Giáo trình Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
----------o0o---------  
Thạc Bình Cường  
Bài giảng điện tử môn học  
PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ  
HỆ THỐNG THÔNG TIN  
- 1 -  
Lời nói đầu  
Hệ thống thông tin (HTTT) là một trong những ngành mũi nhọn của công nghệ  
thông tin (CNTT) đã có nhiều ứng dụng trong quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý các  
doanh nghiệp. Mặc dù hiện nay có khá nhiều ngôn ngữ lập trình và hệ quản trị cơ sở  
dữ liệu cũng như các phần mềm chuyên dụng cho quản lý song đối với một hệ thống  
quản lý lớn việc vận dụng ngay các phần mềm đó là một vấn đề gặp không ít khó  
khăn.  
Các hệ thống thông tin tin học hoá chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà  
quản lý có nhiều nguyên nhân song nguyên nhân vô cùng quan trọng đó là các nhà  
xây dựng hệ thống thông tin không được trang bị kiến thức cơ bản về phân tích và  
thiết kế, thiếu kinh nghiệm tham gia vào quá trình phân tích thiết kế dẫn đến giai  
đoạn cài đặt thay đổi nhiều, thậm trí thất bại gây ra sự lãng phí trong việc khai thác,  
bảo trì và phát triển hệ thống.  
Một trong những nguyên nhân chính làm cho các sản phẩm phần mềm trong  
lĩnh vực quản lý thiếu tính chuyên nghiệp là còn thiếu rất nhiều những nhà phân tích.  
Đó là những chuyên gia tin học có thể phân tích tìm hiểu, khảo sát sự hoạt động của  
các xí nghiệp, doanh nghiệp, các tổ chức hành chính xã hội để thiết kế các hệ thống  
tin học phục vụ công tác quản lý trong mọi lĩnh vực. Để đáp ứng nhu cầu về phát  
triển đội ngũ cán bộ chuyên ngành về công nghệ thông tin trong chương trình Công  
nghệ thông tin quốc gia môn học “Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin” trở thành  
môn học chính trong ngành CNTT ở các trường đại học, cao đẳng.  
Cuốn sách này đề cập tới việc phân tích và thiết kế một HTTT, nhấn mạnh đến  
HTTT quản lý. Phân tích thiết kế hệ thống thông tin là phương pháp luận để xây dựng  
và phát triển hệ thống thông tin bao gồm các lý thuyết, mô hình, phương pháp và các  
công cụ sử dụng trong quá trình phân tích và thiết kế hệ thống. Giáo trình này thường  
được giảng dạy ở năm cuối của các bậc đào tạo. Nội dung chính của cuốn sách được  
sắp xếp theo thứ tự các giai đoạn phát triển hệ thống:  
- Giai đoạn khảo sát, tìm hiểu nhu cầu hệ thống nhằm xác định hệ thống được  
lập ra đáp ứng nhu cầu gì của người dùng  
- Giai đoạn phân tích nhằm đi sâu chi tiết vào các chức năng và dữ liệu của hệ  
thống, cho biết hệ thống phải làm gì  
- Giai đoạn thiết kế nhằm đưa ra các quyết định về cài đặt hệ thống, để sao cho  
hệ thống vừa thoả mãn các các yêu cầu mà giai đoạn phân tích đã đưa ra đồng  
thời chú trọng đến khả năng thích ứng với các ràng buộc trong thực tế, mang  
tính khả thi dù phải thoả hiệp một số các tiêu chuẩn nhất định  
- Giai đoạn cài đặt bao gồm công việc chính là lập trình và kiểm sửa. Đây là giai  
đoạn chuyển các kết quả phân tích thiết kế thành các sản phẩm ứng dụng.  
- Giai đoạn khai thác và bảo trì là triển khai hệ thống vào sử dụng đồng thời hiệu  
chỉnh các sai lỗi và thay đổi khi phát hiện những chỗ chưa thích hợp.  
Nội dung trong giáo trình được bổ sung thêm hai chương về phân tích thiết kế  
hướng đối tượng, nhằm giúp sinh viên mở rộng sự hiểu biết và cách tiếp cận của mình  
về một vấn đề mới, có thể sử dụng các phần mềm lập trình hướng đối tượng với ứng  
dụng thực tế trong những năm gần đây.  
- 2 -  
Để cho sinh viên có thể tự kiểm tra đánh giá sự tiếp thu bài giảng thì ngoài các  
thí dụ trong các phần bài giảng, chúng tôi đã đưa vào các câu hỏi, bài tập ngay cuối  
mỗi chương bao gồm cả các câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi luận giải nhằm cô đọng  
các kiến thức đã trình bày. Cuối giáo trình chúng tôi đưa thêm một số bài tập lớn, bài  
thi các khoá trước để sinh viên tham khảo. Phần phụ lục là tập hợp các cụm từ và viết  
tắt bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt giúp cho độc giả tiện tra cứu và thống nhất cách sử  
dụng.  
Liên quan đến môn học đòi hỏi người đọc cần có các kiến thức về:  
+ Cơ sở dữ liệu: Cung cấp các kiến thức và mô hình về cách tổ chức các cơ sở  
dữ liệu lớn, đặc biệt là các nguyên lý của các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, các hiểu  
biết sơ đẳng về CSDL như khái niệm về quan hệ, phụ thuộc hàm, phụ thuộc  
hàm sơ cơ đẳng, phụ thuộc hàm trực tiếp, các dạng chuẩn 1NF, 2NF, 3NF...  
+ Kỹ thuật lập trình: Mặc dù phân tích và thiết kế HTTT không đề cập chi tiết  
việc lập trình, song trong giai đoạn thiết kế chương trình, sinh viên đòi hỏi phải  
có các kỹ năng về các kỹ thuật lập trình như phương pháp thiết kế chương trình  
từ trên xuống (top-down), làm mịn dần, tinh chỉnh từng bước, đệ qui, thuật giải  
và độ phức tạp về thuật giải, lập trình cấu trúc và lập trình hướng đối tượng...  
