Nâng cao khả năng phát hiện xâm nhập mạng sử dụng mạng CNN

Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy  
N NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN X M  
NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN  
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy  
Học viện Cô ng nghệ Bưu chính Viễn thô ng  
thống phát hiện xâm nhập, thông qua việc giám sát các sự  
kiện xảy ra trong quá trình sử dụng hệ thống máy tính hay  
mạng và phân tích xem có dấu hiệu của việc xâm nhập hay  
không. Hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) có thể là hệ  
thống phần cứng hay phần mềm cho phép tự động hóa quá  
trình phát hiện hành vi xâm nhập và thông thường dựa trên  
hai phương pháp chính: dựa trên chữ ký và dựa trên bất  
thường. Phương pháp phát hiện xâm nhập dựa trên các dấu  
hiệu/chữ ký [6] là kỹ thuật căn bản của hệ thống phát hiện  
xâm nhập. Các dấu hiệu thường là các mô hình hay chuỗi  
ký tự tương ứng với các vụ tấn công hay mối đe dọa đã  
biết. Để phát hiện, IDS so sánh các mô hình với các sự kiện  
thu được để nhận biết việc xâm nhập. Phương pháp này  
còn được gọi là phương pháp dựa trên tri thức do sử dụng  
cơ sở tri thức về các hành vi xâm nhập trước đó. Rõ ràng,  
kỹ thuật này khó có thể phát hiện được các hành vi xâm  
nhập mới chưa có trong cơ sở tri thức của hệ thống cho dù  
có độ tin cậy và chính xác cao. Phương pháp phát hiện xâm  
nhập dựa trên bất thường [6] là phương pháp quan trọng  
trong hệ thống IDS. Sự bất thường được coi là sự khác biệt  
với hành vi đã biết bằng các lập hồ sơ các hành vi thông  
thường trên cơ sở việc theo dõi các hoạt động thường  
xuyên, các kết nối mạng, máy trạm hay người dùng qua  
một khoảng thời gian. Hệ thống phát hiện thực hiện việc  
so sánh các hồ sơ với các sự kiện quan sát được để nhận  
biết các vụ tấn công nghiêm trọng. Như vậy, phương pháp  
phát hiện dựa trên bất thường trang bị công cụ hữu hiệu  
cho người quản trị hệ thống để có thể chống chọi hiệu quả  
với các hình thức xâm nhập mới chưa được biết.  
Tóm tắt: Phát hiện xâm nhập mạng (NIDS) là vấn đề  
thu hút được sự quan tâm của người làm quản trị hệ thống  
mạng cũng như những người làm nghiên cứu an toàn hệ  
thống. Bài toán phát hiện xâm nhập mạng có thể được giải  
quyết thông qua việc phát hiện các hành vi truy nhập bất  
thường bằng cách sử dụng kỹ thuật học máy thông qua việc  
xây dựng mô hình dựa trên các thuật toán thống kê, học  
máy hay mạng nơ-ron nhân tạo. Tuy nhiên, các cuộc tấn  
công bảo mật ngày nay có xu hướng không thể đoán trước  
được. Việc xây dựng một hệ thống phát hiện xâm nhập  
mạng linh hoạt và hiệu quả có tỷ lệ báo động giả thấp và  
độ chính xác phát hiện cao trước các cuộc tấn công không  
xác định gặp rất nhiều thách thức. Bài báo này nghiên cứu  
áp dụng mạng CNN (mạng nơ-ron tích chập) cho mô hình  
phát hiện xâm nhập và so sánh hiệu năng với một số kỹ  
thuật học máy cơ bản khác trên cơ sở bộ dữ liệu NSL-  
KDD. Kết quả thực nghiệm cho thấy, với kết quả độ đo F1  
là 98,2%, mô hình phát hiện xâm nhập dựa trên mạng CNN  
có hiệu năng vượt trội so với các mô hình học máy khác.  
Từ khóa: phát hiện xâm nhập mạng, NSL-KDD, học  
sâu, CNN.1  
I. GIỚI THIỆU  
Việc phát triển của các thiết bị tính toán và sự phổ biến  
của các ứng dụng mạng như thương mại điện tử, mạng xã  
hội, tính toán đám mây đã làm cho các vấn đề về an toàn  
thông tin càng trở nên phức tạp và cấp thiết. Hành vi xâm  
nhập hệ thống có thể được coi là các hành động cố gắng  
làm tổn hại các thuộc tính an toàn của hệ thống, bao gồm  
bí mật, toàn vẹn và sẵn sàng, bằng cách vượt qua các cơ  
chế hay biện pháp đảm bảo an toàn của hệ thống tính toán  
hay mạng. Nói cách khác, người tấn công cố gắng thực  
hiện các hành động để lấy được quyền truy nhập tới đối  
tượng mong muốn của mình và các hành động này xâm  
phạm đến các chính sách an ninh của hệ thống. Để ngăn  
ngừa hiệu quả các hành động trái phép, rõ ràng hệ thống  
cần nhận được sự hỗ trợ từ việc phát hiện và cảnh báo  
chính xác về các hoạt động gây tổn hại đến an toàn thông  
tin của hệ thống.  
Bài toán phân biệt các hành vi truy nhập hay sử dụng  
các tài nguyên của hệ thống là một trong những bài toán  
tiêu biểu của kỹ thuật học máy [12]. Về cơ bản, các kỹ  
thuật học máy giúp xây dựng mô hình cho phép tự động  
phân loại các lớp hành vi sử dụng hệ thống dựa trên các  
đặc trưng của các hành vi này. Có thể kể tên một số kỹ  
thuật tiêu biểu như các kỹ thuật dựa trên cây quyết định  
C4.5 [9], máy véc-tơ tựa SVM [7], mạng nơ-ron [10].  
