế những hoạt động tương tự cho học sinh các lớp học, cấp học khác tương ứng.  
. Về các môn học được minh họa: Với phạm vi hiện nay của Tài liệu, phương pháp thực  
hiện giáo dục DSVHPVT trong nhà trường được minh họa thông qua giáo án của 4  
môn học (Ngữ văn, Mỹ thuật, Địa lý, KHTN) và một hoạt động giáo dục (Hoạt động  
trải nghiệm, hướng nghiệp). Đây là các môn học/hoạt động được lựa chọn minh họa vì  
có nhiều tiềm năng, cơ hội phù hợp để đưa nội dung giáo dục DSVHPVT vào một  
cách tự nhiên, hài hòa, đồng thời bảo đảm tính đa dạng của các giáo án (có cả môn  
thuộc lĩnh vực KHTN, KHXH, nghệ thuật, và hoạt động giáo dục). Trên thực tế, nếu  
áp dụng cách tiếp cận và hướng dẫn như đề cập trong tài liệu, giáo dục DSVHPVT có  
thể được đưa vào bất kỳ môn học hay hoạt động nào, tùy thuộc vào khả năng và sức  
sáng tạo của giáo viên, học sinh.  
7
. Về các DSVHPVT được giới thiệu trong Tài liệu: Tài liệu hiện cung cấp những gợi ý  
thực hiện trong phạm vi 12 DSVHPVT của Việt Nam đã được UNESCO chính thức  
công nhận, nhằm tập trung giới thiệu tới học sinh những DSVHPVT nổi bật nhất của  
đất nước đã được thẩm định về giá trị văn hóa ở tầm quốc tế. Tuy vậy, điều này không  
có nghĩa là khi giảng dạy về DSVHPVT thì chỉ đóng khung trong phạm vi 12 di sản  
này. Khi vận dụng Tài liệu cho thực tiễn nhà trường của mình, giáo viên có thể tùy ý  
lựa chọn, thay đổi để giới thiệu những DSVHPVT khác tại địa phương mình để học  
sinh có cơ hội nhận diện các di sản, tăng thêm hiểu biết, lòng tự hào, trân trọng đối với  
những đặc trưng văn hóa, tinh thần nơi mình sinh sống, đồng thời huy động được sự  
tham gia của các nghệ nhân, nhà văn hóa tại địa bàn vào hoạt động nhà trường. Đối  
với những vùng điều kiện kinh tế khó khăn, cả học sinh và giáo viên ít có cơ hội tiếp  
xúc với các nguồn thông tin chính thống về DSVHPVT của quốc gia, GV nên phối  
hợp với các cơ quan, tổ chức văn hóa và cá nhân tại địa phương để khai thác thêm  
thông tin về những DSVHPVT tại địa bàn nhằm giúp cho việc giáo dục về di sản trở  
nên gần gũi, thiết thực với học sinh.  
4. Đối tượng sử dụng tài liệu  
Các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, giáo viên, và cán bộ quản lý nhà trường có thể sử  
dụng tài liệu như một kênh thông tin tham khảo để tăng cường giáo dục về DSVHPVT nhằm  
nâng cao hiểu biết về truyền thống địa phương, truyền thống dân tộc, mở rộng kiến thức về  
văn hóa và giáo dục vì sự phát triển bền vững cho học sinh.  
Đồng thời, với cấu trúc của Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ được áp dụng từ  
năm học 2020-2021, Tài liệu còn có thể được sử dụng như một nguồn chính thống để giúp  
cán bộ quản lý và giáo viên thực hiện hiệu quả Nội dung giáo dục bắt buộc của địa phương  
trong Chương trình (đối với những địa phương có DSVHPVT được UNESCO công nhận).  
***  
Hi vọng, cuốn Tài liệu sẽ là một nguồn thông tin hữu ích hỗ trợ cho các nhà giáo dục,  
nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và giáo viên trong quá trình giáo dục toàn diện học sinh nói  
chung, và đóng góp cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững nói riêng, hướng tới  
mục đích chung cuối cùng là hình thành những công dân Việt Nam có hiểu biết, có trách  
nhiệm, có lòng tự hào, tự tôn về bản sắc dân tộc để tự tin hội nhập vào dòng chảy thế giới.  
-
Nhóm nghiên cứu -  
8
PHẦN MỘT  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ  
VÀ GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG  
1. Di sản văn hóa phi vật thể  
1.1.Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể  
1.1.1. Di sản văn hóa phi vật thể là gì?  
Theo Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO thông qua ngày 17  
tháng 10 năm 2003 và Việt Nam cam kết thực hiện từ ngày 20 tháng 9 năm 2005, di sản văn  
hóa phi vật thể được hiểu là “các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng  
và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan  
mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân công nhận là  
một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khá, di sản văn  
hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với  
môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời  
hình thành quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình  
thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với  
sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”.  
Tại Điều 4, Mục 1, Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH, ngày 23 tháng 7 năm 2013,  
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, di sản  
văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không  
gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng,  
không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng,  
truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”.  
1.1.2. Các hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể  
. Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản  
văn hóa phi vật thể;  
. Nghệ thuật trình diễn;  
. Tập quán xã hội, tín người và các lễ hội;  
. Tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;  
. Nghề thủ công truyền thống.  