Các ngôn ngữ lập trình chuyên dụng chẳng hạn như các hệ quản trị cơ sở dữ liệu  
FOXPRO, ACCESS, VISUAL BASIC  
+ Về quản trị doanh nghiệp: Các kiến thức về cấu trúc tổ chức, nhân sự, tài  
chính, vật tư, kế toán, lập kế hoạch, triển khai dự án tin học. Sự hiểu biết về  
quản lý kinh tế là thật sự cần thiết đối với người phân tích thiết kế hệ thống.  
Ngoài ra sinh viên cần có hiểu biết tối thiểu về lý thuyết hệ thống, có thể sẽ được  
giới thiệu trong phần đầu của cuốn sách.  
Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm môn Phân tích thiết kế HTTT, cũng như  
qua làm thực tế các dự án tin học nói chung, dù đã có những kết quả nhất định, nhưng  
với một yêu cầu to lớn nghiêm túc của môn học chắc rằng cuốn sách này còn thiếu  
sót mong các đồng nghiệp lượng thứ và góp ý để có chỉnh lý kịp thời.  
Cuốn sách này được dùng như tài liệu cho môn học Phân Tích Thiết Kế Hệ  
thống Thông tin. Nội dung của cuốn sách đã được dùng để giảng dạy cho sinh viên  
một số trường đại học, cao đẳng và đặc biệt cho các cán bộ quản lý các dự án CNTT  
trong nhiều năm qua. Người đọc có thể tra cứu tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt hay  
tiếng nước ngoài chú thích ở phần cuối.  
- 3 -  
Hướng dẫn thực hiện chương trình  
a) Môn hoc này nên học sau các môn tiên quyết : Tin học cơ sở, Cơ sở dữ liệu, kỹ  
thuật lập trình, và một hệ quản trị cơ sở dữ liệu: FOX, ACCESS, VB...  
b) Quá trình lên lớp lý thuyết học viên được giới thiệu một hệ thống thông tin trọn  
vẹn đủ phúc tạp để làm ví dụ minh hoạ trong suốt các giai đoạn phân tích thiết kế.  
Nếu có điều kiện học sinh được tham quan một vài cơ sở doanh nghiệp để ứng  
dụng thực hành phần lý thuyết trên lớp  
c) Sinh viên cần phải đọc thêm các tài liệu tham khảo [1],[2],[7] và sách giáo trình  
kèm theo để hiểu thêm chi tiết nội dung của môn học. Đặc biệt giáo viên hướng  
dẫn học viên đọc thêm nội dung các chương 1, chương 3 làm giảm thời gian lên  
lớp lý thuyết  
d) Bài tập lớn giao cho từng nhóm từ 3-4 học viên, có nhóm trưởng. Giáo viên giới  
thiệu một số đề tài để học sinh lựa chọn hoặc nhóm học sinh có thể tự tìm đề tài và  
thông qua giáo viên môn học. Sinh viên được tham khảo các tài liệu và các bài tập  
mẫu. Nhóm thực hiện bài tập lớn cần nộp các sản phẩm là đặc tả phân tích và thiết  
kế được soạn thảo trên máy và làm tài liệu hướng dẫn cho phóm phát triển chương  
trình. Bản báo cáo gồm 15-20 trang khổ A4. Nếu có điều kiện các nhóm có thể bảo  
vệ bài tập lớn  
Đánh giá:  
Kết quả học tập môn hoc của sinh viên được đánh giá thông qua 2 hình thức  
a) Điểm bài tập lớn 50%, là điều kiện cần để học sinh được tham dự bài thi viết  
b) Điểm bài thi viết 60 phút : 50%  
- 4 -  
Chương 1. Đại cương về hệ thống thông tin  
Các hệ thống thông tin được tin học hoá là một chủ đề rất rộng và có nhiều  
khía cạnh khác nhau. Hệ thống thông tin được tin học hoá là phương pháp sử dụng  
một hệ thống máy tính để giải quyết các vấn đề quản lý đã được xác định của người  
sử dụng. Vì thế, máy tính cung cấp những giải pháp thông qua việc cung cấp các  
thông tin hữu ích tới người sử dụng bằng cách xử lý thông tin được nhập vào. Toàn bộ  
quá trình này được gọi là một hệ thống thông tin (HTTT). Để thuận tiện, trong tài liệu  
này chúng ta sẽ sử dụng từ “hệ thống” hoặc “dự án” thay cho cụm từ “Hệ thống  
thông tin”.  
Nội dung chính của chương này bao gồm:  
• Các khái niệm về HTTT  
• Nhiệm vụ, vai trò và các thành phần của HTTT  
• Quy trình phát triển HTTT  
• Các kỹ thuật khảo sát thu thập thông tin  
• Đề xuất giải pháp sơ bộ và xác định tính khả thi của hệ thống sẽ xây  
dựng  
1.1 Khái niệm về hệ thống thông tin  
Ngày nay hệ thống thông tin được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống vì có  
sự hỗ trợ của máy tính và chúng ta gọi là HTTT tự động hoá. Để hiểu rõ thuật  
ngữ này chúng ta xuất phát từ khái niệm hệ thống chung nhất, hệ thống nghiệp  
vụ (Business) rồi đến hệ thống thông tin.  
1.1.1 Các hệ thống- Hệ thống nghiệp vụ  
Hệ thống: một tập hợp có tổ chức của nhiều phần tử thường xuyên tương tác với  
nhau, có những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và cùng hoạt động chung cho một  
mục đích nào đó. Môi trường là phần nằm ngoài hệ thống đang xét và thực chất nó là  
một hệ thống nào đó có giao tiếp với hệ thống đang xét. Giữa hệ thống và môi trường  
là đường giới hạn xác định biên giới của hệ thống. Hình 1.1 là mô hình tổng quát của  
hệ thống.  