Trong thời gian gần đây, mô hình học sâu đã có tác động  
sâu rộng đến ứng dụng mô hình học máy, đặc biệt trong  
lĩnh vực như nhận dạng tiếng nói, xử lý ảnh và xử lý ngôn  
ngữ tự nhiên [3, 4]. Đặc trưng nổi bật của mô hình học sâu  
là việc sử dụng khối lượng lớn dữ liệu so với cách tiếp cận  
Việc phát hiện xâm nhập là quá trình xác định và đối  
phó với các hành vi xâm nhập nhằm vào các hệ thống tính  
toán hay mạng. Quá trình này được tiến hành dựa vào hệ  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Điệp  
Đến tòa soạn: 10/2020, chỉnh sửa:11/2020 , chấp nhận đăng: 12/2020  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
61  
N NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN X M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN  
B. Phát hiện xâm nhập mạng dựa trên học sâu  
truyền thống. Các mô hình sử dụng nhiều tham số cho phép  
khai thác các thông tin trong tập dữ liệu khổng lồ một cách  
hiệu quả hơn. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về phát hiện  
xâm nhập sử dụng kỹ thuật học sâu và phân tích các mô  
hình xây dựng dựa trên bộ dữ liệu KDD 99 [13] hay NSL-  
KDD [18] như [1, 5, 8, 11], tuy nhiên, rất ít trong số đó thể  
hiện hiệu quả sức mạnh của các kỹ thuật học sâu. Trong số  
các cách tiếp cận khác nhau trong học sâu, mạng nơ-ron  
tích chập (CNN) thể hiện khả năng vượt trội trong xử lý  
ảnh và nhiều lĩnh vực khác. Đây là một biến thể của mạng  
nơ-ron tiêu chuẩn, trong đó sử dụng các lớp tích chập và  
gộp thay thế cho các lớp ẩn được kết nối đầy đủ của một  
mạng nơ-ron truyền thống. Tuy nhiên, mặc dù mạng CNN  
thường cho thấy độ chính xác cao nhưng lại chưa được  
khai thác nhiều trong các hệ thống IDS. Bài báo này đề  
xuất một mô hình mạng CNN nhằm nâng cao độ chính xác  
và giảm mức độ cảnh báo sai trong các hệ thống phát hiện  
xâm nhập mạng. Ngoài ra, hiệu năng của mô hình CNN đề  
xuất sẽ được so sánh với một số kỹ thuật học máy cơ bản  
khác trên cơ sở bộ dữ liệu NSL-KDD.  
Một mạng nơ-ron đơn giản thường gặp là perceptron,  
thông thường chỉ có ba lớp (1 lớp đầu vào, 1 lớp ẩn, và 1  
lớp đầu ra) phục vụ cho việc khai thác thông tin nhờ vào  
việc huấn luyện lớp ẩn và lớp đầu ra theo dữ liệu huấn luyện  
được cung cấp. Mỗi một nốt thuộc từng lớp trong mạng đều  
có kết nối đầy đủ với các nốt khác thuộc lớp kề với nó.  
Mạng này có thể được làm “sâu” thêm bằng cách bổ sung  
các lớp ẩn làm cho các đặc trưng của tập dữ liệu được biến  
đổi nhiều lần. Mỗi một lần biến đổi tương tự như một bước  
suy diễn mà có thể được biểu diễn một cách đơn giản bằng  
một chuỗi tính toán. Tương tự như các mạng nơ-ron khác,  
mạng nơ-ron perceptron đa lớp (MLP) [3] có khả năng mô  
hình hóa các mối quan hệ phi tuyến phức tạp. Các lớp ẩn  
sâu bên trong mạng có khả năng tổng hợp các đặc trưng từ  
các lớp trước đó, do đó cho phép mạng mô hình hóa được  
dữ liệu phức tạp hơn với số lượng các nút ít hơn các loại  
mạng nơ-ron khác.  
Mạng perceptron nhiều lớp (MLP), mạng nơ-ron hồi quy  
và mạng nơ-ron học sâu tích chập là cách tiếp cận phổ biến  
hiện thời trong các mô hình học sâu. Nguyên nhân chủ yếu  
cho việc dùng mô hình học sâu chính là tính hiệu quả thực  
tế so với các cách tiếp cận khác. Hơn thế, mô hình học sâu  
còn cung cấp các kỹ thuật mới và tiên tiến về mặt lý thuyết  
như các biến thể của các thuật học. Sự thành công của mô  
hình học sâu cần phải kể đến sự phổ biến của tính toán hiệu  
năng cao sử dụng bộ xử lý đồ họa. Khi biểu diễn dưới dạng  
các ma trận véc-tơ, việc tính toán được tăng tốc nhờ phần  
cứng và thư viện đồ họa được tối ưu hóa. Kết quả huấn  
luyện và kiểm chứng mô hình được tiến hành một cách  
nhanh chóng và hiệu quả.  
Phần còn lại của bài báo được trình bày như sau: Phần  
2 trình bày một số nghiên cứu về phát hiện xâm nhập. Phần  
3 mô tả phương pháp phát hiện xâm nhập đề xuất dựa trên  
CNN. Phần 4 đưa ra các kết quả thực nghiệm, đánh giá mô  
hình trên tập dữ liệu NSL-KDD, và so sánh với các phương  
pháp khác. Cuối cùng là phần kết luận.  
II. CÁ C NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Phần này trình bày các nghiên cứu liên quan đến phát  
hiện xâm nhập mạng và phát hiện xâm nhập mạng sử dụng  
mạng nơ-ron học sâu.  
A. Phát hiện xâm nhập mạng sử dụng học máy  
Mô hình học sâu đã được sử dụng cho việc phân biệt và  
phát hiện cách hành vi truy nhập trái phép. Các tác giả của  
nghiên cứu [1] sử dụng mạng nơ-ron hồi quy để tự động  
phân lớp dữ liệu truy nhập, chẳng hạn như các truy vấn http,  
bằng kỹ thuật học hồi quy thời gian thực. Sau đó, việc phân  
loại truy nhập tiếp theo sử dụng kỹ thuật SVM. Việc sử  
dụng kỹ thuật học thời gian thực giúp cho phương pháp đề  
xuất có khả năng áp dụng cho các hệ thống theo dõi thời  
gian thực và có thể mở rộng từng bước.  
IDS thường được phân loại thành hệ thống phát hiện dựa  
trên máy chủ (HIDS) và dựa trên mạng (NIDS). HIDS giám  
sát và phân tích thông tin máy chủ, ví dụ như các lệnh gọi  
hệ thống, tệp hệ thống quan trọng và tệp nhật ký. Trong khi  
đó, NIDS giám sát toàn bộ mạng bằng cách phân tích lưu  
lượng mạng, như lưu lượng truy cập, địa chỉ IP, cổng dịch  
vụ và việc sử dụng giao thức. Với sự phát triển của công  
nghệ mạng cũng như nhiều kiểu tấn công mới khó xác định,  
NIDS đối mặt với thách thức trong việc xử lý một lượng  
lớn dữ liệu, có thể đến từ nhiều nguồn tài nguyên khác nhau  
với môi trường mạng hay thay đổi. Đối với NIDS dựa trên  
phát hiện bất thường, khi hệ thống không được cập nhật  
thường xuyên, một số điểm bất thường có thể bị coi là lưu  
lượng truy cập bất thường. Do đó, với các biến thể trong  
các hành vi mạng, các IDS dựa trên bất thường phải được  
cập nhật liên tục và thích ứng với các môi trường mạng  
thường xuyên thay đổi. Nhiều phương pháp tiếp cận khác  
nhau đã được đề xuất trong IDS, tiêu biểu như các kỹ thuật  
học máy, giúp xây dựng mô hình cho phép tự động phân  
loại các lớp hành vi bất thường [7, 9, 10]. Tuy nhiên, các  
kỹ thuật này vẫn phải đối mặt với một số thách thức như số  
cảnh báo giả cao, độ chính xác phát hiện thấp trước các  
cuộc tấn công không xác định và không đủ khả năng phân  
tích.  