1.1.3. Các đặc trưng chung của di sản văn hóa phi vật thể  
. Các yếu tố truyền thống và đương đại cùng tồn tại song song: Di sản văn hóa phi vật  
thể không chỉ đại diện cho những truyền thống kế thừa từ quá khứ mà bao gồm cả  
những thực hành đương đại, ở cả vùng nông thôn và đô thị, nơi mà các nhóm văn hóa  
đa dạng tham gia;  
. Tính toàn bộ: Các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể, cho dù đến từ vùng quê lân  
cận, hay từ một thành phố ở bên kia trái đất, cho dù được tiếp nhận bởi các cộng đồng  
di cư và định cư ở một vùng đất khác, đều chia sẻ đặc tính chung là được truyền từ thế  
hệ này sang thế hệ khác, được phát triển để thích ứng với môi trường, góp phần tạo  
cho chúng ta nhận thức về bản sắc và sự kế tục, kết nối quá khứ với hiện tại và tương  
lai. Di sản văn hóa phi vật thể không hướng tới câu hỏi như liệu một số thực hành cụ  
thể chỉ thuộc riêng về một nền văn hóa hay không, mà nó góp phần gắn kết xã hội,  
khuyến khích ý thức về bản sắc và trách nhiệm mà nhờ đó các cá nhân cảm thấy mình  
là một phần của một hoặc nhiều cộng đồng khác nhau, và của toàn xã hội;  
. Tính đại diện: Di sản văn hóa phi vật thể không chỉ được coi là một sản phẩm văn hóa,  
trên cơ sở so sánh, vì tính độc quyền hoặc giá trị đặc biệt của nó, mà phát triển mạnh  
9
trên cơ sở cộng đồng, do những người có kiến thức về truyền thống, kỹ năng và phong  
tục truyền cho những thành viên khác trong cộng đồng, từ thế hệ này sang thế hệ khác,  
hoặc cho các cộng đồng khác;  
. Tính dựa vào cộng đồng: Di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể được coi là di sản khi  
được thừa nhận bởi chính cộng đồng, nhóm người hoặc các cá nhân – những người đã  
sáng tạo, duy trì và trao truyền di sản đó.  
. Tôn trọng các quyền con người  
1.2. Giới thiệu tóm tắt về các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO  
công nhận là di sản thế giới  
Cho đến nay, Việt Nam đã có 12 DSVHPVT được UNESCO công nhận là di sản thế  
giới. Để làm rõ quá trình giáo dục về DSVHPVT trong trường học hướng tới mục tiêu phát  
triển bền vững, cuốn tài liệu sử dụng thông tin về 12 di sản này trong các ví dụ minh họa  
xuyên suốt tài liệu bởi 12 di sản này:  
. Là những di sản nổi tiếng, là niềm tự hào của người Việt Nam;  
. Có lượng thông tin, tài liệu phong phú làm cơ sở để giáo viên, học sinh tra cứu, tham  
khảo trong quá trình tìm hiểu và ứng dụng trong giảng dạy và học tập (Đây là lý do  
quan trọng bởi việc xây dựng bài giảng kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng môn học  
với giáo dục về DSVNPVT cần có quá trình tìm hiểu về di sản trên thực địa. Trong  
khuôn khổ chương trình biên soạn tài liệu này, các tác giả không có điều kiện tiến  
hành nghiên cứu thực địa về di sản để xây dựng bài giảng minh họa. Do đó, các tư liệu  
nghiên cứu về 12 di sản này, vốn được thu thập trong quá trình đệ trình hồ sơ cho  
UNESCO, đảm bảo tính khoa học làm cơ sở cho việc biên soạn bài giảng tích hợp  
DSVHPVT hướng đến mục tiêu PTBV);  
. Dễ thu hút học sinh, giúp học sinh hứng thú, chủ động, tích cực trong học tập;  
. Là những ví dụ cụ thể mang tính tiêu biểu, tạo điều kiện để tài liệu có thể dễ dàng  
được tiếp cận không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn trên toàn cầu;  
1.2.1. Nhã nhạc cung đình Huế  
- Địa phương: Loại âm nhạc trong cung đình Huế  
- Nội dung tóm tắt: Nhã nhạc là một loại hình âm nhạc chính thống trong cung đình thời  
phong kiến với quy mô tổ chức chặt chẽ. Dàn nhạc dựa trên thang ngũ âm với sự đa dạng  
của các loại nhạc cụ: trống, phách, sáo, đàn huyền tử, đàn hồ cầm, đàn song vân, đàn tỳ  
bà, tam âm với các ca công và vũ công tạo nên một sân khấu thiêng liêng và mang tính  
bác học khó có dàn nhạc nào sánh nổi.  
Nhã nhạc được trình diễn trong các dịp triều hội, tế lễ hoặc các sự kiện trọng đại như  
lễ đăng quan của nhà vua, tiếp đón sứ thần… tạo nên sự trang trọng cho các nghi lễ.  
Theo sử sách Nhã nhạc ra đời vào triều Lý (1010 - 1225) và hoạt động một cách quy  
củ vào thời Lê (1427-1788). Đến thời nhà Nguyễn nhã nhạc cung đình Huế phát triển rực  
rỡ và đạt đến trình độ hoàn chỉnh nhất.  
- Giá trị cơ bản: Loại hình âm nhạc này rất phong phú về nội dung và tinh thần, được xem  
như một phương tiện liên lạc, hình thức thể hiện sự tôn kính đến các vị thần linh và bậc  
đế vương, trở thành một biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của  
triều đại.  
Ngoài ra, nhã nhạc còn phục vụ như một phương tiện cho việc truyền đạt những ý  
nghĩa mang tính triết lý và những khía cạnh về vũ trụ của người Việt Nam.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 07/11/2003, nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO  
công nhận là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.  
1.2.2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên  
10  
- Địa phương: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng trên địa bàn 5 tỉnh:  
Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa  
đặc sắc này là cư 17 dân tộc ít người ở Tây Nguyên.  
- Nội dung tóm tắt: Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân Tây  
Nguyên, như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu  
như tất cả các sự kiện quan trọng của cộng đồng: từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin,  
lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả cho đến lễ cúng máng nước, lễ  
mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rông mới…  
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm các bộ phận cấu: cồng chiêng,  
các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng  
cồng chiêng, những địa điểm tổ chức các lễ hội đó. Cồng chiêng có thể dùng đơn lẻ hoặc  
theo dàn, mỗi dàn thường có từ 2 đến 12 chiếc, đường kính dao động từ 25 đến 120 cm.  
Tùy theo từng nhóm dân tộc, cồng chiêng được đánh bằng dùi hoặc bằng tay, mỗi nhạc  
công đánh một chiếc. Từng thành viên trong dàn nhạc nhớ rõ từng tiết tấu của từng bài  
chiêng trong mỗi nghi lễ và kết hợp hài hòa với các nhạc công khác cùng chơi.  
- Giá trị cơ bản: Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của  
người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác.  
Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, để diễn tả niềm vui,  
nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ; là cầu nối giữa  
con người, thần linh và thế giới siêu nhiên, chứa đựng bên trong mỗi chiếc chiêng, chiếc  
cồng là một vị thần.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 25/11/2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây  
Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân  
loại.  