M«i tr−êng  
PhÇn tö  
Hình 1.1 Mô hình tổng quát của một hệ thống  
- 5 -  
Hệ thống nghiệp vụ là một loại hệ thống bao gồm các hoạt đông kinh doanh, dịch vụ  
chẳng hạn như sản xuất, phân phối, lưu thông các sản phẩm, các hoạt động giáo dục, y  
tế. Nghiệp vụ là hoạt động của con người nhằm mang lại lợi ích hoặc lợi nhuận. Việc  
xác định mục đích hoạt động nghiệp vụ vì “lợi ích” hay “lợi nhuận” chỉ mang tính  
tương đối và nó thật sự cần thiết để sau này ta có thể kiểm nghiệm hệ thống đã đạt  
được yêu cầu và mục tiêu chưa?.  
Đặc điểm của các hệ thống nghiệp vụ vì có sự tham gia của con người nên hệ  
thống có hai đặc điểm chính là cơ chế điều khiển và thông tin. Cơ chế điều khiển là sự  
quản lý trong nghiệp vụ và điều khiển cho hệ thống hướng đúng mục đích, đạt kết quả  
với chất lượng cao. Thông tin trong hệ thống nhằm phục vụ nhu cầu giao tiếp, trao đổi  
giữa con người  
Một hệ thống nghiệp vụ có thể phân làm ba hệ thống con:  
+ Hệ thống quyết định là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và các phương  
pháp tham gia đề xuất quyết định trong các hoạt động nghiệp vụ.  
+ Hệ thống tác nghiệp là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và các phương  
pháp tham gia trực tiếp thực hiện các hoạt động nghiệp vụ (sản xuất trực tiếp). Đó là  
các hoạt động nhằm thực hiện có tính cách cạnh tranh để đạt được mục tiêu đã xác  
định của hệ quyết định.  
+ Hệ thống thông tin là hệ thống bao gồm con người, phương tiện và các phương pháp  
tham gia xử lý thông tin của các hoạt động nghiệp vụ (kinh doanh hay dich vụ).  
Lưu ý rằng nhiệm vụ của môn học này là xây dựng hệ thống thông tin nên  
người học tránh nhầm lẫn HTTT với hệ thống tác nghiệp, đặc biệt khi đặc tả chức  
năng của hệ thống. Hệ thống thông tin là hệ thống trung gian giữa hệ tác nghiệp và hệ  
quyết định, nó cung cấp thông tin và phản ánh cơ cấu tổ chức và các hoạt động nghiệp  
vụ.  
1.1.2 Nhiệm vụ và vai trò của hệ thống thông tin  
Chức năng chính của HTTT là xử lý thông tin của hệ thống nghiệp vụ. Quá  
trình xử lý thông tin như một mô hình hộp đen bao gồm: Bộ xử lý, thông tin đầu vào,  
thông tin đầu ra và thông tin phản hồi cần thiết của hệ thống. Bộ xử lý biến đổi dữ liệu  
đầu vào và cho ra thông tin đầu ra. Hình 1.2 chỉ ra mô hình xử lý thông tin đơn giản.  
- 6 -  
Process  
Output  
(Th«ng tin ra )  
Input  
(D÷ liÖu vào)  
(Bé xö lý )  
Feed back (ph¶n håi)  
Hình 1.2 Mô hình xử lý thông tin đơn giản của hệ thống  
Thông tin trong hệ thống nghiệp vụ có thể gồm hai loại chính :  
- Thông tin tự nhiên là loại thông tin ở nguyên dạng khi nó phát sinh như tiếng  
nói, công văn, hình ảnh v.v. Việc xử lý thông tin này thuộc về công tác văn phòng với  
các kỹ thuật mang đặc điểm khác nhau.  
- Thông tin có cấu trúc là thông tin được cấu trúc hoá với khuôn dạng nhất  
định thường biểu diễn dưới dạng sổ sách, bảng biểu, sơ đồ quy định và nó dễ dàng  
được tin học hoá  
Nhiệm vụ của hệ thống thông tin:  
Xét về quan điểm hệ thống, nhiệm vụ HTTT có các hoạt động đối nội và đối ngoại  
+ Về đối ngoại: Hệ thống thông tin thu nhận thông tin từ môi trường bên ngoài  
và đưa thông tin ra môi trường bên ngoài. Thí dụ như thông tin về giá cả, thị trường,  
sức lao động, nhu cầu hàng hoá v.v.  
+Về đối nội: Hệ thống thông tin là cầu nối liên lạc giữa các bộ phận của hệ  
nghiệp vụ. Nó cung cấp cho hệ tác nghiệp, hệ quyết định các thông tin gồm hai loại tự  
nhiên và cấu trúc nhằm phản ánh cơ cấu tổ chức nội bộ và tình trạng hoạt động nghiệp  
vụ của hệ thống.  
Vai trò của hệ thống thông tin  
Hệ thống thông tin đóng vai trò trung gian giữa hệ thống nghiệp vụ và môi  
trường, giữa hệ thống con quyết định và hệ thống con tác nghiệp. Hình 1.3 dưới đây  
cho ta cách nhìn nhận vai trò của hệ thống thông tin trong hệ thống nghiệp vụ. Mỗi hệ  
thống con đều có đầu vào đầu ra. Ngoài ra, HTTT cung cấp các thông tin cho các hệ  
quyết định và tác nghiệp. Các thông tin xuất phát từ hệ tác nghiệp và hệ quyết định sẽ  
được HTTT chế biến, tổng hợp trước khi đưa ra môi trường bên ngoài.  