Các nghiên cứu [5, 11] sử dụng kiến trúc bộ nhớ dài-  
ngắn hạn (LSTM) cho mạng nơ-ron hồi quy để xây dựng  
mô hình phát hiện xâm nhập với tập dữ liệu thử nghiệm  
KDD 99 [13]. Các tác giả của [11] mở rộng kiến trúc LSTM  
bằng cách cho phép gán trọng số thích ứng giữa các phần  
tử trong mạng, cho phép các phần tử mạng chống lại trạng  
thái không mong muốn từ các đầu vào. Kết quả thu được  
khá khả quan với mức độ phát hiện đạt trên 90%. Tuy  
nhiên, nghiên cứu [5] chỉ sử dụng một phần của tập dữ liệu  
KDD 99 để làm dữ liệu huấn luyện.  
Nghiên cứu [8] sử dụng kỹ thuật tự học (self-taught  
learning) của kỹ thuật học sâu để tiến hành phân loại xâm  
nhập và thử nghiệm trên tập dữ liệu NSL-KDD [18]. Về  
căn bản, quá trình phân loại trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn  
đầu các đặc trưng sẽ được tự động nhận biết nhờ vào kỹ  
thuật tự động mã hóa (sparse auto-encoder), giai đoạn 2 sử  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
62  
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy  
dụng kết quả của giai đoạn 1 để tiến hành phân loại bằng  
kỹ thuật hồi quy softmax.  
cùng là hai lớp kết nối đầy đủ và một lớp softmax. Lớp kết  
nối đầy đủ thực hiện suy diễn mức cao trong mạng nơ-ron  
bằng cách sử dụng các đặc trưng được trích xuất từ các lớp  
tích chập và lớp pooling để học các kết hợp phi tuyến của  
các đặc trưng. Lớp cuối cùng sofmax được sử dụng để dự  
đoán ra các lớp dựa trên tập huấn luyện. Mô hình CNN này  
sử dụng hai khối gồm các lớp tích chập và pooling. Một lớp  
dropout được sử dụng sau lớp kết nối đầy đủ thứ hai. Lớp  
dropout này có thể giúp giảm được sự quá vừa dữ liệu bằng  
cách tránh huấn luyện các nút trên tất cả dữ liệu huấn luyện,  
nhờ đó mạng nơ-ron học được nhiều đặc trưng tốt hơn [3].  
III. PHƯƠNG PHÁ P ĐỀ XUẤT  
Phần này trình bày đề xuất phương pháp phát hiện xâm  
nhập mạng sử dụng mạng nơ-ron tích chập CNN và tiền xử  
lý dữ liệu.  
A. Phát hiện xâm nhập mạng sử dụng CNN  
CNN là một biến thể của mạng nơ-ron, với mục đích  
chính là tự động học các biểu diễn đặc trưng phù hợp cho  
dữ liệu đầu vào. CNN có hai điểm khác biệt chính so với  
MLP, đó là chia sẻ trọng số và pooling. Mỗi lớp CNN có  
thể bao gồm nhiều nhân tích chập được sử dụng để tạo bản  
đồ đặc trưng (feature map) khác nhau. Mỗi vùng của các  
nơ-ron lân cận được kết nối với một nơ-ron của bản đồ đặc  
trưng của lớp tiếp theo. Hơn nữa, để tạo bản đồ đặc trưng,  
tất cả các vị trí không gian của đầu vào đều chia sẻ nhân.  
Sau một số lớp tích chập và pooling, một hoặc nhiều lớp  
được kết nối đầy đủ được sử dụng để phân loại [20]. Mô  
hình CNN có 2 tính chất quan trọng là tính bất biến  
(Location Invariance) và tính kết hợp (Compositionality).  
Lớp pooling sẽ đảm bảo tính bất biến đối với phép dịch  
chuyển (translation), phép quay (rotation) và phép co giãn  
(scaling). Tính kết hợp cục bộ cho ta các cấp độ biểu diễn  
thông tin từ mức độ thấp đến mức độ cao và trừu tượng hơn  
thông qua convolution từ các bộ lọc. Hai tính chất này cho  
phép CNN tạo ra mô hình với độ chính xác rất cao, do giống  
cách con người nhận biết các vật thể trong tự nhiên.  
Đối với các lớp tích chập, các lớp cao hơn thường sử  
dụng nhiều bộ lọc để xử lý các phần phức tạp hơn của dữ  
liệu đầu vào. Do đó, mô hình đề xuất sử dụng 32 bộ lọc cho  
lớp tích chập số 1 và 64 bộ lọc cho lớp tích chập số 2. Cả  
hai lớp đều sử dụng các tích chập có cùng độ rộng là 5 và  
độ trượt là 1. Các lớp max-pooling trong thử nghiệm cũng  
sử dụng độ rộng là 5. Kích thước của hai lớp được kết nối  
đầy đủ được thiết lập là 500. Và đối với lớp dropout, xác  
suất lựa chọn nút được thiết lập là 0,5.  
Mạng nơ-ron CNN đề xuất được huấn luyện sử dụng các  
mini-batch với mỗi mini-batch có độ lớn là 32 và dữ liệu  
được phân nhóm theo phân bố mẫu dữ liệu từng lớp trong  
tập huấn luyện. Độ chính xác của mạng được tối ưu hóa sử  
dụng bộ tối ưu phổ biến là Adam, được cung cấp trong bộ  
thư viện Keras [14], với tham số learning rate là 0,001.  
B. Tiền xử lý dữ liệu  
Mạng nơ-ron học sâu nhận các giá trị đầu vào là các  
thuộc tính/đặc trưng của mỗi hành vi truy nhập hệ thống,  
các giá trị này bắt buộc là các giá trị kiểu số thực. Tuy  
nhiên, giá trị thuộc tính của các hành vi truy nhập thực tế  
có thể theo giá trị kiểu loại, dưới dạng chữ. Ví dụ như kiểu  
truyền tin đối với mỗi truy nhập có thể là: “tcp” hay “udp”.  
