Giáo trình Thiết kế, xây dựng mạng Lan (Phần 1)

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ ĐIỆN HÀ NỘI  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
GIÁO TRÌNH  
Thiết kế, xây dựng mạng Lan  
(Lưu hành nội bộ)  
Năm 2018  
MỤC LỤC  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập: ...............................................Error! Bookmark not defined.  
Câu hỏi ôn tập : ..............................................Error! Bookmark not defined.  
BÀI 1 : TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ VÀ CÀI ĐẶT MẠNG  
1.1. Tiến trình xây dựng mạng  
Tiến trình xây dựng mạng cũng trải qua các giai đoạn như việc xây dựng và  
phát triển một phần mềm. Nó cũng gồm các giai đoạn như: Thu thập yêu cầu của khách  
hàng (công ty, xí nghiệp có yêu cầu xây dựng mạng), phân tích yêu cầu, thiết kế giải  
pháp mạng, cài đặt mạng, kiểm thử và cuối cùng là bảo trì mạng.  
Phần này sẽ giới thiệu sơ lược về nhiệm vụ của từng giai đoạn để ta có thể  
hình dung được tất cả các vấn đề có liên quan trong tiến trình xây dựng mạng.  
1.1.1. Thu thập yêu cầu của khách hàng  
Mục đích của giai đoạn này là nhằm xác định mong muốn của khách hàng trên  
mạng mà chúng ta sắp xây dựng. Những câu hỏi cần được trả lời trong giai đoạn này là:  
Chúng ta thiết lập mạng để làm gì? sử dụng nó cho mục đích gì?  
Các máy tính nào sẽ được nối mạng?  
Những người nào sẽ được sử dụng mạng, mức độ khai thác sử dụng mạng của  
từng người / nhóm người ra sao?  
Trong vòng 3-5 năm tới chúng ta có nối thêm máy tính vào mạng không, nếu  
có ở đâu, số lượng bao nhiêu ?  
Phương pháp thực hiện của giai đoạn này là chúng ta phải phỏng vấn khách  
hàng, nhân viên các phòng mạng có máy tính sẽ nối mạng. Thông thường các đối tượng  
mà chúng ta phỏng vấn không có chuyên môn sâu hoặc không có chuyên môn về  
mạng. Cho nên chúng ta nên tránh sử dụng những thuật ngữ chuyên môn để trao đổi  
với họ. Chẳng hạn nên hỏi khách hàng “ chúng ta có muốn người trong cơ quan chúng  
ta gởi mail được cho nhau không?”, hơn là hỏi “ chúng ta có muốn cài đặt Mail server  
cho mạng không? ”. Những câu trả lời của khách hàng thường không có cấu trúc, rất  
lộn xộn, nó xuất phát từ góc nhìn của người sử dụng, không phải là góc nhìn của kỹ  
sư mạng. Người thực hiện phỏng vấn phải có kỹ năng và kinh nghiệm trong lĩnh vực  
này. Phải biết cách đặt câu hỏi và tổng hợp thông tin.  
Một công việc cũng hết sức quan trọng trong giai đoạn này là “Quan sát thực  
địa” để xác định những nơi mạng sẽ đi qua, khoảng cách xa nhất giữa hai máy tính trong  
mạng, dự kiến đường đi của dây mạng, quan sát hiện trạng công trình kiến trúc nơi  
mạng sẽ đi qua. Thực địa đóng vai trò quan trọng trong việc chọn công nghệ và ảnh  
hưởng lớn đến chi phí mạng. Chú ý đến ràng buộc về mặt thẩm mỹ cho các công trình  
kiến trúc khi chúng ta triển khai đường dây mạng bên trong nó. Giải pháp để nối kết  
mạng cho 2 tòa nhà tách rời nhau bằng một khoảng không phải đặc biệt lưu ý. Sau khi  
khảo sát thực địa, cần vẽ lại thực địa hoặc yêu cầu khách hàng cung cấp cho chúng ta  
sơ đồ thiết kế của công trình kiến trúc mà mạng đi qua.  
Trong quá trình phỏng vấn và khảo sát thực địa, đồng thời ta cũng cần tìm hiểu  
yêu cầu trao đổi thông tin giữa các phòng ban, bộ phận trong cơ quan khách hàng,  
mức độ thường xuyên và lượng thông tin trao đổi. Điều này giúp ích ta trong việc chọn  
băng thông cần thiết cho các nhánh mạng sau này.  
1.1.2. Phân tích yêu cầu  
Khi đã có được yêu cầu của khách hàng, bước kế tiếp là ta đi phân tích yêu cầu  
để xây dựng bảng “Đặc tả yêu cầu hệ thống mạng”, trong đó xác định rõ những vấn đề  
sau:  
Những dịch vụ mạng nào cần phải có trên mạng ? (Dịch vụ chia sẻ tập tin, chia  
sẻ máy in, Dịch vụ web, Dịch vụ thư điện tử, Truy cập Internet hay không?, ...)  
Mô hình mạng là gì? (Workgroup hay Client / Server? ...)  
Mức độ yêu cầu an toàn mạng.  
Ràng buộc về băng thông tối thiểu trên mạng.  
1.1.3. Thiết kế giải pháp  
Bước kế tiếp trong tiến trình xây dựng mạng là thiết kế giải pháp để thỏa mãn  
những yêu cầu đặt ra trong bảng Đặc tả yêu cầu hệ thống mạng. Việc chọn lựa giải  
pháp cho một hệ thống mạng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể liệt kê như sau:  
Kinh phí dành cho hệ thống mạng.  
Công nghệ phổ biến trên thị trường.  
Thói quen về công nghệ của khách hàng.  
Yêu cầu về tính ổn định và băng thông của hệ thống mạng.  
Ràng buộc về pháp lý.  