- 7 -  
Tư vấn  
Quyết định  
TT môi trường  
Thông tin vào  
Thông tin ra  
- Nguyên vật liệu  
- Tiền, sức LĐ  
-Thành phẩm  
- Tiền  
Hình 1.3 Các hệ thống con của hệ thống nghiệp vụ  
1.1.3 Các thành phần hợp thành của hệ thống thông tin:  
a. Đặc điểm của HTTT:  
HTTT là hệ thống được tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới có chức năng  
tổng hợp các thông tin giúp các nhà quản lý tốt cơ sở của mình và trợ giúp ra quyết  
định hoạt động nghiệp vụ. Một hệ thống quản lý các nghiệp vụ được phân thành nhiều  
cấp do vậy các thông tin được xử lý và luân chuyển từ mức trên xuống dưới và  
chuyển từ các mức dưới lần lượt lên dần mức trên.  
b. Các thành phần cơ bản của HTTT  
HTTT bao gồm năm thành phần  
• Con người: HTTT cung cấp thông tin cho mọi người bao gồm cả người quản lý và  
người sử dụng cuối. Người sử dụng cuối là người tương tác trực tiếp với hệ thống  
và nó cung cấp dữ liệu cho hệ thống đồng thời nhận thông tin từ nó  
• Thủ tục: Đặc trưng bởi các mẫu bao gồm các dữ liệu mô tả công việc của tất cả  
mọi người, cả người sử dụng cuối và nhân viên trong HTTT. Thủ tục xác định các  
quy trình, thao tác và các công thức tính toán.  
• Phần cứng: Bao gồm tất cả các thiết bị vật lý sử dụng trong HTTT. Thiết bị này  
bao gồm phần cứng máy tính như máy tính, các thiết bị đầu cuối, các thiết bị ngoại  
vi, máy in và cả các thiết bị không thuộc máy tính như máy chữ, máy kiểm tra chữ  
ký. Nguồn cung cấp cần thiết cho các nhà điều hành máy tính như ruy băng, giấy  
viết và các mẫu tập hợp dữ liệu đặc biệt.  
• Phần mềm: Bao gồm cả phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng. Phần mềm  
hệ thống là các chương trình điều khiển phần cứng và môi trường phần mềm. Các  
chương trình này gồm hệ điều hành, phần mềm giao tiếp, hệ thống quản trị cơ sở  
dữ liệu và các chương trình tiện ích. Phần mềm ứng dụng bao gồm các chương  
- 8 -  
trình trực tiếp hỗ trợ hệ thống trong việc xử lý dữ liệu để tạo ra thông tin yêu cầu.  
• Tệp (File) dữ liệu: Hầu hết dữ liệu được xử lý trong HTTT phải được giữ lại vì lý  
do pháp luật hoặc vì sự cần thiết được xử lý trong tương lai. Những dữ liệu này  
được lưu trong file và cơ sở dữ liệu trên máy tính hoặc dưới dạng giấy trong các  
hồ sơ văn phòng. Những file này là thành phần HTTT, được tạo ra trực tiếp hoặc  
lưu trữ trong file.  
Nếu chỉ xét về khía cạnh xử lý thông tin thì HTTT chỉ bao gồm hai thành phần  
chính là dữ liệu và xử lý  
Các dữ liệu là các thông tin được cấu trúc hoá. Với mỗi cấp quản lý lượng thông  
tin xử lý có thể rất lớn, đa dạng và biến động cả về chủng loại và cách thức xử lý. Thông  
tin cấu trúc bao gồm luồng thông tin vào và luồng thông tin ra.  
Luồng thông tin vào:  
Các thông tin cần thiết cho quá trình xử lý, có thể là các thông tin phản ánh cấu  
trúc doanh nghiệp và các thông tin phản ánh hoạt động của doanh nghiệp. Chúng được  
phân thành ba loại sau:  
- Thông tin cần cho tra cứu: Thông tin dùng chung cho hệ thông và ít bị thay đổi.  
Các thông tin này thường được cập nhật một lần và chỉ dùng cho tra cứu khi xử lý  
thông tin sau này.  
- Thông tin luân chuyển chi tiết: Loại thông tin chi tiết về hoạt động của đơn vị,  
khối lượng thông tin thường rất lớn, cần phải xử lý kịp thời.  
- Thông tin luân chuyển tổng hợp: Loại thông tin được tổng hợp từ hoạt động của  
các cấp thấp hơn, thông tin này thường cô đọng, xử lý định kỳ theo lô.  
Luồng thông tin ra:  
- Thông tin đầu ra được tổng hợp từ các thông tin đầu vào và phụ thuộc vào nhu  
cầu quản lý trong từng trường hợp cụ thể, từng đơn vị cụ thể. Thông tin ra là kết quả  
của việc tra cứu nhanh về một đối tượng cần quan tâm, đồng thời phải đảm bảo sự  
chính xác và kịp thời.  
- Các thông tin đầu ra quan trọng nhất được tổng hợp trong quá trình xử lý là các  
báo cáo tổng hợp, thống kê, thông báo. Các mẫu biểu báo cáo thống kê phải phản ánh  
cụ thể trực tiếp, sát với từng đơn vị.  
- Ngoài những yêu cầu được cập nhật thông tin kịp thời cho hệ thống, luồng  
thông tin ra phải được thiết kế linh hoạt mềm dẻo. Đây là chức năng thể hiện tính mở,  
và khả năng giao diện của hệ thống với môi trường bên ngoài. Thông tin đầu ra gắn  
với chu kỳ thời gian tuỳ ý theo yêu cầu của bài toán quản lý cụ thể, từ đó ta có thể lọc  
bớt được thông tin thừa trong quá trình xử lý.  
- 9 -  
Các xử lý là các quy trình, các phương pháp, chức năng xử lý thông tin và biến đổi  
thông tin. Các xử lý nhằm vào hai mục đích chính:  
- Sản sinh các thông tin có cấu trúc theo thể thức quy định như các chứng từ giao  
dịch, các sổ sách báo cáo thông kê.  
- Cung cấp các thông tin trợ giúp quyết định, thông thường là các thông tin cần  
thiết cho lựa chọn quyết định của lãnh đạo, hoặc các lựa chọn tự động trong các  
quyết định dựa trên giải thuật.  