1.2.3. Dân ca quan họ Bắc Ninh  
- Địa phương: Dân ca quan họ có nguồn gốc từ xứ Kinh Bắc, chủ yếu ở tỉnh Bắc Ninh và  
Bắc Giang ngày nay.  
- Nội dung tóm tắt: Dân ca quan họ là một hình thức hát giao duyên, tồn tại trong môi  
trường văn hóa với những tập quán xã hội đặc thù, tập trung chủ yếu ở tỉnh Bắc Ninh.  
Những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the; những liền chị duyên  
dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón quai thao. Họ cùng nhau hát đối những câu  
ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm. Hệ thống làn  
điệu và lời ca của dân ca Quan họ là vô cùng phong phú và bài bản, phản ánh các trạng  
thái tình cảm của người quan họ ở các cấp độ xa, gần, nông, sâu khác nhau. Những làn  
điệu dân ca quan họ được lưu truyền từ đời này sang đời khác và đã phát triển đến đỉnh  
cao vào khoảng giữa thế kỷ XVIII.  
- Giá trị cơ bản: Dân ca quan họ luôn được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội  
của cộng đồng được cộng đồng lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, trở thành bản sắc  
của địa phương và lan tỏa trở thành không gian văn hóa đặc thù.  
Giá trị của dân ca quan họ cổ truyền không chỉ ở những giai điệu đặc sắc, lời ca tinh tế,  
giàu triết lý, mà còn ở phong cách, trang phục lịch sự, trang nhã và những lề lối, tập quán  
đặc sắc kèm theo nó.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 30/9/2009, dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO  
công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
1.2.4. Ca trù  
11  
- Địa phương: Ca trù hiện có ở 14 tinh, thành trong nước: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương,  
Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An,  
Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thành phố Hồ Chí Minh.  
- Nội dung tóm tắt: Ca Trù là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng, dùng  
nhiều thể văn chương như thể phú, thể truyện, thể ngâm nhưng thể văn chương phổ biến  
nhất là hát nói. Ca trù là sự phối hợp nhuần nhuyễn đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc, từng  
là loại ca trong cung đình được giới quý tộc và trí thức yêu thích.  
Hát ca trù diễn ra trong 5 không gian chính: đình làng, đền thờ thần, nhà thờ tổ nghề,  
dinh thự và ca quán thính phòng. Cùng với đó là các hình thức riêng: hát thờ, hát chúc hỗ,  
hát tế tiên sư, hát thi và hát chơi. Tham gia biểu diễn ca trù có ít nhất 3 người: một đào  
nương hát theo lối nói và gõ phách lấy nhịp. Khi hát, đào nương không cần há to miệng,  
không đẩy mạnh hơi từ buồng phổi mà ém hơi trong cổ, ậm ự mà lời ca vẫn rõ ràng, tròn  
vành rõ chữ; một kép nam đệm đàn đáy cho người hát và một quan viên điểm trống chầu.  
- Giá trị cơ bản: Ca trù là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa  
đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng,  
văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt.  
Lời lẽ, ca từ của ca trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, mang  
nhiều cảm xúc, trầm ngâm, sâu lắng. Kỹ thuật hát rất tinh tế, công phu, đòi hỏi phải nắn  
nót, chau chuốt từng chữ.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 01/10/2009, ca trù đã được UNESCO ghi danh vào  
Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.  
1.2.5. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc  
- Địa phương: Hội Gióng có ở nhiều nơi vùng châu thổ Bắc Bộ, song có 2 hội Gióng tiêu  
biểu ở Hà Nội: hội Gióng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm và hội Gióng ở  
đền Sóc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn.  
- Nội dung tóm tắt: Hội Gióng là lễ hội truyền thống tưởng nhớ và ca ngợi chiến công của  
người anh hùng Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Hội  
Gióng ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm - nơi Thánh Gióng sinh ra) diễn ra  
từ ngày 7-9 tháng Tư Âm lịch. Hội Gióng ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn nơi  
Thánh hóa, cưỡi ngựa về trời) diễn ra từ ngày 6-8 tháng Giêng Âm lịch. Các nghi lễ và  
hoạt động trong hội Gióng mô phỏng một cách sinh động và khoa học diễn biến các trận  
đấu của thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân cùng việc sau khi dẹp tan quân  
giặc, ngài về núi Sóc rồi cưỡi ngựa bay lên trời, hóa thành một vị Thánh bất tử bảo hộ  
mùa màng, hòa bình cho đất nước, thịnh vượng cho muôn dân.  
- Giá trị cơ bản: Hội Gióng là một trong những lễ hội lớn nhất vùng châu thổ Bắc Bộ, tổ  
chức theo một nghi thức được quy định chặt chẽ, chuẩn bị hết sức công phu, không chỉ có  
sự tham gia đông đảo của dân làng quanh khu vực hai đền mà của nhân dân trên cả nước.  
Giá trị nổi bật toàn cầu của hội Gióng chính là một hiện tượng văn hóa được bảo lưu,  
trao truyền khá liên tục và toàn vẹn qua nhiều thế hệ dù ở gần trung tâm thủ đô và trải  
qua nhiều biến động như chiến tranh hay sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 16/11/2010, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc  
được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
1.2.6. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương  
- Địa phương: tại khu di tích lịch sử đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, thành phố Việt Trì,  
tỉnh Phú Thọ.  
12  
- Nội dung tóm tắt: Theo truyền thuyết, Hùng Vương là con của cha Lạc Long Quân –  
(giống Rồng) và mẹ Âu Cơ (giống Tiên), đã có công dựng lên nhà nước Văn Lang cổ đại,  
thuộc vùng đất Phú Thọ ngày nay. Đối với cộng đồng các làng xung quanh đền Hùng,  
Hùng Vương còn là thần tổ gắn với nghề nông, dạy dân cày ruộng, cấy lúa, ban linh khí  
cho đất đai, nhà cửa, cây trồng, vật nuôi sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Với niềm tin  
thành kính này, từ hàng nghìn năm qua, hết thế hệ này qua thế hệ khác, người Việt ở  
vùng đất Tổ Phú Thọ, nơi có Đền Hùng linh thiêng và nhân dân trên khắp mọi miền của  
đất nước, cùng đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài, đã sáng tạo, thực hành, vun đắp  
và lưu truyền Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương để thể hiện sự biết ơn với vị thủy tổ,  
mong Ngài phù hộ cho quốc thái dân an, vật thịnh, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu.  