Tùy thuộc vào mỗi khách hàng cụ thể mà thứ tự ưu tiên, sự chi phối của các yếu  
tố sẽ khác nhau dẫn đến giải pháp thiết kế sẽ khác nhau. Tuy nhiên các công việc  
mà giai đoạn thiết kế phải làm thì giống nhau. Chúng được mô tả như sau:  
1.1.3.1. Thiết kế sơ đồ mạng ở mức luận lý  
Thiết kế sơ đồ mạng ở mức luận lý liên quan đến việc chọn lựa mô hình mạng,  
giao thức mạng và thiết đặt các cấu hình cho các thành phần nhận dạng mạng.  
Mô hình mạng được chọn phải hỗ trợ được tất cả các dịch vụ đã được mô tả  
trong bảng Đặc tả yêu cầu hệ thống mạng. Mô hình mạng có thể chọn là Workgroup hay  
Domain (Client / Server) đi kèm với giao thức TCP/IP, NETBEUI hay IPX/SPX.  
Ví dụ:  
Một hệ thống mạng chỉ cần có dịch vụ chia sẻ máy in và thư mục giữa những  
người dùng trong mạng cục bộ và không đặt nặng vấn đề an toàn mạng thì ta có  
thể chọn Mô hình Workgroup.  
Một hệ thống mạng chỉ cần có dịch vụ chia sẻ máy in và thư mục giữa những  
người dùng trong mạng cục bộ nhưng có yêu cầu quản lý người dùng trên  
mạng thì phải chọn Mô hình Domain.  
Nếu hai mạng trên cần có dịch vụ mail hoặc kích thước mạng được mở rộng, số  
lượng máy tính trong mạng lớn thì cần lưu ý thêm về giao thức sử dụng cho  
mạng phải là TCP/IP. Mỗi mô hình mạng có yêu cầu thiết đặt cấu hình riêng.  
Những vấn đề chung nhất khi thiết đặt cấu hình cho mô hình mạng là:  
o Định vị các thành phần nhận dạng mạng, bao gồm việc đặt tên cho Domain,  
Workgroup, máy tính, định địa chỉ IP cho các máy, định cổng cho từng  
dịch vụ.  
o Phân chia mạng con, thực hiện vạch đường đi cho thông tin trên mạng.  
1.1.3.2. Xây dựng chiến lược khai thác và quản lý tài nguyên mạng  
Chiến lược này nhằm xác định ai được quyền làm gì trên hệ thống mạng.  
Thông thường, người dùng trong mạng được nhóm lại thành từng nhóm và việc phân  
quyền được thực hiện trên các nhóm người dùng.  
1.1.3.3. Thiết kế sơ đồ mạng ở vật lý  
Căn cứ vào sơ đồ thiết kế mạng ở mức luận lý, kết hợp với kết quả khảo sát thực  
địa bước kế tiếp ta tiến hành thiết kế mạng ở mức vật lý. Sơ đồ mạng ở mức vật lý mô  
tả chi tiết về vị trí đi dây mạng ở thực địa, vị trí của các thiết bị nối kết mạng như Hub,  
Switch, Router, vị trí các máy chủ và các máy trạm. Từ đó đưa ra được một bảng dự trù  
các thiết bị mạng cần mua. Trong đó mỗi thiết bị cần nêu rõ: Tên thiết bị, thông số  
kỹ thuật, đơn vị tính, đơn giá,…  
1.1.3.4. Chọn hệ điều hành mạng và các phần mềm ứng dụng  
Một mô hình mạng có thể được cài đặt dưới nhiều hệ điều hành khác nhau.  
Chẳng hạn với mô hình Domain, ta có nhiều lựa chọn như: Windows NT, Windows  
2000, Netware, Unix, Linux,... Tương tự, các giao thức thông dụng như TCP/IP,  
NETBEUI, IPX/SPX cũng được hỗ trợ trong hầu hết các hệ điều hành. Chính vì thế ta  
có một phạm vi chọn lựa rất lớn. Quyết định chọn lựa hệ điều hành mạng thông thường  
dựa vào các yếu tố như:  
Giá thành phần mềm của giải pháp.  
Sự quen thuộc của khách hàng đối với phần mềm.  
Sự quen thuộc của người xây dựng mạng đối với phần mềm.  
Hệ điều hành là nền tảng để cho các phần mềm sau đó vận hành trên nó. Giá  
thành phần mềm của giải pháp không phải chỉ có giá thành của hệ điều hành được  
chọn mà nó còn bao gồm cả giá thành của các phầm mềm ứng dụng chạy trên nó.  
Hiện nay có 2 xu hướng chọn lựa hệ điều hành mạng: các hệ điều hành mạng của  
Microsoft Windows hoặc các phiên bản của Linux.  
Sau khi đã chọn hệ điều hành mạng, bước kế tiếp là tiến hành chọn các phần  
mềm ứng dụng cho từng dịch vụ. Các phần mềm này phải tương thích với hệ điều hành  
đã chọn.  
1.1.4. Cài đặt mạng  
Khi bản thiết kế đã được thẩm định, bước kế tiếp là tiến hành lắp đặt phần cứng  
và cài đặt phần mềm mạng theo thiết kế.  
1.1.4.1. Lắp đặt phần cứng  
Cài đặt phần cứng liên quan đến việc đi dây mạng và lắp đặt các thiết bị nối  
kết mạng (Hub, Switch, Router) vào đúng vị trí như trong thiết kế mạng ở mức vật lý  
đã mô tả.  
1.1.4.2. Cài đặt và cấu hình phần mềm  
Tiến trình cài đặt phần mềm bao gồm:  
Cài đặt hệ điều hành mạng cho các server, các máy trạm  
Cài đặt và cấu hình các dịch vụ mạng.  
Tạo người dùng, phân quyền sử dụng mạng cho người dùng.  
Tiến trình cài đặt và cấu hình phần mềm phải tuân thủ theo sơ đồ thiết kế  
mạng mức luận lý đã mô tả. Việc phân quyền cho người dùng pheo theo đúng chiến  
lược khai thác và quản lý tài nguyên mạng.  