1.2. Các hệ thống thông tin tự động hoá  
Hệ thống thông tin tự động hoá là hệ thống nhân tạo mà hoạt động của nó được  
điều khiển bởi một hay nhiều máy tính. Để đơn giản trong tài liệu này khi nói hệ  
thống thông tin bao hàm cả ý nghĩa tự động hoá (có dùng máy tính). Chúng ta có thể  
phân biệt nhiều loại hệ thống thông tin tự động hoá khác nhau nhưng chúng có các  
thành phần chung sau:  
• Phần cứng máy tính: CPU, bộ nhớ trong, bộ nhớ ngoài và các thiết bị ngoại  
vi v.v...  
• Phần mềm máy tính: Chương trình hệ thống như hệ điều hành, các chương  
trình tiện ích, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, các chương trình ứng dụng.  
• Con người: Những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động của hệ thống  
do hệ thống không tự động hoá hoàn toàn, thường họ cung cấp đầu vào và  
sử dụng đầu ra của hệ thống, đặc biệt là đảm bảo các hoạt động phải xử lý  
bằng thủ công cho hệ thống.  
• Dữ liệu: Thông tin mà hệ thống lưu giữ trong một khoảng thời gian  
Thủ tục: Các lệnh và cách giải quyết cho các hoạt động của hệ thống.  
a. Phân loại các hệ thống tự động:  
ƒ Hệ thống chạy theo lô: Hệ thống mà trong đó thông tin thường được  
truy cập một cách tuần tự có nghĩa là hệ thống máy tính này sẽ đọc tất  
cả các bản ghi trong cơ sở dữ liệu, xử lý và cập nhật tất cả các bản ghi  
này.  
ƒ Hệ thống trực tuyến: Hệ thống chấp nhận đầu vào trực tiếp từ nơi mà nó  
được tạo ra. Nó cũng là một hệ thống mà đầu ra hoặc kết quả của sự tính  
toán được đưa trở lại nơi yêu cầu  
ƒ Hệ thống thời gian thực: Hệ thống điều khiển hoạt động bằng dữ liệu  
nhận được, xử lý chúng và kết quả được đưa trở lại một cách nhanh  
chóng để tác động đến hệ thống tại thời điểm đó.  
- 10 -  
ƒ Hệ thống hỗ trợ quyết định: Các hệ thống máy tính này không đưa ra  
những quyết định riêng của chúng mà thay vào đó, giúp các nhà quản lý  
và các công nhân có kiến thức khác nhau trong việc tổ chức để đưa ra  
quyết định thông minh về các hoạt động khác nhau. Đặc biệt, hệ thống  
hỗ trợ quyết định không nhận thức được rằng nó không hoạt động trên  
một cơ sở bình thường mà nó được sử dụng trên một cơ sở đặc biệt bất  
cứ khi nào cần thiết.  
ƒ Hệ thống dựa trên tri thức: Mục đích của các nhà khoa học về máy tính,  
làm việc trong một trường trí thông minh nhân tạo là để tạo ra các  
chương trình mà mô phỏng những hoạt động của con người. Trong một  
số hệ thống chuyên dụng, mục tiêu nay đã gần đạt được. Với các hệ  
thống khác, mặc dù chúng ta chưa biết làm cách để xây dựng các  
chương trình hoạt động tốt trên hệ thống, chúng ta có thể bắt đầu xây  
dựng các chương trình mà hỗ trợ một cách đáng kể cho hoạt động của  
con người trong một nhiệm vụ.  
ƒ Hệ thống thông tin quản lý (MIS): Hệ thống đưa vào máy tính để tạo  
thông tin kịp thời và chính xác phục vụ cho các cấp quản lý.  
Hệ thống thông tin tự động hoá là hệ thống có sự tham gia của máy tính để xử  
lý thông tin và có nhiều mức độ xử lý thông tin tự động hoá khác nhau.  
b. Mức độ tự động hoá :  
- Tự động hoá toàn bộ : Hệ thống được tự động hoá bằng máy tính trong đó con người  
chỉ đóng vai trò phụ trong hệ thống.  
- Tự động hoá một phần : Hệ thống phân chia công việc xử lý giữa con người (thực  
hiện thủ công) và một bộ phận thực hiện trên máy tính. Việc tự động hoá một phần  
xuất phát từ khả năng hạn chế về tổ chức, kinh phí, yêu cầu hoặc kỹ thuật, nhưng mọi  
việc thiết kế đều được xem xét về ngữ cảnh tự động hoá cao trong tương lai cho phép.  
c. Phương thức xử lý thông tin:  
Xử lý mẻ (Batch Processing): Các giao dịch diễn ra theo luồng thông tin đến  
gộp thành nhóm và đợi xử lý theo mẻ. Thí dụ : Các giao dịch bán hàng trong một  
ngày được cập nhật vào cuối mỗi ngày và sau khi các thông tin đó được cập nhật thì  
hệ thống sẽ thực hiện các thao tác tính tồn kho, tính doanh thu bán ra trong ngày.  
Ngoài ra các hệ thống xử lý theo mẻ có thể áp dụng trong các bài toán như tính lương,  
tuyển sinh và các bài toán giải quyết có tính định kỳ theo chu kỳ thời gian nhất định.  
Phương thức này thường dùng cho các trường hợp sau :  
+ In các báo cáo, kết xuất, thống kê.  
+ In các giấy tờ giao dịch có số lượng lớn.  
+ Xử lý có tính chất định kỳ.  
+ Thường dùng khi vào ra và xử lý một số lượng nhỏ các giao dịch.  
- 11 -  
Xử lý trực tuyến (on-line processing): Khi giao dịch phát sinh, các thông tin  
đến được cập nhật và tự động xử lý ngay. Xử lý trực tuyến dùng để hiển thị, chỉnh  
đốn, sửa chữa các tệp dữ liệu, phục vụ trực tiếp khách hàng tại chỗ. Thí dụ về xử lý  
trực tuyến như bán vé máy bay, vé tàu, hệ rút tiền tự động ATM và hệ INTERNET.  