- Giá trị cơ bản: Biểu hiện tiêu biểu nhất cho Tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương ở Phú  
Thọ là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch hằng năm tại  
Khu di tích lịch sử Đền Hùng. Lễ giỗ Tổ Hùng Vương cũng được tổ chức trên khắp mọi  
miền của đâ  
́
t nư ớc Viêt  
̣
̣
Nam (Theo thống kê , trên cả nước hiên có 1.417 di tích có thờ  
cúng Hùng Vương và các nhân vât  
̣
thời Vua Hùng).  
- Thời gian được công nhận: Ngày 06/12/2012, tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương được  
UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
1.2.7. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ  
- Địa phương: Thực hành ở 21 tỉnh ở miền Nam Việt Nam, gồm: An Giang, Bà Rịa-Vũng  
Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng  
Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Long An, Ninh Thuận,  
Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long; tập trung nhiều nhất ở Bạc  
Liêu, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang.  
- Nội dung tóm tắt: Bằng điệu đàn, tiếng hát, loại hình sinh hoạt văn hóa này gắn kết cộng  
đồng thông qua thực hành và sáng tạo nghệ thuật, trên cơ sở nhạc Lễ, nhạc Cung đình  
triều Nguyễn và âm nhạc dân gian miền Trung, miền Nam, nên vừa có tính bình dân, vừa  
mang tính bác học. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ không ngừng được sáng tạo nhờ tính  
ngẫu hứng và sự biến hóa theo cảm xúc của người thực hành trên cơ sở của 20 bài gốc  
(bài Tổ) và 72 bản nhạc cổ. Nhạc cụ tham gia trình diễn bao gồm: đàn kìm, đàn tranh, đàn  
tỳ bà, đàn bầu, đàn cò, sáo, tiêu, song loan và hai nhạc cụ của phương Tây (violon và  
guitar đã được “cải tiến: violon được lên dây quãng 4, còn guitar được khoét phím lõm, để  
tăng sự nhấn nhá trong điệu đàn).  
̣
- Giá trị cơ bản: Những ngươi thực hành Đờn ca tài tử Nam Bộ luôn tôn trong, quý mến,  
̀
học hỏi nhau tài nghệ, văn hóa ứng xử, đạo đức…, góp phần gắn kết cộng đồng, xã hội,  
cùng hướng tới giá trị “chân, thiện, mỹ”. Thông qua việc thực hành Đờn ca tài tử Nam Bộ,  
cộng đồng còn góp phần giới thiệu, bảo tồn và phát huy các tập quán xã hội khác liên  
quan, như: lễ hội, văn hóa truyền khẩu, nghề thủ công… Đối với người phương Nam,  
Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể  
thiếu và là di sản văn hóa phi vật thể quý giá của cộng đồng.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 05/12/2013, UNESCO chính thức công nhận Đờn ca  
tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
1.2.8. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh  
- Địa phương: Dân ca của người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, thuộc Bắc Trung bộ  
Việt Nam.  
- Nội dung tóm tắt: Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được thực hành trong  
lao động và đời sống thường nhật: lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay  
13  
lúa. Ví, Giặm có đặc tính địa phương về thang điệu, điệu thức, tiết tấu, giai điệu và giọng  
hát. Các kỹ năng hát đúng tiết tấu, cao độ, trường độ, luyến láy chủ yếu được trao truyền  
giữa các thế hệ bằng truyền khẩu, trực tiếp từ các nghệ nhân, đảm bảo thể hiện được giọng  
hát, ngữ điệu của phương ngữ Nghệ Tĩnh. Ca từ của Dân ca Ví, Giặm có nội dung đa dạng,  
miêu tả cuộc sống, phản ánh tập quán xã hội, lịch sử, tình yêu quê hương, đất nước, con  
người, tình yêu đôi lứa. Nhiều bài hát mang tính giáo dục sâu sắc: kính trọng cha mẹ,  
chung thủy, nghĩa tình, trung thực, góp phần gìn giữ các tập tục, truyền thống tốt đẹp  
trong ứng xử xã hội ở làng xã.  
- Giá trị cơ bản: Dân ca Ví, Giặm có đặc tính địa phương về thang điệu, điệu thức, tiết gắn  
bó mật thiết với đời sống người dân và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Về giá trị nghệ  
thuật, dân ca Ví, Giặm là loại hình độc đáo, phản ánh nhiều nét bản sắc văn hóa của địa  
phương, thể hiện tài năng, cốt cách của con người xứ Nghệ.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 27/11/2014, Dân ca Ví, Giặm Nghệ tĩnh được  
UNESCO chính thức ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân  
loại.  
1.2.9. Nghi lễ và trò chơi kéo co (Hồ sơ đa quốc gia)  
- Địa phương: Việt Nam, Hàn Quốc, Campuchia và Philippine. Tại Việt Nam, nghi lễ và  
trò chơi kéo co tập trung ở vùng trung du, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ với  
trung tâm là các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, thành phố Hà Nội và khu vực miền núi phía  
Bắc.  
- Nội dung tóm tắt: Nghi lễ và trò chơi kéo co được thực hành rộng rãi trong văn hóa trồng  
lúa ở nhiều nước Đông Á với ý nghĩa cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu hay  
những tiên đoán liên quan đến sự thành công hay thất bại của nỗ lực trồng cấy. Kéo co phổ  
biến trong sinh hoạt của người Việt, bên cạnh đó cũng được thực hành thường xuyên trong  
văn hóa người Tày, Thái và Giáy (Lào Cai) – vốn là những cư dân trồng lúa sớm trong lịch  
sử.  
Kéo co ngày nay được biết đến rộng rãi là một trò chơi cạnh tranh, nhưng bản chất là  
một phần của nghi thức cầu nguyện cho thu hoạch dồi dào và thúc đẩy sự thịnh vượng của  
cộng đồng thông qua sự hài hòa và đoàn kết giữa các thành viên. Nhìn chung, nghi lễ và  
trò chơi kéo co được thực hiện bởi hai đội, thường là phụ nữ chống lại nam giới, trong một  
không gian mở tại một trung tâm làng. Một đường thẳng được vẽ ở giữa khu vực cạnh  
tranh. Mỗi đội nắm giữ dây thừng có dải lụa buộc ở giữa, và trọng tài điều khiển trò chơi  
bằng cách hô to. Hai đội bắt đầu kéo sợi dây theo nhịp. Đội nào kéo được phần buộc dải  
lụa về phía mình là đội thắng cuộc.  