Khi đó, ta cần chuyển các giá trị dạng này sang kiểu số thực.  
Việc này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng véc-tơ  
one-hot thường thấy trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Một  
véc-tơ one-hot là một ma trận 1xN sử dụng để phân biệt  
mỗi từ trong bộ từ vựng với các từ khác. Véc-tơ chứa các  
giá trị 0 tại toàn bộ vị trí trừ một vị trí chứa giá trị 1 để nhằm  
xác định từ đó.  
Hì nh 1. Kiến trúc mô hình CNN đề xuất  
Mô hình CNN được đề xuất (Hình 1) là một chồng có  
nhiều lớp bao gồm: các lớp tích chập, max-pooling,  
dropout, lớp kết nối đầy đủ và softmax. Mỗi lớp tích chập  
bao gồm một tập các bộ lọc độc lập và có khả năng học khi  
phát hiện ra một số loại đặc trưng cụ thể ở một số vị trí  
không gian trong dữ liệu đầu vào. Trong lớp này, các phụ  
thuộc cục bộ về không gian được khai thác bằng cách đảm  
bảo sự ràng buộc trong kết nối nội bộ giữa các nút và các  
lớp liền kề. Mỗi nút chỉ được kết nối với một khu vực nhỏ  
trong khung đầu vào. Hàm ReLU được sử dụng để làm hàm  
kích hoạt cho bộ tích chập vì khả năng hoạt động tốt hơn  
các hàm kích hoạt khác trong hầu hết các tình huống. Để  
giảm kích thước không gian của bản đồ đặc trưng, mô hình  
sử dụng lớp pooling. Lớp pooling này giúp giữ lại các thông  
tin quan trọng nhất và đồng thời giúp làm giảm số lượng  
tham số và tính toán của mạng nơ-ron, do đó kiểm soát  
được vấn đề quá vừa dữ liệu khi huấn luyện. Các lớp cuối  
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ  
Phần này trình bày về tập dữ liệu cho các thử nghiệm  
phát hiện xâm nhập dựa trên phát hiện bất thường, sử dụng  
kỹ thuật mạng CNN đã đề xuất và các bộ phân lớp khác,  
gồm: mạng nơ-ron perceptron đơn giản, máy véc-tơ tựa  
SVM (sử dụng kỹ thuật SVC), cây quyết định (sử dụng  
thuật toán CART), rừng ngẫu nhiên (Random Forest), phân  
loại giảm gradient ngẫu nhiên (SGD) và mạng MLP. Một  
phần nội dung khác trình bày các tham số cấu hình cho các  
thử nghiệm và phần cuối cùng trình bày về kết quả thực  
nghiệm cùng các phân tích đánh giá.  
A. Tập dữ liệu đánh giá  
Nghiên cứu này sử dụng tập dữ liệu NSL-KDD [4] trong  
các thực nghiệm. Đây là tập dữ liệu được tinh chỉnh của tập  
dữ liệu KDD 99 [13], trong đó các bản ghi trùng lặp được  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
63  
N NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN X M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN  
loại bỏ và số lượng các bản ghi đủ lớn với tập huấn luyện  
và kiểm tra. Mỗi bản ghi bao gồm 41 thuộc tính thể hiện  
các đặc trưng khác nhau của luồng thông tin và được gán  
nhãn là tấn công hoặc bình thường. Các thuộc tính có thể  
được chia thành các nhóm liên quan đến kết nối mạng và  
lưu lượng mạng như dưới đây.  
Bảng I. Phân loại các hành vi xâm nhập cơ bản  
LOẠI  
CHI TIẾT CÁC HÀNH VI XÂM NHẬP  
dos  
back, land, neptune, pod, smurf,  
teardrop, mailbomb, processtable,  
udpstorm, apache2, worm  
Các thuộc tính tiêu biểu về kết nối mạng:  
•
•
•
•
duration: thời gian kết nối  
probe  
satan, ipsweep, nmap, portsweep,  
mscan, saint  
protocol_type: kiểu giao thức, ví dụ tcp  
service: dịch vụ mạng sử dụng, ví dụ ftp  
guess_password,  
guess_passwd,  
ftp_write, imap, phf, multihop,  
warezmaster, warezclient, xlock, spy,  
xsnoop, snmpguess, snmpgetattack,  
httptunnel, sendmail, named  
flag: tình trạng kết nối bình thường hay lỗi, ví dụ  
SF  
r2l  
Các thuộc tính tiêu biểu về lưu lượng của trạm:  
•
•
•
dst_host_count: số kết nối có cùng địa chỉ trạm  
đích  
u2r  
buffer_overflow, loadmodule, rootkit,  
perl, sqlattack, xterm, ps  
dst_host_srv_count: số kết nối có cùng địa chỉ  
cổng đích  
Hình 2 dưới đây thể hiện số lượng các bản ghi ứng với  
từng loại hành vi truy nhập đã được phân loại trong toàn bộ  
tập dữ liệu, bao gồm dữ liệu để huấn luyện và dữ liệu kiểm  
tra. Phân chia giữa các hành vi bình thường (normal) và các  
hành vi xâm nhập (trái phép) tương đối cân xứng.  
dst_host_same_srv_rate: tỷ lệ kết nối có cùng dịch  
vụ trong số các kết nối tới trạm đích  
Ngoài các thuộc tính thể hiện thông tin trực tiếp về tình  
trạng kết nối hay lưu lượng, còn có các thuộc tính thể hiện  
thông tin chú giải mức cao như số lần đăng nhập không  
thành công (num_failed_logins), yêu cầu đăng nhập  
(is_host_login) hay thử chuyển chế độ đặc quyền  
(su_attempted).  
Với thuộc tính kiểu hành vi trái phép, các hành vi xâm  
nhập được xếp vào 4 nhóm cơ bản như sau:  
•
•
dos: Nhóm tấn công từ chối dịch vụ  
probe: Giám sát hay thăm dò nhằm thu thập thông  
tin như quét cổng  
•
•
u2r: Truy nhập trái phép tới các tài khoản người  
dùng có đặc quyền  
Hì nh 2. Phân bố của cách hành vi xâm nhập cơ bản  
và hành vi bình thường trên toàn tập dữ liệu  
NSL-KDD  
r2l: Truy nhập trái phép từ máy ở xa, kẻ tấn công  
xâm nhập máy ở xa và lấy quyền truy nhập vào  
máy tính nạn nhân  
Phân bố chi tiết về các dạng tấn công theo từng kiểu tấn  
công cụ thể và số lượng tương ứng trong tập dữ liệu huấn  
luyện và tập dữ liệu kiểm tra được cung cấp trong Bảng 2  
và Bảng 3. Mỗi bảng thể hiện số các trường hợp ứng với  
hành vi xâm nhập cơ bản trong từng tập dữ liệu huấn luyện  
và kiểm tra. Ngoài ra, bảng này cũng cho biết số lượng các  
hành vi xâm nhập trái phép cụ thể được gán nhãn theo hành  
vi xâm nhập cơ bản. Dữ liệu trong các bảng này cho thấy  
có sự khác biệt lớn về số lượng giữa các dạng tấn công.  