Ngày nay người ta có xu hướng dùng xử lý trực tuyến nhiều do máy tính có giá thành  
thấp. Tuy nhiên việc xử lý trực tuyến trong môi trường cơ sở hạ tầng về CNTT và  
viễn thông còn yếu và bất cập thì điều này không hẳn là phương thức tốt nhất.  
Ưu điểm xử lý trực tuyến là giảm được công việc giấy tờ, các khâu trung gian;  
kiểm tra được sự đúng đắn của dữ liệu ngay khi thu nhập; người dùng hiểu rõ được  
qui trình xử lý; cho trả lời nhanh chóng.  
Nhược điểm xử lý trực tuyến là chi phí hoạt động đắt hơn cả về phần cứng và  
phần mềm; xây dựng hệ thống tốn công, tốn thời gian hơn; sử dụng CPU không kinh  
tế do phải thường trực máy tính; xử lí chậm khi khối lượnglớn; khó bảo đảm tính tin  
cậy; khó phục hồi dữ liệu vì dữ liệu luôn ở trên dòng dữ liệu; đòi hỏi nhiều biện pháp  
xử lý đặc biệt đối với dữ liệu.  
Xử lý thời gian thực: Các thông tin xử lý mang yếu tố thời gian, các hành vi của một  
hệ thống phải thoả mãn một số ràng buộc ngặt nghèo về thời gian. Phuơng pháp xử lý  
thời gian thực phù hợp với các hệ thống điều khiển và máy tính lệ thuộc vào hệ thống  
ngoài chẳng hạn hệ thống điều khiển các lò sấy, lò nung,v.v..  
1.3. Qúa trình phát triển hệ thống thông tin :  
Quá trình phân tích và thiết kế hệ thống bao gồm các công việc cần hoàn thành  
theo trình tự nhất định có thể bao gồm các bước sau:  
+ Xác định vấn đề, các yêu cầu quản lý hệ thống.  
+ Xác định mục tiêu, ưu tiên, giải pháp sơ bộ và chứng minh tính khả thi.  
+ Phân tích các chức năng và dữ liệu của hệ thống.  
+ Thiết kế logic: Trả lời câu hỏi làm gì ? hoặc là gì ?. Phân tích sâu hơn các  
chức năng, các dữ liệu của hoạt động cũ để đưa ra mô tả hoạt động mới.  
+ Thiết kế vật lý: đưa ra những biện pháp, phương tiện thực hiện, nhằm trả lời  
câu hỏi : Làm như thế nào ?.  
+ Cài đặt hệ thống: Lựa chọn ngôn ngữ, hệ quản trị cơ sở dữ liệu và lập trình.  
+ Khai thác và bảo trì.  
Trình tự phát triển của hệ thống tuân theo một số chu trình :  
Chu trình thác nước: Phát triển vào những năm 1970, mô tả sự phát triển của hệ thống  
theo 5 giai đoạn: Phân tích, thiết kế, mã hoá, kiểm sửa và bảo trì. Các giai đoạn này kế  
tiếp nhau và mỗi giai đoạn chỉ bắt đầu khi giai đoạn trước đó kết thúc. Nhược điểm  
chính của chu trình thác nước là kiểm sửa thực hiện ở giai đoạn cuối và không có sự  
quay lui để chỉnh sửa các bước trước nên các sai sót dễ gây ra các rủi ro cho quá trình  
phát triển hệ thống. Tuy nhiên chu trình thác nước lại đơn giản phù hợp với các hệ  
- 12 -  
thống vừa và nhỏ, ít phức tạp và được dùng rất phổ biến. Hình 1.4.a mô tả chu trình  
tuyến tính phát triển hệ thống.  
Sự tiến hoá của quy trình phát triển phần mềm dẫn đến một số kiểu chu trình tiên tiến  
như: Chu trình chữ V, mẫu thử lặp (1980), chu trình xoắn ốc (1988). Các chu trình  
này khắc phục được các nhược điểm của chu trình thác nước truyền thống.  
§Þnh nghÜa vÊn ®Ò  
Môc ®Ých, h¹n chÕ, tµi nguyªn cña dù ¸n  
Nghiªn cøu tÝnh kh¶ thi  
Gi¶i ph¸p s¬ bé, chi phÝ, lîi Ých  
Ph©n tÝch hÖ thèng  
M« h×nh hÖ thèng vµ c¸c môc tiªu chi tiÕt  
ThiÕt kÕ  
HÖ thèng  
ThiÕt kÕ  
chung  
ThiÕt kÕ  
Chi tiÕt  
Thñ tôc, ®Ò xuÊt thiÕt bÞ, ®Æc t¶, ch−¬ng tr×nh vµ cÊu tróc  
c¬ së d÷ liÖu  
Ph¸t triÓn  
HÖ thèng th«ng  
tin  
Thö nghiÖm vµ  
Hoµn thiÖn  
Ph¸t triÓn vµ cµi  
®Æt  
Sö dông hÖ thèng  
KiÓm tra rµ  
so¸t l¹i  
B¶o d−ìng  
H×nh 1.4.a : Chu k× tuyÕn tÝnh ph¸t triÓn hÖ thèng  
- 13 -  
Việc phân chia thành giai đoạn chỉ có tính tương đối, tùy thuộc từng phương pháp  
chúng ta sử dụng. Các giai đoạn phát triển của hệ thống bao gồm:  
Giai đoạn 1. - Khảo sát hiện trạng và xác lập dự án.  
- Tìm hiểu phê phán để đưa ra giải pháp.  
Giai đoạn 2. Phân tích hệ thống. (giai đoạn thiết kế logic).  
Giai đoạn 3. Thiết kế tổng thể: Xác lập vai trò của môi trường một cách tổng  
thể trong hệ thống.  
Giai đoạn 4 : - Thiết kế chi tiết , bao gồm các thiết kế về các thủ tục.  
- Thủ công.  
- Kiểm soát phục hồi.  
- Thiết kế cơ sở dữ liệu.  