- Giá trị cơ bản: Ở Việt Nam, nghi lễ và trò chơi kéo co thường được tổ chức trong dịp lễ  
hội mùa xuân, đánh dấu sự khởi đầu của một chu kỳ nông nghiệp và bày tỏ mong muốn  
cho cây trồng bội thu. Đây là di sản mang dấu ấn đậm nét của nghi thức nông nghiệp,  
tượng trưng cho sức mạnh của các lực lượng tự nhiên tác động đến sự ấm no của đời sống  
con người.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 02 tháng 12 năm 2015, UNESCO đã chính thức ghi  
danh Nghi lễ và trò chơi Kéo co ở Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc, Philippines vào Danh  
sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
1.2.10. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt  
- Địa phương: Phân bố ở nhiều địa phương như Hà Nội, Thanh Hoá, Lạng Sơn, Hà Nam,  
Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên  
14  
Bái, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang , Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế  
và Thành phố Hồ Chí Minh...  
- Nội dung tóm tắt: Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là một hình thức thờ cúng người Mẹ  
hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, được hình thành trên nền tảng của tín  
ngưỡng thờ Nữ thần. Người dân thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với các vị Thánh  
Mẫu cai quản miền trời, rừng, nước, những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với  
nước, với dân. Thông qua các yếu tố văn hóa dân gian như trang phục, âm nhạc, hát chầu  
văn, múa, diễn xướng dân gian trong lên đồng và lễ hội, người Việt thể hiện quan niệm  
của mình về lịch sử, di sản văn hóa, vai trò của giới và bản sắc tộc người.  
Nghi lễ chính, trung tâm của Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là nghi lễ  
Lên đồng – được hiểu là một hình thức diễn xướng dân gian, thể hiện đức tin về sự  
giáng/nhập của các vị thần trong điện thần của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ. Các giá  
đồng bao gồm hát văn, trang phục, múa thiêng được kế hợp một cách hài hòa, thể hiện sự  
giáng đồng của các vị thánh mang tính tâm linh và biểu tượng. Những người thực hành  
tin rằng, bằng hình thức diễn xướng này, họ có thể giao tiếp được với các đấng thần linh  
để gửi gắm, biểu đạt những mong muốn, khát vọng của mình thông qua các thầy đồng -  
người đóng vai trò trung gian giữa con người và thần linh.  
- Giá trị cơ bản: Di sản này góp phần quan trọng vào việc tạo ra sợi dây tinh thần liên kết  
các cộng đồng thực hành. Di sản này đề cao những điểm tương đồng văn hóa giữa các  
cộng đồng và các nhóm người tham gia vào việc thờ Mẫu, là sự kết hợp của Đạo giáo,  
Phật giáo và các tôn giáo khác. Khi di sản này này được chia sẻ bởi các nhóm dân tộc  
khác nhau ở Việt Nam, việc thực hành sẽ tăng cường đối thoại và thúc đẩy tôn trọng đa  
dạng văn hóa.; giúp cho việc sáng tạo, làm giàu vốn văn hóa thông qua các yếu tố nghệ  
thuật như trang phục, vũ đạo và âm nhạc đóng vai trò quan trọng;  
- Thời gian được công nhận: Ngày 01 tháng 12 năm 2016, di sản Thực hành Tín ngưỡng  
Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách  
Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
1.2.11. Hát Xoan Phú Thọ  
- Địa phương: Hát Xoan chủ yếu được thực hành ở tỉnh Phú Thọ và một phần tỉnh Vĩnh  
Phúc. Ở tỉnh Phú Thọ, hát Xoan tập trung ở xã Kim Đức và Phượng Lâu và một số  
phường xã khác ở thành phố Việt Trì; ngoài ra còn phổ biến ở các huyện, thị: Cẩm Khê,  
Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Tân Sơn, Thanh Ba, Thanh Sơn, Thanh  
Thủy, và thị trấn Phú Thọ.  
- Nội dung tóm tắt: Là di sản thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn, Hát Xoan của tỉnh Phú  
Thọ bao gồm hát, múa, gõ trống và phách. Hát Xoan gắn liền với việc thờ cúng thần linh,  
thành hoàng và các vua Hùng, một tín ngưỡng bắt nguồn từ việc thực hành thờ cúng tổ  
tiên của người Việt. Những người lưu giữ và thực hành hình thành nên bốn phường Xoan,  
trong đó, Trùm nam và nữ đóng vai trò quan trọng nhất: họ giữ gìn các bài hát, lựa chọn  
đệ tử, truyền dạy phong cách hát, các tiết mục và tổ chức thực hành. Họ cũng tích cực giới  
thiệu và giảng dạy hát Xoan tại các phường Xoan và trong các câu lạc bộ. Là một nghệ  
thuật trình diễn cộng đồng, Hát Xoan nuôi dưỡng sự hiểu biết văn hoá, sự gắn kết cộng  
đồng và tôn trọng lẫn nhau.  
Nghệ thuật trình diễn của Hát Xoan rất đơn giản, mộc mạc với sự kết hợp hài hòa giữa  
âm nhạc, thơ, vè và giọng điệu mang đậm dấu ấn thổ ngữ của địa phương vùng trung du  
Phú Thọ (dân ca). Lời ca trong Hát Xoan còn có sự kết hợp với các điệu múa đơn giản  
chủ yếu bằng đôi tay của các đào, kép đưa ra, thu vào, ngửa bàn tay, úp bàn tay, kết hợp  
với việc sử dụng các đạo cụ, như quạt, phách tre, nậm rượu... Di chuyển trong Hát Xoan  
bằng đôi chân chủ yếu theo hàng dọc hoặc hàng ngang và vòng tròn.  
15  
- Giá tri cơ bản: Là một loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian kết hợp các yếu tố văn  
hóa, lịch sử và nghệ thuật độc đáo ở lời ca, giai điệu chứa đựng nhiều giá trị văn hóa  
được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế kỷ. Hình thức và nội dung Hát Xoan gắn với thiên  
nhiên, con người, đời sống sản xuất của tỉnh Phú Thọ và phong tục thờ cúng tổ tiên của  
người Việt. Qua bài hát và điệu nhảy, người dân bày tỏ long biết ơn đến các tổ tiên, các  
vị vua Hùng và cầu mong hạnh phúc, thịnh vượng, thời tiết thuận lợi và mùa màng bội  
thu. Lời hát Xoan cũng chứa đựng tính giáo dục đạo đức, lối sống dành cho giới trẻ.  