Nếu trong mạng có sử dụng router hay phân nhánh mạng con thì cần thiết phải  
thực hiện bước xây dựng bảng chọn đường trên các router và trên các máy tính.  
1.1.5. Kiểm thử mạng  
Sau khi đã cài đặt xong phần cứng và các máy tính đã được nối vào mạng. Bước  
kế tiếp là kiểm tra sự vận hành của mạng.  
Trước tiên, kiểm tra sự nối kết giữa các máy tính với nhau. Sau đó, kiểm tra  
hoạt động của các dịch vụ, khả năng truy cập của người dùng vào các dịch vụ và  
mức độ an toàn của hệ thống.  
Nội dung kiểm thử dựa vào bảng đặc tả yêu cầu mạng đã được xác định lúc đầu.  
1.1.6. Bảo trì hệ thống  
Mạng sau khi đã cài đặt xong cần được bảo trì một khoảng thời gian nhất định  
để khắc phục những vấn đề phát sinh xảy trong tiến trình thiết kế và cài đặt mạng.  
1.2. Mô hình OSI.  
Để dễ dàng cho việc nối kết và trao đổi thông tin giữa các máy tính với nhau,  
vào năm 1983, Tổ chức tiêu chuẩn thế giới ISO đã phát triển một mô hình cho phép  
hai máy tính có thể gởi và nhận dữ liệu cho nhau. Mô hình này dựa trên tiếp cận phân  
tầng (lớp), với mỗi tầng đảm nhiệm một số các chức năng cơ bản nào đó.  
Để hai máy tính có thể trao đổi thông tin được với nhau cần có rất nhiều vấn đề  
liên quan. Ví dụ như cần có Card mạng, dây cáp mạng, điện thế tín hiệu trên cáp  
mạng, cách thức đóng gói dữ liệu, điều khiển lỗi đường truyền vv... Bằng cách phân  
chia các chức năng này vào những tầng riêng biệt nhau, việc viết các phần mềm để  
thực hiện chúng trở nên dễ dàng hơn. Mô hình OSI giúp đồng nhất các hệ thống máy  
tính khác biệt nhau khi chúng trao đổi thông tin. Mô hình này gồm có 7 tầng:  
Tầng 1: Tầng vật ký (Physical Layer)  
Điều khiển việc truyền tải thật sự các bit trên đường truyền vật lý. Nó định  
nghĩa các thuộc tính về cơ, điện, qui định các loại đầu nối, ý nghĩa các pin trong đầu nối,  
qui định các mức điện thế cho các bit 0,1,….  
Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu (Data-Link Layer)  
Tầng này đảm bảo truyền tải các khung dữ liệu (Frame) giữa hai máy tính có  
đường truyền vật lý nối trực tiếp với nhau. Nó cài đặt cơ chế phát hiện và xử lý lỗi dữ  
liệu nhận.  
Tầng 3: Tầng mạng (Network Layer)  
Tầng này đảm bảo các gói tin dữ liệu (Packet) có thể truyền từ máy tính này đến  
máy tính kia cho dù không có đường truyền vật lý trực tiếp giữa chúng. Nó nhận  
nhiệm vụ tìm đường đi cho dữ liệu đến các đích khác nhau trong mạng.  
Tầng 4: Tầng vận chuyển (Transport Layer)  
Tầng này đảm bảo truyền tải dữ liệu giữa các quá trình. Dữ liệu gởi đi được đảm  
bảo không có lỗi, theo đúng trình tự, không bị mất mát, trùng lắp. Đối với các gói tin  
có kích thước lớn, tầng này sẽ phân chia chúng thành các phần nhỏ trước khi gởi đi,  
cũng như tập hợp lại chúng khi nhận được.  
Tầng 5: Tầng giao dịch (Session Layer)  
Tầng này cho phép các ứng dụng thiết lập, sử dụng và xóa các kênh giao tiếp  
giữa chúng (được gọi là giao dịch). Nó cung cấp cơ chế cho việc nhận biết tên và các  
chức năng về bảo mật thông tin khi truyền qua mạng.  
Tầng 6: Tầng trình bày (Presentation Layer)  
Tầng này đảm bảo các máy tính có kiểu định dạng dữ liệu khác nhau vẫn có thể  
trao đổi thông tin cho nhau. Thông thường các máy tính sẽ thống nhất với nhau về một  
kiểu định dạng dữ liệu trung gian để trao đổi thông tin giữa các máy tính. Một dữ  
liệu cần gởi đi sẽ được tầng trình bày chuyển sang định dạng trung gian trước khi  
nó được truyền lên mạng. Ngược lại, khi nhận dữ liệu từ mạng, tầng trình bày sẽ chuyển  
dữ liệu sang định dạng riêng của nó.  
Tầng 7: Tầng ứng dụng (Application Layer)  
Đây là tầng trên cùng, cung cấp các ứng dụng truy xuất đến các dịch vụ mạng.  
Nó bao gồm các ứng dụng của người dùng, ví dụ như các Web Browser (Netscape  
Navigator, Internet Explorer), các Mail User Agent (Outlook Express, Netscape  
Messenger, ...) hay các chương trình làm server cung cấp các dịch vụ mạng như các  
Web Server (Netscape Enterprise, Internet Information Service, Apache, ...), Các FTP  
Server, các Mail server (Send mail, MDeamon). Người dùng mạng giao tiếp trực tiếp  
với tầng này.  
Về nguyên tắc, tầng n của một hệ thống chỉ giao tiếp, trao đổi thông tin với  
tầng n của hệ thống khác. Mỗi tầng sẽ có các đơn vị truyền dữ liệu riêng:  
Tầng vật lý: bit  
Tầng liên kết dữ liệu: Khung (Frame)  
Tầng Mạng: Gói tin (Packet)  
Tầng vận chuyển: Đoạn (Segment)  
Trong thực tế, dữ liệu được gởi đi từ tầng trên xuống tầng dưới cho đến tầng  
thấp nhất của máy tính gởi. Ở đó, dữ liệu sẽ được truyền đi trên đường truyền vật lý.  