- Thiết kế các mô đun, cấu trúc chương trình.  
Giai đoạn 5: Cài đặt, lập trình.  
Giai đoạn 6: Khai thác và bảo trì.  
Quá trình phân tích và thiết kế hệ thống có thể xem xét qua sơ đồ phân tích  
thiết kế cấu trục gồm 4 bước chính tương ứng với các khối chỉ ra trong sơ đồ hình 1.5.  
Trong sơ đồ này người sử dụng mong muốn có hệ thống thông tin mới thay thế  
hệ thống hiện tại, nhưng đó là cách làm không chuyên nghiệp. Sơ đồ này chỉ ra cách  
thực hiện từ khối I, khối II, khối III rồi khối IV. Trong đó  
Khối I : Khảo sát, mô tả hệ thống cũ làm việc như thế nào ?  
Khối II : Mô tả hệ thống cũ làm việc làm gì ?. Lúc này hệ thống chỉ xác định các yếu  
tố bản chất và loại bỏ các yếu tố vật lý.  
Khối III : Mô tả hệ thống mới làm gì ?. Dựa trên khối II ta cần bổ sung các yêu cầu  
mới cho hệ thống và khắc phục hoặc lược bỏ các nhược điểm của hệ thống cũ.  
Khối IV : Mô tả hệ thống mới làm việc như thế nào ?. Giai đoạn thiết kế nhằm hướng  
tới cài đặt, xây dựng hệ thống mới có thể hoạt động được.  
- 14 -  
Sau đây là một quá trình phát triển hệ thống thông tin mẫu thử lặp  
X¸c ®Þnh vÊn ®Ò  
X¸c ®Þnh/ x¸c ®Þnh l¹i  
môc ®Ých hÖ thèng  
Nghiªn cøu tÝnh kh¶ thi  
cña hÖ thèng  
ThiÕt kÕ chi tiÕt  
X¸c ®Þnh vÊn ®Ò  
chÝnh  
hÖ thèng  
Cµi ®Æt hoµn thiÖn  
ThiÕt kÕ nguyªn  
mÉu  
KiÓm tra hÖ thèng  
lÇn cuèi  
Cµi ®Æt vµ ®¸nh gi¸  
Hình 1.4.b Qúa trình phát triển mẫu thử lặp  
Ng−êi sö dông mong  
muèn xö lý trùc tiÕp  
M« h×nh hÖ  
thèng møc  
vËt lý.  
m« t¶ ho¹t ®éng hÖ  
thèng míi  
lµm viÖc nh− thÕ  
nµo?  
m« t¶ ho¹t ®éng cña  
hÖ thèng hiÖn t¹i  
lµm viÖc nh− thÕ nµo  
(HOW TO DO)  
(HOW TO DO)  
IV  
I
§©y lµ vÊn ®Ò khã  
Ng−êi sö dông  
mong muèn  
Ng−êi sö dông vµ  
ng−êi ph©n tÝch  
M« t¶ hÖ thèng hiÖn  
t¹i lµm g× ?  
M« t¶ hÖ thèng míi  
M« h×nh hÖ  
thèng møc  
Logic  
lµm g× ?  
(WHAT TO DO)  
III  
(WHAT TO DO)  
II  
Ng−êi thiÕt kÕ mong  
muèn  
Hình 1.5 Các giai đoạn của phân tích và thiết kế hệ thống thông tin  
Vai trò phân tích thiết kế hệ thống: Phân tích hệ thống là giai đoạn rất quan  
trọng trong quá trình phát triển hệ thống thông tin. Nếu đầu tư cho phân tích thiết kế  
càng nhiều bao nhiêu thì các giai đoạn sau như cài đặt, kiểm thử và khai thác bảo trì  
- 15 -  
càng ít bấy nhiêu. Hình 1.6a và 1.6 b cho ta hình dung về vai trò của thiết kế hệ thống  
với 2 trường hợp: Có thiết kế và không thiết kế.  
B¶o tr×  
B¶o  
tr×  
KiÓm thö  
KiÓm thö  
Cµi ®Æt  
Cµi ®Æt  
ThiÕt kÕ  
ThiÕt  
kÕ  
H×nh 1.6.a HÖ thèng cã thiÕt kÕ  
H×nh 1.6.b HÖ thèng kh«ng cã thiÕt kÕ  
Theo Tài liệu [8] chi phí phân tích thiết kế hệ thống có thể được đánh giá 17% so với  
toàn bộ chi phí phát triển xây dựng HTTT trong khi đó việc lập trình chỉ chiếm 8%  
được chỉ ra trong sơ đồ hình 1.7 sau  
Ph©n tÝch &  
thiÕt kÕ  
17%  
LËp tr×nh  
8%  
B¶o tr×  
50%  
25%  
KiÓm söa  
H×nh 1.7 Ph©n bè chi phÝ cho c¸c giai ®o¹n ph¸t triÓn HTTT  
- 16 -  
1.4 Khảo sát hiện trạng và xác lập dự án  
1.4.1 Đại cương giai đoạn khảo sát  
Khảo sát hiện trạng và xác lập dự án là giai đoạn đầu tiên của quá trình  
phân tích và thiết kế hệ thống. Việc khảo sát thường được tiến hành qua hai giai  
đoạn:  
- Khảo sát sơ bộ nhằm xác định tính khả thi của dự án.  
- Khảo sát chi tiết nhằm xác định chính xác những gì sẽ thực hiện và khẳng định  
những lợi ích kèm theo.  
Giai đoạn khảo sát còn có thể coi như "Nghiên cứu tính khả thi” hoặc "Nghiên cứu  
hiện trạng”. Mục đích cuối cùng của giai đoạn khảo sát là "ký kết được hợp đồng  
thoả thuận" giữa nhà đầu tư và nhóm phát triển hệ thống để xây dựng hệ thống thông  
tin đối với hệ thống nghiệp vụ của một tổ chức.  