- Thời gian được công nhân: Hát Xoan Phú Thọ được công nhận danh hiệu Di sản văn  
hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2011. Ngày 08 tháng 12 năm 2017, di sản hát  
Xoan Phú Thọ đã chính thức được UNESCO đưa ra khỏi Danh sách Di sản văn hóa phi  
vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện  
của nhân loại.  
1.2.12. Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ  
- Địa phương: Khu vực Trung bộ, gồm các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên  
Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Đà Nẵng.  
- Nội dung tóm tắt: Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam (ở các tỉnh) là một loại hình  
nghệ thuật đa dạng, kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học. Bài chòi có  
hai hình thức chính: “Chơi Bài chòi” và “Trình diễn Bài chòi”. Chơi Bài chòi liên quan  
đến một trò chơi thẻ bài trong chòi tre vào Tết Nguyên đán. Trong các buổi trình diễn của  
Bài chòi, anh chị Hiệu biểu diễn trên chiếu cói, hoặc di chuyển từ nơi này đến nơi khác  
hoặc trong những dịp riêng tư của các gia đình. Những người lưu giữ và thực hành nghệ  
thuật Bài chòi là các anh chị Hiệu, những nghệ nhân biểu diễn Bài chòi đơn lẻ và những  
nghệ nhân làm thẻ bài. Người trình diễn và gia đình họ đóng vai trò quan trọng trong việc  
bảo vệ các hình thức thực hành bằng cách giảng dạy các bài bản, kỹ năng ca hát, kỹ thuật  
trình diễn và phương pháp làm thẻ bài cho các thế hệ trẻ. Cùng với cộng đồng, những  
người này đã thành lập gần 90 đội, nhóm và câu lạc bộ để luyện tập và truyền dạy Nghệ  
thuật Bài chòi, thu hút sự tham gia rộng rãi của cộng đồng. Hầu hết, nghệ nhân đều được  
học kỹ năng, kỹ thuật hô, hát Bài chòi trong gia đình, chủ yếu thông qua phương pháp  
truyền miệng. Tuy nhiên, một số nghệ nhân Bài chòi ngày nay cũng truyền dạy kiến thức  
và kỹ năng trong các hội, các câu lạc bộ và trường học.  
- Giá trị cơ bản: Nghệ thuật Bài chòi là một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong  
cộng đồng làng xã. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ,  
tập tục… trong nghệ thuật Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sức  
hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu và phổ biến khắp miền  
Trung. Vì thế mà sinh hoạt Bài chòi trở thành môi trường thực hành và sáng tạo nghệ  
thuật, đồng thời cũng là nơi bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các  
giá trị văn hóa vùng miền.  
- Thời gian được công nhận: Ngày 07 tháng 12 năm 2017, di sản Nghệ thuật Bài chòi  
Trung Bộ Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn  
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  
2. Giáo dục vì sự phát triển bền vững  
2.1. Phát triển bền vững và Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc  
2.1.1. Phát triển bền vững  
Vận động và phát triển là mục tiêu cuối cùng của bất kỳ xã hội hay nền kinh tế nào.  
Tuy nhiên, những thập niên gần đây đã cho thấy sự dịch chuyển và đổi mới mạnh mẽ trong  
16  
nhận thức và cũng như hành động của các quốc gia về tính chất của sự phát triển đó, với trọng  
tâm hướng đến „sự phát triển bền vững‟, thay thế cho sự phát triển nhanh, mạnh, nhưng không  
tính đến những hệ quả trước mắt và lâu dài đối với mọi mặt của đời sống, xã hội, và môi  
trường.  
Quan niệm về PTBV được hình thành thông qua việc thừa nhận một thực tế rằng sự  
phát triển trong suốt cả quá trình dài trước đây thường gây ra những tác hại đối với tự nhiên  
cũng như với các di sản văn hóa của nhân loại, do vậy dẫn đến việc giảm thiểu khả năng của  
các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của chính họ. Trong bản báo cáo mang tính  
bước ngoặt “Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển  
(WCED) năm 1987, khái niệm PTBV được định nghĩa là “sự phát triển đáp ứng được những  
yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai  
sau" (WCED, 1987). Mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững là cải thiện chất lượng cuộc  
sống của tất cả công dân trong một quốc gia và toàn thế giới – trong khi vẫn đảm bảo sự toàn  
vẹn của các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của tất cả mọi người và các sinh vật khác.  
Ba trụ cột của PTBV được xác định là: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát  
triển và duy trì được một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng tốt song phải an toàn, chất lượng;  
Thứ hai, bền vững về mặt xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển con người; Thứ ba,  
bền vững về sinh thái môi trường, là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo  
vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống.  
Yếu tố con người được xem như một biến số mang tính cốt lõi trong PTBV  
(UNESCO, 2015). PTBV chỉ có thể đạt được thông qua mối quan hệ có trách nhiệm và hòa  
hợp giữa con người với nhau, và giữa con người với môi trường.  
2.1.2. Các mục tiêu PTBV của LHQ  
(Nguồn: Viện chiến lược, chính sách và tài nguyên môi trường,  
bao-ve-moi-truong-viet-nam-giai-doan-2016-2020)  
Chương trình nghị sự về PTBV đến năm 2030 của LHQ đề ra 17 mục tiêu chung về  
PTBV (gọi tắt là 17 SDGs) để các quốc gia định hướng cho việc lập kế hoạch, chương trình  
hành động của mình nhằm thực hiện các mục tiêu đó. 17 SDGs bao gồm:  
. Mục tiêu 1. Xóa nghèo dưới mọi hình thức ở mọi nơi  
17  
. Mục tiêu 2. Xóa đói, đảm bảo anh ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng, phát triển  
nông nghiệp bền vững.  
. Mục tiêu 3. Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi người  
ở mọi lứa tuổi.  
. Mục tiêu 4. Đảm bảo giáo dục chất lượng, công bằng, toàn diện, thúc đẩy cơ hội học  
tập suốt đời cho tất cả mọi người.  