Mỗi khi dữ liệu được truyền xuống tầng phía dưới thì nó bị "gói" lại trong đơn vị dữ  
liệu của tầng dưới. Tại bên nhận, dữ liệu sẽ được truyền ngược lên các tầng cao dần.  
Mỗi lần qua một tầng, đơn vị dữ liệu tương ứng sẽ được tháo ra.Đơn vị dữ liệu của mỗi  
tầng sẽ có một tiêu đề (header) riêng.  
OSI chỉ là mô hình tham khảo, mỗi nhà sản xuất khi phát minh ra hệ thống mạng  
của mình sẽ thực hiện các chức năng ở từng tầng theo những cách thức riêng. Các cách  
thức này thường được mô tả dưới dạng các chuẩn mạng hay các giao thức mạng. Như  
vậy dẫn đến trường hợp cùng một chức năng nhưng hai hệ thống mạng khác nhau sẽ  
không tương tác được với nhau. Hình dưới sẽ so sánh kiến trúc của các hệ điều hành  
mạng thông dụng với mô hình OSI.  
Hình 1.1 - Xử lý dữ liệu qua các tầng  
Hình 1.2 - Kiến trúc của một số hệ điều hành mạng thông dụng  
Để thực hiện các chức năng ở tầng 3 và tầng 4 trong mô hình OSI, mỗi hệ  
thống mạng sẽ có các protocol riêng:  
UNIX: Tầng 3 dùng giao thức IP, tầng 4 giao thức TCP/UDP  
Netware: Tầng 3 dùng giao thức IPX, tầng 4 giao thức SPX  
Giao thức NETBEUI của Microsoft cài đặt chức năng của cả hai tầng 3 và 4  
Nếu chỉ dừng lại ở đây thì các máy tính UNIX, Netware, NT sẽ không trao đổi  
thông tin được với nhau. Với sự lớn mạnh của mạng Internet, các máy tính cài đặt các  
hệ điều hành khác nhau đòi hỏi phải giao tiếp được với nhau, tức phải sử dụng chung  
một giao thức. Đó chính là bộ giao thức TCP/IP, giao thức của mạng Internet.  
Bài tập thực hành của học viên  
Câu1: Nêu các bước cần phải thực hiện để xây dựng 1 mạng máy tính. Trong các bước  
trên bước nào quan trọng nhất? vì sao?  
Câu 2: Thiết kế giải pháp trong việc xây dựng mạng là gì  
Bài tập  
Thiết kế hệ thống mạng cho một công ty hay trường học  
Các bước thực hiện  
Bước 1: Thu thập yêu cầu của khách hàng  
Bước 2: Phân tích yêu cầu  
Bước 3: Thiết kế giải pháp  
Yêu cầu về đánh giá kết quả học tập:  
- Khảo sát được nơi cần thiết kế hệ thống mạng  
- Thu thập tất cả thông tin từ khách hàng  
- Thiết kế được sơ đồ ở mức luân lý  
- Thiết kế được sơ đồ ở mức vật lý  
BÀI 2: CÁC CHUẨN MẠNG CỤC BỘ  
2.1. Phân loại mạng  
Mạng cục bộ (LAN - Local Area Network) thường được biết đến như một  
mạng truyền dữ liệu tốc độ cao triển khai trong một phạm vi nhỏ như một phòng,  
một tòa nhà hay một khu vực. Trong khi mạng diện rộng (WAN – Wide Area Network)  
có phạm vi lớn hơn, có thể trải dài trên một quốc gia, một châu lục hay thậm chí cả hành  
tinh. Đây là cách phân loại mạng dựa trên tiêu chuẩn phân loại là phạm vi địa lý.  
Ngoài ra, ta có thể phân loại mạng dựa vào kỹ thuật truyền tải thông tin sử dụng trong  
mạng.  
Mạng LAN sử dụng kỹ thuật mạng quảng bá (Broadcast network), trong đó các  
thiết bị cùng chia sẽ một kênh truyền chung. Khi một máy tính truyền tin, các máy  
tính khác đều nhận được thông tin. Ngược lại, mạng WAN sử dụng kỹ thuật Mạng  
chuyển mạch (Switching Network), có nhiều đường nối kết các thiết bị mạng lại với  
nhau. Thông tin trao đổi giữa hai điểm trên mạng có thể đi theo nhiều đường khác  
nhau. Chính vì thế cần phải có các thiết bị đặc biệt để định đường đi cho các gói tin,  
các thiết bị này được gọi là bộ chuyển mạch hay bộ chọn đường (router). Ngoài ra để  
giảm bớt số lượng đường nối kết vật lý, trong mạng WAN còn sử dụng các kỹ thuật đa  
hợp và phân hợp. Chương này tập trung giới thiệu những vấn đề liên quan đến mạng cục  
bộ.  
2.2. Mạng cục bộ và giao thức điều khiển truy cập đường truyền  
Vì chỉ có một đường truyền vật lý trong mạng LAN, tại một thời điểm nào đó  
LAN chỉ cho phép một thiết bị được sử dụng đường truyền để truyền tin. Nếu có hai  
máy tính cùng gởi dữ liệu ở tại một thời điểm sẽ dẫn đến tình trạng đua tranh. Dữ liệu  
của hai thiết bị này sẽ bị phủ lấp lẫn nhau, không sử dụng được. Vì thế cần có một cơ  
chế để giải quyết sự cạnh tranh đường truyền giữa các thiết bị. Người ta gọi phương  
pháp giải quyết cạnh tranh đường truyền giữa các thiết bị trong một mạng cục bộ là  
Giao thức điều khiển truy cập đường truyền (Media Access Control Protocol hay  
MAC Protocol). Có hai giao thức chính thường được dùng trong các mạng cục bộ là:  
Giao thức CSMA/CD (Carrier Sense Multiple Access with Collision Detection) và  
Token Passing.  