Việc phân lớp các dạng hành vi tấn công xâm nhập cơ  
bản theo các hành vi trái phép được mô tả như trong Bảng  
I.  
Về tổng thể, tập huấn luyện chứa gần 126.000 mẫu dữ  
liệu về 22 dạng tấn công/xâm nhập cụ thể. Trong khi đó tập  
kiểm tra chứa hơn 22.500 mẫu dữ liệu nhưng có tới 37 kiểu  
tấn công/xâm nhập. Sự khác biệt về kiểu tấn công giữa hai  
tập dữ liệu là thách thức đối với các mô hình phát hiện, đặc  
biệt là với các kiểu tấn công chưa được biết. Ngoài ra, sự  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
64  
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy  
Bảng III. Dạng tấn công probe và dos theo hành vi trá i  
mất cân bằng giữa các dạng tấn công cũng là vấn đề khó  
khăn cho các kỹ thuật phân loại.  
phép trên hai tập dữ liệu.  
Bảng II. Dạng tấn công u2r và r2l theo hành vi trá i phé p  
probe  
trên hai tập dữ liệu.  
Huấn luyện 11656 Kiểm tra  
2421  
141  
73  
Ipsweep  
Nmap  
3599  
1493  
ipsweep  
nmap  
u2r  
Huấn luyện  
52  
Kiểm tra  
67  
20  
2
Portsweep  
Satan  
2931 portsweep  
157  
735  
319  
996  
buffer_overflow 30 buffer_overflow  
3633  
satan  
saint  
loadmodule  
Perl  
9
3
loadmodule  
perl  
2
mscan  
rootkit  
10  
rootkit  
ps  
13  
15  
2
dos  
Huấn luyện 45927  
Kiểm tra  
Back  
7460  
359  
7
sqlattack  
xterm  
Back  
land  
956  
18  
13  
Land  
r2l  
neptune  
pod  
41214  
201  
Neptune  
Pod  
4657  
41  
Huấn luyện  
ftp_write  
guess_passwd  
imap  
995  
8
Kiểm tra  
2885  
3
ftp_write  
smurf  
teardrop  
2646  
892  
smurf  
665  
12  
53  
11  
7
guess_passwd  
imap  
1231  
1
teardrop  
processtable  
apache2  
685  
737  
293  
2
multihop  
phf  
multihop  
phf  
18  
4
2
mailbomb  
udpstorm  
worm  
spy  
2
named  
17  
warezclient  
warezmaster  
890  
20  
warezmaster  
sendmail  
snmpgetattack  
snmpguess  
httptunnel  
xlock  
944  
14  
2
푇푃  
178  
331  
133  
9
푃푟푒푐푖푠푖표푛 =  
푅푒푐푎푙푙 =  
푇푃 + 퐹푃  
푇푃  
푇푃 + 퐹푁  
và  
xsnoop  
4
2 × 푃푟푒푐푖푠푖표푛 × 푅푒푐푎푙푙  
푃푟푒푐푖푠푖표푛 + 푅푒푐푎푙푙  
퐹 =  
1
B. Các thiết lập thử nghiệm  
1) Độ đo đánh giá và các tham số của bộ phân lớp  
với TP (true positives) là tỉ lệ đo xác định số lần hệ thống  
phân loại vào đúng nhãn lớp và số lần thực tế nhãn lớp đó  
xuất hiện, FP (false positives) là tỉ lệ số lần hệ thống phân  
loại vào đúng nhãn lớp và số lần thực tế nhãn lớp đó không  
xuất hiện, FN (false negatives) là tỉ lệ số lần hệ thống phân  
loại vào nhãn lớp khác và số lần thực tế nhãn lớp đó xuất  
hiện.  
Để đánh giá độ hiệu năng, phương pháp kiểm tra chéo  
10 lần được áp dụng trong các thử nghiệm. Theo phương  
pháp này, dữ liệu được chia thành 10 phần, 9 phần được  
sử dụng để huấn luyện các mô hình học và phần còn lại  
được sử dụng để đánh giá. Quá trình được lặp lại cho tới  
khi tất cả các phần đều được đánh giá và khi đó các kết quả  
sẽ được lấy theo giá trị trung bình.  
Độ chính xác tổng thể là một độ đo đơn giản thường  
được sử dụng trong các đánh giá phân loại, được tính bằng  
tỉ lệ giữa số phần tử được phân loại chính xác trên tổng số  
các phần tử. Tuy nhiên, để đánh giá hiệu năng một hệ  
thống phân loại xâm nhập với dữ liệu đầu vào không cân  
bằng giữa các lớp thì độ chính xác tổng thể không phải là  
một độ đo thực sự hiệu quả do ảnh hưởng của các lớp tới  
kết quả phân loại là không cân bằng [15,16]. Trong trường  
hợp này, độ đo đánh giá các mô hình phân loại được sử  
dụng trong các thử nghiệm là độ chính xác (precision), độ  
nhạy (recall), và F1 (trung bình điều hòa). Độ chính xác có  
thể xác định được số các dự đoán cho một nhãn lớp là dự  
đoán đúng thực sự, còn độ nhạy giúp xác định số nhãn lớp  
trong thực tế đã được dự đoán đúng. F1 là trung bình điều  
hòa của độ chính xác và độ nhạy. F1 giúp so sánh hiệu  
năng các mô hình phân lớp được dễ dàng theo tỉ lệ trung  
bình.  
Mạng CNN đề xuất và mạng nơ-ron nhiều lớp sử dụng  
trong thử nghiệm được xây dựng và huấn luyện sử dụng  
bộ thư viện Keras [14], với các tham số đã mô tả trong  
phần 3. Mạng MLP sử dụng 4 lớp ẩn, số lượng nơ-ron trên  
các lớp đều là 60 phần tử. Hàm kích hoạt sử dụng cho lớp  
Các độ đo này được xác định theo công thức như sau:  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
65  
N NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN X M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN  
ẩn là ReLU, và cho lớp đầu ra là hàm softmax. Bộ tối ưu  
sử dụng cho mạng là Adam, với tham số learning rate cũng  
là 0,001.  