. Mục tiêu 5. Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái.  
. Mục tiêu 6. Đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và cải thiện các điều  
kiện vệ sinh cho tất cả mọi người.  
. Mục tiêu 7. Đảm bảo việc tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý, tin cậy, bền vững và  
hiện đại cho tất cả mọi người.  
. Mục tiêu 8. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, rộng mở và bền vững, việc làm đầy  
đủ và năng suất và công việc tốt cho tất cả mọi người.  
. Mục tiêu 9. Xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa rộng mở và  
bền vững, khuyến khích đổi mới.  
. Mục tiêu 10. Giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia.  
. Mục tiêu 11. Xây dựng các đô thị và các khu dân cư mở cửa cho tất cả mọi người, an  
toàn, vững chắc và bền vững.  
. Mục tiêu 12. Đảm bảo các mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững.  
. Mục tiêu 13. Có biện pháp khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của  
nó.  
. Mục tiêu 14. Bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài  
nguyên biển cho phát triển bền vững.  
. Mục tiêu 15. Bảo vệ, tái tạo và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên  
cạn, quản lý tài nguyên rừng bền vững, chống sa mạc hóa, chống xói mòn đất và mất  
đa dạng sinh học.  
. Mục tiêu 16. Thúc đẩy xã hội hòa bình và rộng mở cho phát triển bền vững, mang  
công bằng đến với tất cả mọi người và xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm  
và rộng mở ở tất cả các cấp.  
. Mục tiêu 17. Đẩy mạnh cách thức thực hiện và đem lại sức sống mới cho quan hệ đối  
tác toàn cầu để phát triển bền vững.  
Dưới mỗi mục tiêu chung là các chỉ tiêu cụ thể cho việc thực hiện. SDG4 “Ðảm bảo  
nền giáo dục có chất luợng, công bằng, toàn diện, và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho  
mọi nguời” bao gồm 8 chỉ tiêu cụ thể, đề cập đến các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của nền  
giáo dục, trong đó chỉ tiêu số 4.7 về phát triển bền vững được diễn đạt như sau:  
“4.7. Đến năm 2030 đảm bảo tất cả người học nhận được kiến thức và kỹ năng cần thiết  
để thúc đẩy sự phát triển bền vững thông qua giáo dục về sự phát triển bền vững, lối sống  
bền vững, nhân quyền, bình đẳng giới; thúc đẩy một nền văn hóa hòa bình, không bạo lực,  
toàn cầu; coi trọng sự đa dạng văn hóa và sự đóng góp của văn hóa vào phát triển bền  
vững”  
Như vậy, PTBV là một trong những trọng tâm của mục tiêu SDG4 về giáo dục, trong  
đó nêu bật tầm quan trọng của việc phải trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng cần  
cho sự PTBV của bản thân, cộng đồng cũng như xã hội, đồng thời nhấn mạnh đến ý nghĩa của  
sự đa dạng văn hóa và những đóng góp quan trọng của văn hóa – bao gồm văn hóa phi vật thể  
- đối với PTBV.  
2.1.3. Khía cạnh văn hóa trong PTBV  
18  
Là một trong ba trụ cột (kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường) của PTBV, văn hóa  
đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện PTBV, đồng thời đóng góp vào sự gắn kết, thúc  
đẩy mối quan hệ tương hỗ với các lĩnh vực kinh tế và môi trường.  
Theo tài liệu Lăng kính GDVSPTBV – Công cụ rà soát chính sách và thực tiễn của  
UNESCO (2010), khía cạnh văn hóa trong PTBV bao gồm những nội dung cơ bản sau:  
Khía cạnh văn hóa trong PTBV  
Văn hóa và thay đổi  
Đa dan  
̣
g văn  
Di san văn hoa  
Các ngành  
văn hoa  
Kiên thưc bản  
́
́
̉
́
văn hóa  
hóa  
đia  
. Kiên thưc  
bản đia  
đông thưc  
vât, sư dun  
nươc,  
̣
́
. Tư  
văn hoa  
. Đoan kê  
tôn giao  
. Tăng cương ban  
̣
hao dân tôc  
̣
va  
. Tôn trọng . Bảo vệ sự đa . Du lic  
̣
h
́
̀
̀
́
ngươi khac  
dạng văn hóa  
. Lịch sử địa  
văn hoa  
̣ ̣  
về hê  
́
̀
́
́
́
t dân tôc  
̣
va . Tôn tron  
̣
g
. Nghê  
. Kịch  
̣
thuât  
̣
̣
̣
̀
̀
sư  
. Hòa bình và  
phi bao lưc  
. Khoan dung  
̣
đa dan  
̣
g
phương va  
̣
̣
g
các  
̉
́
̀
quô  
́
c gia  
. Múa rối  
̉
̀
́
să  
các nhóm thiểu số  
văn hoa  
́
c/ngôn ngư cua  
̣
̣
. Văn hoa  
thưc  
. nông nghiêp  
bên vưng…  
. Tôn tron  
ngương vê  
̣
hành  
̃
̉
́
truyê  
̀
n miên  
̣
g
̣
̉
và hiêu biêt  
. Đối thoại  
̣
. Danh sach di  
̀
́
́
̃
. Làm phong phu bơi  
sản thế giới  
̣
g tin  
̉
́
́
tính  
̣
đa dan  
̣
g
cơi mơ  
̉
. Di tich khảo  
̀
tư  
̣
̉
̃
́
̉
. Phát triển văn hóa  
cô  
nhiên va xa  
̀
̃
̉
. Thay đôi về văn hoa  
hôi  
̣
́
(Nguồn: Lăng kính GD VSPTBV – Việt Nam, UNESCO, 2010)  
Có thể thấy, di sản văn hóa là một trong những trọng tâm của khía cạnh văn hóa trong  
PTBV. Đồng thời, di sản văn hóa còn có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại với những nội  
dung khác của khía cạnh văn hóa trong PTBV, như lòng tự hào dân tộc, bản sắc của các dân  
tộc thiểu số, phát triển văn hóa, tôn trọng sự đa dạng, du lịch văn hóa, kiến thức và các thực  
hành bản địa... Vì vậy, bảo vệ, phát triển và tôn vinh các di sản văn hóa – bao gồm di sản văn  
hóa vật thể và phi vật thể - vừa là một trong những con đường đạt được PTBV về mặt văn hóa,  
vừa đóng góp vào quá trình thúc đẩy sự phát triển toàn diện các khía cạnh khác liên quan đến  
kinh tế, xã hội, và môi trường của PTBV.  