Trong các mạng sử dụng giao thức CSMA/CD như Ethernet chẳng hạn, các thiết  
bị mạng tranh nhau sử dụng đường truyền. Khi một thiết bị muốn truyền tin, nó phải  
lắng nghe xem có thiết bị nào đang sử dụng đường truyền hay không. Nếu đường  
truyền đang rãnh, nó sẽ truyền dữ liệu lên đường truyền. Trong quá trình truyền tải, nó  
đồng thời lắng nghe, nhận lại các dữ liệu mà nó đã gởi đi để xem có sự đụng độ với  
dữ liệu của các thiết bị khác hay không. Một cuộc đụng độ xảy ra nếu cả hai thiết bị  
cùng truyền dữ liệu một cách đồng thời. Khi đụng độ xảy ra, mỗi thiết bị sẽ tạm dừng  
một khoản thời gian ngẫu nhiên nào đó trước khi thực hiện truyền lại dữ liệu bị đụng  
độ. Khi mạng càng bận rộn thì tần suất đụng độ càng cao. Hiệu suất của mạng giảm đi  
một cách nhanh chóng khi số lượng các thiết bị nối kết vào mạng tăng lên.  
Trong các mạng sử dụng giao thức Token-passing như Token Ring hay FDDI,  
một gói tin đặc biệt có tên là thẻ bài (Token) được chuyển vòng quanh mạng từ thiết bị  
này đến thiết bị kia. Khi một thiết bị muốn truyền tải thông tin, nó phải đợi cho đến  
khi có được token. Khi việc truyền tải dữ liệu hoàn thành, token được chuyển sang cho  
thiết bị kế tiếp. Nhờ đó đường truyền có thể được sử dụng bởi các thiết bị khác. Tiện lợi  
lớn nhất của mạng Token-passing là ta có thể xác định được khoản thời gian tối đa một  
thiết bị phải chờ để có được đường truyền và gởi dữ liệu. Chính vì thế mạng Token-  
passing thường được sử dụng trong các môi trường thời gian thực, như điều khiển thiết  
bị công nghiệp, nơi mà thời gian từ lúc phát ra một tín hiệu điều khiển cho đến khi  
thiết bị nhận được tín hiệu luôn đảm bảo phải nhỏ hơn một hằng số cho trước.  
2.3. Các sơ đồ nối kết mạng LAN (LAN Topologies)  
LAN topology định nghĩa cách thức mà ở đó các thiết bị mạng được tổ chức  
sắp xếp. Có ba sơ đồ nối kết mạng LAN phổ biến là: dạng thẳng (Bus), dạng hình sao  
(Star) và dạng hìng vòng (ring).  
Bus topology là một mạng với kiến trúc tuyến tính trong đó dữ liệu truyền tải  
của một trạm sẽ được lan truyền trên suốt chiều dài của đường truyền và được  
nhận bởi tất cả các thiết bị khác.  
Star topology là một kiến trúc mạng trong đó các máy trạm được nối kết vào  
một bộ tập trung nối kết, gọi là HUB  
Ring topology là một kiến trúc mạng mà nó bao gồm một loạt các thiết bị được  
nối lại với nhau trên một kênh truyền có hướng theo dạng vòng.  
Ring topology  
Bus topology  
Star topology  
Hình 2.1 – Topology thường sử dụng cho mạng LAN  
2.4. Các loại thiết bị sử dụng trong mạng LAN  
Để xây dựng mạng LAN, người ta thường dùng các thiết bị sau:  
Card giao tiếp mạng (NIC- Network Interface Card)  
Dây cáp mạng (Cable)  
Bộ khuyếch đại (Repeater)  
Bộ tập trung nối kết (HUB)  
Cầu nối (Brigde)  
Bộ chuyển mạch (Switch)  
Bộ chọn đường (Router)  
2.5. Các tổ chức chuẩn hóa về mạng  
Để các thiết bị phần cứng mạng của nhiều nhà sản xuất khác nhau có thể đấu  
nối, trao đổi thông tin được với nhau trong một mạng cục bộ thì chúng phải được sản  
xuất theo cùng một chuẩn. Dưới đây là một số tổ chức chuẩn hóa quan trọng liên quan  
đến các thiết bị mạng:  
EIA (Electronic Industry Association)  
TIA (Telecom Industry Association)  
ISO (International Standard Organization)  
ANSI (American National Standard Institute)  
IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers)  
Trong đó hai tổ chức TIA và EIA kết hợp với nhau để đưa ra nhiều đặc tả cho  
các thiết bị truyền dẫn cũng như đưa ra nhiều sơ đồ nối dây.  
IEEE có nhiều tiểu ban (Committee). Trong đó Tiểu ban 802 phụ trách về các chuẩn  
cho mạng cục bộ. Một số chuẩn mạng cục bộ quan trọng do tiểu ban này đưa ra như:  
802.3: Chuẩn cho mạng Ethernet  
802.4: Chuẩn cho mạng Token-Bus  
802.5: Chuẩn mạng Token-Ring  
802.11: Chuẩn mạng không dây.  
....  
Các chuẩn do IEEE 802 định nghĩa thực hiện chức năng của tầng 2 trong mô  
hình tham khảo OSI. Tuy nhiên, chúng chia tầng 2 thành hai tầng con (sublayer) là  
Tầng con điều khiển nối kết luận lý (LLC - Logical Link Control) và Tầng con điều  
khiển truy cập đường truyền (MAC – Medium Access Control).  
Tầng con điều khiển truy cập đường truyền đảm bảo cung cấp dịch truyền nhận  
thông tin theo kiểu không nối kết. Trong khi tầng con điều khiển nối kết luận lý cung  
cấp dịch vụ truyền tải thông tin theo kiểu định hướng nối kết.  