C. Kết quả thực nghiệm đối với các bộ phân lớp  
Từ quan sát và tiến hành thử nghiệm, ta được các kết  
quả với thứ tự được trình bày trong các bảng và hình dưới  
đây lần lượt là: mô hình mạng CNN đề xuất, mạng MLP,  
cây quyết định CART và rừng ngẫu nhiên (Random  
Forest), máy véc-tơ tựa SVM và bộ phân lớp giảm gradient  
ngẫu nhiên SGD.  
Ngoài ra, do các dữ liệu huấn luyện cho mô hình phát  
hiện xâm nhập mất cân bằng, để tăng độ chính xác, nghiên  
cứu này sử dụng các tham số để quy định trọng số cho các  
lớp trong các bộ phân lớp, tức là gán một giá trị phạt cho  
các lớp có số mẫu lớn hơn nhiều các lớp khác một cách  
hợp lý, giúp bộ phân lớp hoạt động hiệu quả hơn. Việc gán  
giá trị phạt cho mạng nơ-ron học sâu được thực hiện với  
tham số class_weight có trong các bộ thư viện Keras [14].  
Bảng IV. Hiệu năng của các bộ phân lớp đo theo F1.  
GIÁ TRỊ F1 TRUNG BÌNH  
BỘ PHÂN LỚP  
THEO CÁC LỚP (%)  
CNN đề xuất  
MLP  
98,4  
96,2  
95,6  
91,8  
86,6  
81,2  
2) Cấu hình các bộ phân lớp khác  
Để so sánh hiệu năng của mạng CNN đề xuất, nghiên  
cứu này triển khai các mô hình phân loại áp dụng các kỹ  
thuật: mạng nơ-ron sâu đa lớp, máy véc tơ tựa SVM  
(Support Vector Machine), cây quyết định, rừng ngẫu  
nhiên (Random Forest) và kỹ thuật phân loại giảm gradient  
ngẫu nhiên SGD (Stochastic Gradient Descent). Các kỹ  
thuật dựa trên cây quyết định hay rừng ngẫu nhiên là các  
kỹ thuật cơ bản và truyền thống của học máy. Tuy nhiên,  
hiệu năng của các kỹ thuật mới, nhất là SVM, khiến cho  
việc sử dụng tham chiếu hiệu năng SVM được nhiều người  
nghiên cứu quan tâm và thử nghiệm cho bài toán phân loại.  
Khi xét về việc biểu diễn kết quả thì cây quyết định hay  
rừng ngẫu nhiên dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn đặc biệt với  
người dùng thông thường. Các tham số của các bộ phân  
lớp trên được xây dựng và huấn luyện tinh chỉnh tối ưu sử  
dụng hàm grid_search trong bộ thư viện Scikit-learn [17].  
Chú ý rằng, mục tiêu của việc xây dựng mô hình phát  
hiện hành vi xâm nhập thường là tiến hành phân loại các  
hành vi của người dùng thành các nhóm bình thường  
(normal) và bất thường. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp,  
các hành vi trong nhóm bất thường này cần được nhận biết  
chi tiết theo các hành vi tấn công/xâm nhập dos, probe, u2r  
và r2l (như phân loại trong tập dữ liệu NSL-KDD [18]).  
Nói cách khác, mô hình phát hiện đề xuất cần phân biệt chi  
tiết kiểu hành vi bất thường của người dùng chứ không chỉ  
dừng ở việc phân loại hành vi bình thường hay không. Như  
phân tích trong phần 4.1 về tập dữ liệu thử nghiệm, tập dữ  
liệu NSL-KDD [18] thể hiện hành vi thông thường và tấn  
công (bất thường) trên cả hai tập dữ liệu huấn luyện và  
kiểm thử tương đối cân bằng xét về số lượng bản ghi. Tuy  
nhiên, xem xét chi tiết các hành vi xâm nhập cơ bản (dos,  
probe, r2l, u2r) cho thấy dữ liệu về các dạng tấn công mất  
cân bằng nghiêm trọng, thể hiện ở số lượng các hành vi tấn  
công và các biểu hiện của các dạng tấn công.  
Random Forest  
CART  
SVM  
SGD  
Bảng IV cho phép đánh giá trực tiếp các mô hình quan  
tâm bằng cách kết hợp cả hai yếu tố độ chính xác và độ  
nhạy nhờ vào độ đo F1 trung bình. Theo trình bày trong  
bảng, hiệu năng của các bộ phân lớp CNN đề xuất, MLP,  
Random Forest và CART là cao nhất với giá trị F1 đều lớn  
hơn 91%. Trong đó mạng CNN đề xuất có giá trị F1 cao  
nhất với 98,4%, theo sau là mạng MLP là 96,2%, bộ phân  
lớp Random Forest là 95,6% và cây quyết định CART là  
91,8%. Các bộ phân lớp còn lại có giá trị F1 nhỏ hơn hẳn,  
và kém nhất là SGD với F1 chỉ đạt 81,2%. Kết quả này cho  
thấy, việc sử dụng số lượng các lớp ẩn phù hợp, mạng nơ-  
ron học sâu có khả năng học được nhiều đặc trưng hữu ích  
trong việc phát hiện chính xác các hành vi xâm nhập vào  
hệ thống thông tin.  
Đặc biệt, mạng CNN đề xuất có khả năng học nhiều đặc  
trưng tốt hơn, học mô hình phân loại chính xác hơn hẳn  
nhờ các đặc tính ưu việt so với các mạng nơ-ron thông  
thường khác. Đó là các tính chất về tính bất biến và tính  
kết hợp cục bộ, giúp cải thiện hiệu suất nhận dạng bất  
thường. Tính cục bộ trong các lớp tích chập bảo vệ mô  
hình khỏi sự ảnh hưởng của nhiễu đối với dữ liệu. Nhờ đó,  
các đặc trưng được trích xuất trong các lớp tích chập có  
khả năng chống nhiễu cao. Vì các đặc trưng mức thấp được  
trích xuất từ dữ liệu bất thường và bất thường có thể tương  
tự nhau, do đó các phương pháp học máy truyền thống khó  
phân loại được một cách chính xác. Tuy nhiên, CNN có  
thể xử lý những điểm tương đồng này bằng cách tạo ra các  
đặc trưng mức cao và phân biệt nhau, kết hợp từ các đặc  
trưng mức thấp đã có. Các lớp pooling gộp các giá trị đặc  
trưng tương tự từ các vị trí khác nhau lại với nhau và gán  
bằng một giá trị. Lớp pooling có thể kiểm soát việc phát  
hiện sự bất thường với phân bố khác nhau.  