2.2. Giáo dục vì sự phát triển bền vững  
Giáo dục vì sự phát triển bền vững (GDVSPTBV) là giáo dục hướng đến tạo sự  
chuyển biến xã hội đương thời, nhằm đạt tới xã hội bền vững hơn trong tương lai. Để thực  
hiện được điều này, GDVSPTBV định hướng lại các chương trình giáo dục hiện hành theo  
hướng chú trọng tính bền vững – bao gồm quá trình tư duy lại những gì được dạy và cách dạy  
chúng như thế nào. GDVSPTBV bao gồm việc hình thành các giá trị, kĩ năng, thái độ và hành  
vi để giúp người học có khả năng suy xét, dự đoán, tư duy phản biện, và xử lí các vấn đề liên  
quan đến tính bền vững của tự nhiên, môi trường, con người, và xã hội (UNESCO, 2015).  
Phát triển bền vững không phải là một khái niệm bất biến, mà là quá trình phát triển và  
liên tục hoàn thiện vì tương lai tồn tại của con người và mọi sinh vật trên Trái đất; vì vậy  
GDVSPTBV cũng là một con đường học tập thường xuyên, liên tục, học tập suốt đời để sẵn  
sàng đón nhận những thay đổi, những tư duy mới. Quá trình này góp phần tạo nên những  
công dân tích cực và hiểu biết, những cộng đồng phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa – xã  
hội và môi trường – đích đến cuối cùng của GDVSPTBV.  
2.3. Khái quát về GDVSPTBV ở Việt Nam  
2.3.1. Bối cảnh  
19  
GDVSPTBV được Liên hiệp quốc và các quốc gia thành viên cam kết thực hiện dưới  
sự điều phối chung của UNESCO từ giai đoạn 2005-2014 (Thập kỷ GDVSPTBV) trong  
khuôn khổ Chương trình Nghị sự 21. Thập kỷ GDVSPTBV được tiếp nối bằng Chương trình  
Hành động Toàn cầu (GAP), đóng góp vào việc thực hiện 17 Mục tiêu Phát triển bền vững,  
đặc biệt là Mục tiêu 4.7 thông qua hai định hướng cơ bản: 1) Định hướng lại giáo dục để mọi  
người có cơ hội được trang bị các giá trị, kỹ năng và kiến thức cho phép họ đóng góp hiệu quả  
cho sự phát triển bền vững; và 2) Tăng cường giáo dục và học tập trong tất cả các chương  
trình nghị sự, chương trình hành động thúc đẩy phát triển bền vững1. UNESCO đã thiết lập  
một mạng lưới các đối tác nhằm định hướng và thúc đẩy việc thực hiện Chương trình Hành  
động Toàn cầu về GDVSPTBV. Mạng lưới này bao gồm 90 nước tham gia, trải rộng trên  
khắp thế giới cho thấy khả năng mở rộng và đổi mới GDVSPTBV2. Việt Nam cũng là một  
thành viên trong nhóm “Thúc đẩy chính sách” của Mạng lưới đối tác toàn cầu trên.  
GDVSPTBV được coi là yếu tố then chốt của một nền giáo dục có chất lượng, tạo tiền  
đề cho phát triển bền vững tại từng quốc gia và trên phạm vi toàn thế giới. Tại Việt Nam,  
Đảng và Nhà nước đã xác định GDVSPTBV là một trong những giải pháp quan trọng để thực  
hiện PTBV. Tinh thần này được thể hiện một cách thống nhất trong nhiều chính sách, chiến  
lược, kế hoạch của Đảng, Nhà nước và của các Bộ, ngành, địa phương trong hơn hai thập kỷ  
qua, phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại giữa  
3 trụ cột của phát triển bền vững là kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường, cũng như vai trò  
quan trọng của giáo dục trong việc đảm bảo các mục tiêu PTBV của đất nước. Bộ GD&ĐT  
được Chính phủ phân công là đầu mối thực hiện việc đưa các mục tiêu và nội dung  
GDVSPTBV vào các chương trình giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong quá trình triển khai  
chương trình giáo dục phổ thông mới từ năm 2020.  
Thực hiện vai trò đầu mối của mình trong GDVSPTBV, Bộ GD&ĐT đã xây dựng và  
ban hành nhiều chính sách từ cấp Bộ đến địa phương nhằm chỉ đạo và triển khai các nội dung  
có liên quan đến GDVSPTBV vào thực tiễn giáo dục. Đồng thời, những chính sách này đều  
có sự tham chiếu đến các chủ trương, chính sách lớn của quốc gia về PTBV.  
2.3.2. Một số chính sách cơ bản về GDVSPTBV của Việt Nam  
Các mục tiêu và nội dung GDVSPTBV đã được thể hiện cụ thể trong các chính sách  
quốc gia liên quan đến ba trụ cột của PTBV: kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường, trong đó  
có hệ thống chính sách từ cấp trung ương (Quốc hội, Chính phủ) đến các chính sách của Bộ  
GD&ĐT và chính sách liên ngành.  
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 (theo Quyết định  
432/QĐ - TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ) nêu rõ quan điểm con người là  
trung tâm của phát triển bền vững, phát huy tối đa nhân tố con người với vai trò là chủ thể,  
nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của PTBV. Đề cập đến lĩnh vực GD trong “Định hướng  
PTBV về xã hội”, Chiến lược đề cập đến sự cần thiết phải cải thiện chất lượng GD&ĐT để  
nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự phát triển đất nước, của  
các vùng miền và địa phương; đổi mới cơ bản và toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng  
chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành,  
năng lực tự học; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công  
nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh  
tế tri thức; xây dựng xã hội học tập, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội  
để phát triển GD&ĐT. Những yêu cầu này cho thấy vai trò, tác động to lớn của giáo dục trong  
quá trình PTBV và tăng trưởng chung của cả nền kinh tế và xã hội của quốc gia.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 127 trang Thùy Anh 16160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Giáo dục về di sản văn hóa phi vật thể trong trường phổ thông hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_giao_duc_ve_di_san_van_hoa_phi_vat_the_trong_truong.pdf