Network  
Network layer  
layer  
LLC  
Logical Link control  
Data link  
Layer  
802.3  
CSMA-  
CD  
802.5  
Token  
Ring  
Other  
Lans  
MAC  
Physical  
Layer  
OSI  
Physical Layer  
IEEE 802  
Hình 2.2 – Kiến trúc mạng cục bộ theo IEEE 802  
2.6. Mạng Ethernet  
Thuật ngữ Ethernet dùng để chỉ đến họ mạng cục bộ được xây dựng theo  
chuẩn IEEE 802.3 sử dụng giao thức CSMA/CD để chia sẻ đường truyền chung.  
Ethernet được xem như là kỹ thuật mạng cục bộ chủ đạo trên thị trường nối kết các  
máy tính cá nhân lại với nhau (chiếm khoảng 85% thị trường) bởi vì giao thức của nó  
có các đặc tính sau:  
Dễ hiểu, dễ cài đặt, quản trị và bảo trì  
Cho phép chi phí xây dựng mạng thấp  
Cung cấp nhiều sơ đồ nối kết mềm dẽo trong cài đặt  
Đảm bảo thành công việc liên nối kết mạng và vận hành của mạng cho dù các  
thiết bị được cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau.  
2.6.1. Lịch sử hình thành  
Mạng Ethernet đầu tiên được phát triển vào năm 1970 bởi công ty Xerox là  
một mạng thử nghiệm, sử dụng dây cáp đồng trục với tốc độ truyền tải dữ liệu 3 Mbps.  
Mạng sử dụng giao thức CSMA/CD.  
Sự thành công của dự án này đã gây chú ý cho các nhà sản xuất thiết bị điện tử  
thời đó. Chính vì thế mà năm 1980, ba nhà sản xuất thiết bị điện tử hàng đầu là Digital  
Equipment Coperation, Intel Corporation và Xerox Corporation đã cùng nhau phát  
triển phiên bản Ethernet 1.0 với tốc độ truyền tải dữ liệu là 10 Mbps.  
Năm 1983, chuẩn mạng IEEE 802.3 đã được soạn thảo với nội dung tương tự  
như chuẩn mạng Ethernet phiên bản 1.0. Đến năm 1985 thì IEEE 802.3 được chuẩn  
hóa. Sau đó nhiều chuẩn mạng cục bộ khác đã được phát triển dựa theo nguyền tắc  
chia sẻ đường truyền chung của giao thức CSMA/CD. Có thể liệt kê các chuẩn mạng  
sử dụng giao thức CSMA/CD như sau:  
Chuẩn mạng 802.3:  
o Có tên là mạng Ethernet  
o Tốc độ truyền tải dữ liệu là 10 Mbps  
o Hỗ trợ 4 chuẩn vật lý là 10Base-5 (cáp đồng trục béo), 10Base-2 (Cáp  
đồng trục gầy), 10Base-T (Cáp xoắn đôi) và 10Base-F (Cáp quang).  
Chuẩn mạng 802.3u  
o Có tên là mạng Fast Ethernet  
o Tốc độ truyền tải dữ liệu là 100 Mbps  
o Hỗ trợ 3 chuẩn vật lý là 100Base-TX (Cáp xoắn đôi), 100Base-T4 (Cáp  
xoắn đôi) và 100Base-FX (Cáp quang).  
Chuẩn mạng 802.3z:  
o Có tên là mạng Giga Ethernet  
o Tốc độ truyền tải dữ liệu là 1 Gbps  
o Hỗ trợ 3 chuẩn vật lý là 1000Base-LX, 1000Base-SX,  
1000Base-CX.  
1000Base-LX, 1000Base-SX sử dụng cáp quang. 1000Base-CX sử dụng  
dây cáp đồng bọc kim.  
Chuẩn mạng 802.3ab:  
o Có tên là mạng Giga Ethernet over UTP  
o Tốc độ truyền tải dữ liệu là 1 Gbps  
o Hỗ trợ chuẩn vật lý 1000Base-TX sử dụng dây cáp xoắn đôi không bọc kim.  
2.6.2. Card giao tiếp mạng (NIC-Network Interface Card)  
Bởi vì các chức năng của mạng Ethernet chỉ liên quan đến tầng một và tầng  
hai trong mô hình tham khảo OSI, cho nên chúng thông thường được cài đặt trong  
Card giao tiếp mạng (NIC-Network Interface Card) được cắm vào bản mạch chính  
(motherboard) của máy tính. Khi chọn lựa một card mạng cần chú ý các vấn đề sau:  
Chuẩn khe cắm (slot) thiết bị ngoại vi được hỗ trợ bởi bản mạch chính: Các máy  
tính cá nhân hiện đại thông thường hỗ trợ loại khe cắm thiết bị ngoại vi theo chuẩn  
PCI. Các máy tính đời cũ có hỗ trợ chuẩn ISA. Khe cắm chuẩn ISA dài hơn so với  
khe cắm chuẩn PCI. Card mạng vì thế cũng có hai loại. Không thể sử dụng card mạng  
chuẩn PCI cắm vào khe cắm ISA và ngược lại. Chính vì thế khi mua card mạng cần  
lưu ý đến loại khe cắm.  
NIC theo chuẩn PCI  
NIC theo chuẩn ISA  
Hình 2.3 – Một số loại giao diện card mạng  
Loại đầu nối vào dây cáp: Mỗi chuẩn mạng thường qui định loại dây dẫn được  
sử dụng. Để nối card mạng vào dây dẫn cần có loại đầu nối riêng tùy thuộc vào từng  
loại dây dẫn. Ví dụ, để nối vào dây cáp đồng trục gầy trên card mạng cần có đầu nối  
BNC; để nối với dây cáp xoắn đôi card mạng cần có đầu nối UTP, ... Cần chọn card  
mạng có đầu nối theo đúng loại dây dẫn do chuẩn mạng qui định.  
Card mạng là một thiết bị ngoại vi, vì thế chúng ta cần lưu ý đến các thông số  
xác định địa chỉ của nó như số hiệu ngắt (Interrupt), số hiệu cổng (port) và địa chỉ nền  
(Base address). Cần phải đặt chúng sao cho không trùng với các thiết bị khác đã có  
trên máy tính. Thông thường có phần mềm cài đặt (install/setup) đi kèm với card mạng  
khi mua, cho phép kiểm tra trạng thái của card mạng cũng như đặt lại các thông số trên.  