Như phân tích về tập dữ liệu thử nghiệm NSL-KDD  
[18], số lượng mẫu hành vi thông thường và bất thường  
trên cả hai tập dữ liệu huấn luyện và kiểm thử tương đối  
mất cân bằng. Tuy nhiên, xem xét chi tiết các hành vi xâm  
nhập cơ bản (dos, probe, r2l, u2r) cho thấy dữ liệu về các  
dạng tấn công mất cân bằng nghiêm trọng, thể hiện ở số  
lượng các hành vi tấn công và các biểu hiện của các dạng  
tấn công. Để giải quyết vấn đề này, kỹ thuật phạt với các  
giá trị class_weight được áp dụng khi huấn luyện các mô  
hình phân lớp. Đối với các tham số khác để xây dựng và  
huấn luyện các bộ phân lớp, các giá trị mặc định được sử  
dụng đối với bộ thư viện Scikit-learn [17].  
Kết quả trong bảng IV chỉ mô tả đánh giá tổng quan  
hiệu năng chung của các bộ phân lớp. Để xem xét cặn kẽ  
hơn khả năng phát hiện xâm nhập của từng bộ phân lớp,  
dưới đây sẽ trình bày phân tích chi tiết các giá trị về độ  
chính xác, độ nhạy và F1 đối với từng loại hành vi.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
66  
Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Thanh Thủy  
Random Forest. Hiệu năng tách biệt rõ rệt khi xác định  
hành vi tấn công r2l và u2r. Kết quả của kỹ thuật nơ-ron  
truyền thống và SVM chỉ xoay quanh giá trị 60%.  
Hì nh 3. Độ chính xác của các mô hình phân lớp  
Như trong Hình 3, khi phân biệt hành vi truy nhập thông  
thường của người dùng thì tất cả các kỹ thuật phân loại đều  
có hiệu năng tốt với tỷ lệ chênh lệch nhau khoảng 2% dao  
động từ (98% đến 100%). Cụ thể, các kỹ thuật truyền  
thống (không tính SGD) tốt hơn các kỹ thuật khác ngoại  
trừ MLP. Kết quả này một phần do số lượng dữ liệu về  
hành vi bình thường của người dùng chiếm phần lớn trong  
tập dữ liệu sử dụng. Mạng CNN vẫn cho độ chính xác  
thuộc nhóm đứng đầu trong từng loại tấn công.  
Hì nh 5. Giá trị F1 của các mô hình  
Hình 5 cho phép đánh giá tổng thể các mô hình quan  
tâm theo độ đo F1. Mô hình CNN cho kết quả tốt nhất, sau  
đó là MLP cho kết quả tốt ngang bằng với mô hình sử dụng  
rừng ngẫu nhiên và cây quyết định khi xác định hành vi  
bình thường của người dùng. Các mô hình còn lại đứng  
sau với độ chênh lệch khoảng 2%. Khi xác định các hành  
vi truy nhập bất thường, mô hình CNN vẫn đạt kết quả tốt  
nhất, tuy nhiên mô hình dựa trên mạng học sâu là MLP  
kém hơn mô hình Random Forest một chút nhưng tốt hơn  
các kỹ thuật mạng nơ-ron truyền thống và SVM, vượt trội  
các mô hình khác khi xác định hành vi u2r.  
Các kết quả của mạng CNN và MLP thử nghiệm trong  
nghiên cứu này không so sánh trực tiếp được với các  
nghiên cứu sử dụng mạng nơ-ron hồi quy một phần do sự  
khác biệt về cách đánh giá và chỉ số hiệu năng được công  
bố. Chỉ có nghiên cứu [11] cung cấp kết quả phân loại chi  
tiết về từng hành vi xâm nhập. Dù vậy, các kết quả của  
nghiên cứu này cung cấp thêm góc độ khác về hiệu năng  
của mạng nơ-ron học sâu cho bài toán phân loại hành vi  
người dùng hay phát hiện xâm nhập.  
V. KẾT LUẬN  
Hì nh 4. Độ nhạy (Recall) của các mô hình phân lớp  
Bài báo này nghiên cứu việc sử dụng mạng CNN cho  
việc phát hiện hành vi xâm nhập mạng trái phép để đảm  
bảo an toàn cho hệ thống thông tin. Ngoài ra, hiệu năng của  
mô hình mạng CNN đề xuất được kiểm nghiệm với các mô  
hình sử dụng các kỹ thuật tiêu biểu khác bao gồm rừng ngẫu  
nhiên, cây quyết định, giảm gradient ngẫu nhiên, máy véc-  
tơ tựa SVM, và mạng MLP bằng tập dữ liệu NSL-KDD.  
Do đặc trưng của tập dữ liệu NSL-KDD, bài báo sử dụng  
phương pháp đánh giá kiểm tra chéo 10 lần trên toàn bộ tập  
dữ liệu nhằm đánh giá hiệu năng thuần túy của các kỹ thuật  
phân loại hành vi truy nhập. Kết quả cho thấy hiệu năng  
của kỹ thuật CNN thể hiện sự vượt trội so với các mô hình  
còn lại. Khi xác định chi tiết các hành vi xâm nhập, mô hình  
dựa trên CNN cũng vượt trội các kỹ thuật khác. Kết quả  
này đạt được là do các đặc tính ưu việt trong quá trình học  
đặc trưng của CNN, giúp mô hình có thể học được các đặc  
trưng tốt nhất để phân loại các tấn công.  
Vấn đề về hiệu năng xuất hiện khi xem xét kết quả phân  
loại các hành vi xâm nhập từ các thao tác truy nhập của  
người dùng. Các kỹ thuật truyền thống có độ chính xác rất  
cao nhất với các hành vi tấn công dos và probe (gần như  
100%). Mạng CNN và MLP có kết quả rất sát (99%) với  
bộ phân loại Random Forest và ngang bằng với bộ phân  
loại cây quyết định CART. Các kỹ thuật phân loại còn lại  
dao động trong khoảng từ 93% đến 95%.  
Điểm đáng chú ý nhất là độ chính xác khi phân loại hành  
vi tấn công u2r. Hành vi này chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong  
toàn bộ tập dữ liệu với gần 120 trường hợp. Mạng CNN và  
MLP cho kết quả tốt nhất là 100% tương tự mô hình SVM  
và SGD. Bộ phân loại Random Forest và cây quyết định  
cũng có hiệu năng tương đối kém với độ chính xác lần lượt  
là 83% và 67%.  
Hình 4 thể hiện độ nhạy của 6 mô hình được khảo sát.  