Mỗi card mạng có một địa chỉ vật lý là một dãy số 48 bits (thường được viết  
dưới dạng 12 số thập lục phân), gọi là địa chỉ MAC. Một một card mạng có địa chỉ  
MAC riêng, không trùng lắp lẫn nhau. Chúng được các nhà sản xuất cài vào khi sản  
xuất.  
2.6.3. Một số chuẩn mạng Ethernet phổ biến  
2.6.3.1. Chuẩn mạng Ethernet 10BASE-5  
Đây là chuẩn mạng Ethernet đầu tiên được phát triển. Nó bao gồm các thông số  
kỹ thuật sau:  
Sơ đồ mạng dạng BUS  
Sử dụng dây cáp đồng trục béo (thich coaxial cable), chiều dài tối đa của mỗi  
đoạn mạng (network segment) là 500 mét.  
Tốc độ truyền dữ liệu là 10 Mbps  
Khoảng cách gần nhất giữa hai nút / máy tính trên mạng là 2,5 mét  
Tối đa cho phép 100 nút / máy tính trên một đoạn mạng.  
Card mạng sử dụng đầu nối kiểu AUI.  
Chiều dài dây dẫn nối máy tính vào dây cáp đồng trục dài tối đa 50 mét  
Sử dụng hai thiết bị đầu cuối (Terminator) trở kháng 50 Ώ để gắn vào mỗi đầu  
của dây cáp. Một trong hai đầu cuối này phải nối tiếp đất vào vỏ của máy tính.  
Thế mạnh lớn nhất của chuẩn mạng này là đường kính mạng (khoảng cách giữa  
hai máy tính trong mạng) lớn. Tuy nhiên việc thi công mạng khá phức tạp, tốc  
độ lại không cao, giá thành không phải là thấp so với các chuẩn mạng khác.  
Chính vì thế mà hiện nay  
nó không phải là chuẩn mạng được chọn lựa khi xây dựng các mạng LAN mới.  
2.6.3.2. Chuẩn mạng Ethernet 10BASE-2  
Chuẩn 10Base-2 có các thông số kỹ thuật sau:  
Sơ đồ mạng dạng Bus  
Sử dụng dây cáp đồng trục gầy (thin coaxial cable), chiều dài tối đa của mỗi  
đoạn mạng (network segment) là 185 mét.  
Tốc độ truyền dữ liệu là 10 Mbps  
Tối đa cho phép 30 nút / máy tính trên một đoạn mạng.  
Dây dẫn được cắt thành từng đoạn nhỏ để nối hai máy tính kế cận nhau với chiều  
dài tối thiểu là 0,5 mét. Mỗi đầu dây có một đầu nối BNC bấm vào.  
Card mạng sử dụng cần có đầu nối BNC để gắn đầu nối hình chữ T vào (T  
connector).  
Sử dụng hai thiết bị đầu cuối (Terminator) trở kháng 50 Ώ để gắn vào đầu nối  
hình chữ T của hai máy ở hai đầu dây mạng. Một trong hai đầu cuối này phải  
nối tiếp đất vào vỏ của máy tính.  
Mạng thiết kế theo chuẩn 10Base-2 có giá thành rẻ nhất khi so với các chuẩn khác.  
Tuy nhiên tính ổn định của nó không cao, các điểm nối dây rất dễ bị hỏng tiếp xúc.  
Chỉ cần một điểm nối dây trong mạng không tiếp xúc tốt sẽ làm cho các máy khác  
không thể vào mạng được.  
Hình 2.4 – Yếu điểm của mạng 10BASE-2  
2.6.3.3. Chuẩn mạng Ethernet 10BASE-T  
Vào những năm 1990, cấu hình mạng hình sao trở nên được ưu chuộng. Trong  
mạng sử dụng một bộ khuếch đại nhiều cổng (port), được họi là HUB hay còn gọi là  
Bộ tập trung nối kết, để nối các máy tính lại với nhau.  
Hình 2.5 – HUB và chuẩn mạng 10 BASE-T  
Với một HUB, người ta quan tâm đến số lượng cổng của nó. Bởi vì một cổng  
cho phép nối một máy tính vào mạng. Một HUB 24 cổng sẽ cho nối tối đa 24 máy tính  
lại với nhau. Trên thị trường thường tìm thấy các HUB 8,12,16, 24 cổng.  
Chuẩn 10BASE-T sử dụng cáp xoắn đôi (Twisted Pair Cable) để nối máy tính  
vào HUB. Cáp xoắn đôi thường có hay loại là có vỏ bọc (STP - Shielded Twisted Pair)  
và loại không có vỏ bọc (UTP - Unshielded Twisted Pair).  
Loại có vỏ bọc có tính năng chống nhiễu tốt hơn loại không có vỏ bọc. Nó được  
sử dụng trong những môi trường mà ở đó có các sóng điện từ mạnh (đài phát thanh, phát  
hình, ...). Tuy nhiên giá thành đắt hơn loại không có vỏ bọc. Đa số các mạng cục bộ  
sử dụng cho văn phòng ngày nay sử dụng cáp xoắn đôi không bọc kim (cáp UTP).  
Cáp xoắn đôi được chia thành nhiều chủng loại (Caterogy), viết tắt là CAT.  
Mỗi chủng loại có băng thông tối đa khác nhau.  
CAT 1:2Mbps  
CAT 2:4 Mbps  
CAT 3:16Mbps  
CAT 4:20Mbps  
CAT 5:100Mbps  
CAT 5E: 1000Mbps  
CAT 6:1000Mbps  
Hình 2.6 - Cáp xoắn đôi  
Chuẩn 10 BASE-T có băng thông qui định là 10 Mbps, vì thế phải sử dụng cáp  
từ CAT 3 trở lên. Chiều dài tối đa của một sợi dây là 100 mét.  
Cáp xoắn đôi có 8 sợi, xoắn lại với nhau từng đôi một tạo thành 4 đôi với bốn  
màu đặc trưng: Cam (Orange), xanh dương (Blue), xanh lá (Green) và nâu (Brown).  
Một đôi gồm một sợi được phủ màu hoàn toàn và một sợi màu trắng được điểm vào  
các đốm màu tương ứng.  
Để có thể nối máy tính vào HUB, mỗi đầu của sợi cáp xoắn đôi đều phải được bấm đầu  
nối UTP (UTP Connector). Card mạng trong trường hợp này cũng phải hỗ trợ loại  
đầu nối UTP.  
Hình 2.7 – Sử dụng đầu nối UTP với dây cáp xoắn đôi  
Đâu nối UTP có 8 pin để tiếp xúc với 8 sợi của dây cáp xoắn đôi. Chuẩn 10  
BASE- T chỉ sử dụng 4 trong 8 sợi của cáp xoắn đôi để truyền dữ liệu (Một cặp truyền,  
một cặp nhận). Bốn sợi còn lại không sử dụng. Tương ứng trên đầu nối UTP, chỉ có  
4 pin 1,2,3,6 được sử dụng, các pin còn lại không dùng đến.  
Câu hỏi kế tiếp là sợi dây màu nào của cáp xoắn đôi sẽ đi với pin số mấy của  
đầu nối UTP. Để thống nhất, EIA và TIA đã phối hợp và đưa ra 2 chuẩn bấm đầu dây  
là T568A và T568B  
Chuẩn T568A qui định:  
Pin 1: White Green / Tx+  
Pin 2: Green / Tx-  
Pin 3: White Orange / Rx+  
Pin4: Blue  
Pin5: White Blue  
Pin 6: Orange / Rx-  
Pin 7: White Brown  
Pin 8: Brown  
Chuẩn T568B qui định:  
Pin 1: White Orange / Tx +  
Pin 2: Orange / Tx-  
Pin 3: White Green / Rx+  
Pin4: Blue  
Pin5: White Blue  
Pin 6: Green / Rx-  
Pin 7: White Brown  
Pin 8: Brown  
Như vậy, sẽ dẫn đến 2 sơ đồ nối dây đối với một sợi cáp xoắn đôi:  
Sơ đồ nối dây thẳng (Straight through): hai đầu của một sơi cáp xoắn đôi đều  
được bấm đầu UTP theo cùng một chuẩn, tức hoặc cả hai cùng bấm theo chuẩn  
T568A hoặc cả hai cùng bấm theo chuẩn T568B.  
Sơ đồ nối dây chéo (Cross over): hai đầu của một sợi cáp xoắn đôi được bấm đầu  
UTP theo hai chuẩn khác nhau, tức một đầu bấm theo chuẩn T568A, đầu còn lại  
bấm theo chuẩn T568B.  
Dây được bấm theo sơ đồ thẳng dùng để nối hai thiết bị khác loại lại với nhau. Ví  
dụ nối máy tính và Hub,Switch, router. Ngược lại, dây bấm theo sơ đồ chéo dùng để  
nối hai thiết bị cùng loại, ví dụ nối Hub với Hub, nối máy tính với máy tính, Hub với  
Router.  
So với chuẩn 10 BASE-2, chuẩn 10 BASE-T đắt hơn, nhưng nó có tính ổn định cao  
hơn: sự cố trên một điểm nối dây không ảnh hưởng đến toàn mạng.  
Hình 2.8 – Chuẩn 10BASE-T khắc phục nhược điểm của 10BASE-2  
2.6.3.4. Vấn đề mở rộng mạng  
2.6.3.4.1. Mở rộng mạng 10 BASE-2  
Chuẩn 10BASE-2 ràng buộc số nút tối đa trên một nhánh mạng (segment) là 30.  
Nếu mạng có hơn 30 máy tính thì phải sử dụng ít nhất 2 nhánh mạng và nối chúng lại  
với nhau bằng một bộ khuếch đại (Repeater).  
Hình 2.9 – Luật 5-4-3 khi sử dụng Repeater hay HUB  
Tuy nhiên, để đảm bảo các máy tính có thể phát hiện được đụng độ khi truyền  
dữ liệu, số lượng tối đa các nhánh mạng được nối lại với nhau bằng các Repeater bị  
giới hạn bởi luật 5-4-3. Luật này qui định như sau:  
Chỉ có thể nối tối đa 5 nhánh mạng lại với nhau bằng các Repeater  
Chỉ có thể sử dụng tối đa 4 Repeater trong một mạng  
Chỉ cho phép tối đa 3 nhánh mạng có nhiều hơn 3 nút (Một nút có thể là một  
máy tính hoặc là một Repeater)  
2.6.3.4.2. Mở rộng mạng Ethernet  
Mỗi cổng trên Hub cho phép nối một máy tính vào mạng. Thường số lượng  
cổng trên Hub là 8, 12, 16, 24. Nếu số lượng máy tính cần nối mạng vượt quá số lượng  
cổng mà một Hub có thể cung cấp, khi đó ta phải sử dụng nhiều Hub và nối chúng  
lại với nhau. Dưới đây là một vài sơ đồ thường được sử dụng để mở rộng mạng theo  
chuẩn 10BASE-T:  
Nối liên tiếp các Hub lại với nhau: Trong sơ đồ này cần tuân thủ luật 5-4-3, đảm  
bảo rằng tín hiệu đi từ máy tính này đến máy tính kia trong mạng không đi qua  
nhiều hơn 4 HUB.  
Hình 2.10 – Sơ đồ nối kết hai HUB  
Sử dụng một Hub làm xương sống: Sơ đồ này được sử dụng khi số lượng Hub  
nhiều hơn 4  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 64 trang Thùy Anh 16560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Thiết kế, xây dựng mạng Lan (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_thiet_ke_xay_dung_mang_lan_phan_1.pdf