Mô hình sử dụng CNN là tốt nhất, sau đó là MLP cũng  
nằm trong nhóm đứng đầu như các mô hình CART và  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
67  
N NG CAO KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN X M NHẬP MẠNG SỬ DỤNG MẠNG CNN  
variables in artificial neural network models. Ecol. Model.  
LỜI CẢM ƠN  
160, 249–264.  
Nghiên cứu sinh được hỗ trợ bởi chương trình học bổng  
đào tạo tiến sĩ trong nước của Quỹ Đổi mới sáng tạo  
Vingroup, mã số VINIF.2020.TS.94.  
[20] Sainath, T. N., Mohamed, A. R., Kingsbury, B., &  
Ramabhadran, B. (2013, May). Deep convolutional neural  
networks for LVCSR. In 2013 IEEE international  
conference on acoustics, speech and signal processing (pp.  
8614-8618). IEEE.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Anyanwu, L.O., Keengwe, J. and Arome, G.A., 2010, April.  
Scalable intrusion detection with recurrent neural networks.  
In Information Technology: New Generations (ITNG),  
2010 Seventh International Conference on (pp. 919-923).  
IEEE.  
[2] Gao, N., Gao, L., Gao, Q. and Wang, H., 2014, November.  
An intrusion detection model based on deep belief  
networks. In Advanced Cloud and Big Data (CBD), 2014  
Second International Conference on (pp. 247-252). IEEE.  
ENHANCED NETWORK INTRUSION  
DETECTION USING CNN  
Abstract: Network intrusion detection (NIDS) is a very  
attractive topic for both system administrators and security  
researchers. The problem of intrusion detection can be  
tackled by machine learning models, based on statistical  
algorithms or artificial neural networks, to identify  
abnormal behaviours from those of users accessing  
systems. However, security attacks tend to be  
unpredictable today. It is very difficult to build a flexible  
and effective NIDS with low false alarms and high  
detection accuracy against unknown attacks. This paper  
introduces a deep learning model based on Convolutional  
Neural Network (CNN) to detect intrusions and compare  
its performance with other machine learning techniques on  
NSL-KDD dataset. The experimental results of a 98.4% at  
F1 score show that the proposed CNN-based intrusion  
detection model could be a potential model for IDS  
systems.  
[3] Na, Seung-Hoon. "Advanced Deep Learning." (2020).  
[4] Berman, Daniel S., et al. "A survey of deep learning  
methods for cyber security." Information 10.4 (2019): 122.  
[5] Kim, J., Kim, J., Thu, H.L.T. and Kim, H., 2016, February.  
Long Short Term Memory Recurrent Neural Network  
Classifier for Intrusion Detection. In Platform Technology  
and Service (PlatCon), 2016 International Conference on  
(pp. 1-5). IEEE.  
[6] Liao, H.J., Lin, C.H.R., Lin, Y.C. and Tung, K.Y., 2013.  
Intrusion detection system: A comprehensive review.  
Journal of Network and Computer Applications, 36(1),  
pp.16-24.  
[7] Lippmann, Richard. "An introduction to computing with  
neural nets." IEEE Assp magazine 4.2 (1987): 4-22.  
[8] Niyaz, Q., Sun, W., Javaid, A.Y. and Alam, M., 2015. A  
deep learning approach for network intrusion detection  
system. In Proceedings of the 9th EAI International  
Keywords: network intrusion detection, NSL-KDD,  
deep learning, CNN.  
Conference  
on  
Bio-inspired  
Information  
and  
Communications Technologies (Formerly BIONETICS),  
BICT-15 (Vol. 15, pp. 21-26).  
[9] Salzberg, Steven L. C4. 5: Programs for machine learning  
by J. Ross Quinlan. Morgan Kaufmann Publishers, Inc.,  
1993. Machine Learning 16.3 (1994): 235-240.  
[10] Schölkopf, B., and Smola A. J.. Learning with Kernels:  
Support Vector Machines, Regularization, Optimization,  
and Beyond. Cambridge, MA: MIT Press, 2002.  
[11] Staudemeyer, R.C., 2015. Applying long short-term  
memory recurrent neural networks to intrusion detection. 10  
African Computer Journal, 56(1), pp.136-154.  
Nguyễn Ngọc Điệp. Nhận học  
vị Tiến sĩ năm 2017. Hiện đang  
công tác tại Khoa Công nghệ  
Thông tin 1 và Lab Học máy và ứng  
dụng, Học viện Công nghệ Bưu  
chính Viễn thông. Lĩnh vực nghiên  
cứu: học máy, an toàn thông tin, xử  
lý ngôn ngữ tự nhiên.  
[12] Tsai, C.F., Hsu, Y.F., Lin, C.Y. and Lin, W.Y., 2009.  
Intrusion detection by machine learning: A review. Expert  
Systems with Applications, 36(10), pp.11994-12000.  
[13] S. Hettich, S.D. Bay, The UCI KDD Archive. Irvine, CA:  
University of California, Department of Information and  
[14] Joshi, Deepa, Shahina Anwarul, and Vidyanand Mishra.  
"Deep Leaning Using Keras." Machine Learning and Deep  
Learning in Real-Time Applications. IGI Global, 2020. 33-  
60.  
Nguyễn Thị Thanh Thủy. Nhận  
học vị Thạc sĩ năm 2009 tại Hàn  
Quốc. Hiện đang công tác tại Khoa  
Công nghệ Thông tin 1 và Lab Học  
máy và ứng dụng, Học viện Cô ng  
nghệ Bưu chính Viễn thông. Lĩnh vực  
nghiên cứu: học máy, xử lý ngôn ngữ  
tự nhiên.  
[15] Tang, Y., Zhang, Y.-Q., Chawla, N. V, Krasser, S. (2009),  
SVMs modeling for highly imbalanced classification, IEEE  
Transactions on Systems, Man, and Cybernetics, Part B  
(Cybernetics), IEEE. 39(1), p. 281–8.  
[16] Veropoulos, K., Campbell, C., Cristianini, N., others.  
(1999), Controlling the sensitivity of support vector  
machines, Proceedings of the International Joint Conference  
on AI, p. 55–60.  
[17] Géron, Aurélien. Hands-on machine learning with Scikit-  
Learn, Keras, and TensorFlow: Concepts, tools, and  
techniques to build intelligent systems. O'Reilly Media,  
2019.  
ca/NSL-KDD (2012).  
[19] Gevrey, M., Dimopoulos, I., Lek, S., 2003. Review and  
comparison of methods to study the contribution of  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
68  
pdf 8 trang Thùy Anh 17620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao khả năng phát hiện xâm nhập mạng sử dụng mạng CNN", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_kha_nang_phat_hien_xam_nhap_mang_su_dung_mang_cnn.pdf