1.4.2 Yêu cầu thực hiện của giai đoạn khảo sát  
Yêu cầu của giai đoạn khảo sát cũng chính là mục tiêu của người phân tích và  
thiết kế cần xác định trong giai đoạn này bao gồm các giai đoạn:  
+ Khảo sát đánh giá sự hoạt động của hệ thống cũ.  
+ Đề xuất mục tiêu, ưu tiên cho hệ thống mới.  
+ Đề xuất ý tưởng cho giải pháp mới.  
+ Vạch kế hoạch cho dự án.  
+ Lập báo cáo về khảo sát và xác định tính khả thi  
1.4.3 Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng  
Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng nhằm phát hiện những nhược điểm cơ bản của  
hệ thống cũ, đồng thời cũng định hướng cho hệ thống mới cần giải quyết "cải tạo cái  
cũ xây dựng cái mới"  
a. Phương pháp khảo sát hiện trạng:  
Các mức khảo sát cho dù là khảo sát sơ bộ cũng được phân biệt 4 mức theo thứ  
tự: Tác vụ, điều phối quản lý, quyết định và tư vấn.  
Mức thao tác, thừa hành (tác vụ): Người sử dụng làm việc trực tiếp với các thao  
tác của hệ thống và họ thường xuyên nhận ra những khó khăn và những vấn đề nảy  
sinh ít người được biết. Những công việc này có ảnh hưởng rất lớn do có sự thay đổi  
các thủ tục và những thay đổi khác kèm theo khi có hệ thống mới.  
Mức điều phối, quản lý (điều phối): Mức giám sát của các những người quản lý  
trực tiếp. Họ cung cấp thông tin báo cáo tóm tắt định kỳ, các thông tin chi tiết mà họ  
- 17 -  
quản lý tại mọi thời điểm. Tuy nhiên họ không nhìn vấn đề xa được, và không phải là  
người trực tiếp ra quyết định.  
Mức quyết định, lãnh đạo (quyết định): Quan sát ở mức tổ chức, lãnh đạo ra  
quyết định, những ý tưỏng mang tính chiến lược phát triển lâu dài quyết định xu  
hướng phát triển của hệ thống.  
Mức chuyên gia cố vấn (tư vấn): Mức này bao gồm cố vấn và những người  
chuyên nghiệp. Vai trò của họ tư vấn về chuyên môn sâu và có thể phê phán hoặc  
chấp nhận hệ thống. Họ có thể quan trọng hay không tuỳ thuộc vào đánh giá của mức  
quyết định.  
Chuyªn  
gia  
L·nh ®¹o  
§iÒu phèi  
Thao t¸c thõa hµnh  
Mỗi một mức ở trên có vai trò và ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển  
chung của hệ thống theo các khía cạnh khác nhau nên cần phải được khảo sát đầy đủ.  
b. Hình thức khảo sát:  
Có nhiều hình thức khảo sát, chúng được sử dụng kết hợp để nâng cao hiệu quả,  
tính xác thực, tính khách quan và tính toàn diện của phương pháp luận.  
- Quan sát theo dõi: Bao gồm quan sát chính thức và không chính thức.  
Quan sát chính thức thường có chuẩn bị và thông báo trước. Quan sát từng  
phần tử riêng biệt khi thu thập thông tin không phải là phương pháp tốt nhất. Hệ thống  
tương lai có thể có cách thức làm việc thay đổi, hơn nữa những gì ta dễ nhìn thấy có  
thể không thuận tiện và không bình thường và có thể ảnh hưởng đến chất lượng  
nghiên cứu.  
Quan sát không chính thức: Để có cái nhìn tổng quát về một tổ chức cần xem xét  
các giấy tờ và tài liệu, lý do dừng công việc, phân chia thời gian không hợp lý và sự  
phản ánh trung thực về môi trường làm việc tốt. Quan sát không chính thức thường  
cho ta các kết luận khách quan hơn.  
Quá trình theo dõi có ghi chép và sử dụng các phương pháp để rút ra các kết  
luận có tính thuyết phục và khoa học.  
- 18 -  
- Phỏng vấn, điều tra: Phương pháp trao đổi trưc tiếp với người tham gia hệ thống  
thông qua các buổi gặp mặt bằng một số kỹ thuật. Phương pháp này đòi hỏi các chỉ  
dẫn rõ ràng cho người sử dụng.  
Thông thường người phân tích sử dụng các bảng hỏi, các mẫu điều tra. Danh  
sách các câu hỏi có thể được thiết kế dựa trên các điểm sau:  
Tiêu đề: mô tả các mục tiêu và các nội dung chính  
Phân lớp dữ liệu: Các loại dữ liệu sẽ sử dụng  
Dữ liệu: Nội dung của dữ liệu trong từng loại.  
Nói chung, phương pháp này phức tạp và không có hiệu quả với những người  
phân tích thiếu kinh nghiệm. Dễ thấy mỗi phương pháp đều có điểm mạnh cũng như  
điểm yếu và phù hợp với từng ngữ cảnh cụ thể. Tuy nhiên bất chấp phương pháp sử  
dụng là gì thì nguyên tắc chung là:  
- Càng thu thập được nhiều thông tin về môi trường hoạt động của tổ chức thì  
càng hiểu các vấn đề cần giải quyết, càng có khả năng đưa ra các câu hỏi về các vấn  
đề cần quan tâm.  
- Thông tin có thể chia thành các nhóm: Thông tin chung có cấu trúc theo  
hướng dọc của tổ chức, thông tin về tổ chức, về các đơn vị có liên quan trực tiếp đến  
các vấn đề hiện hành cần giải quyết.  
Phỏng vấn là phương pháp cơ bản cho mọi cuộc điều tra. Người điều tra đưa ra  
các câu hỏi và chắt lọc lấy các thông tin cần thiết qua các câu trả lời của các người  
được điều tra. Có hai loại câu hỏi thường được sử dụng:  
- Câu hỏi trực tiếp : Là các câu hỏi đóng mà các phương án trả lời có thể dự  
kiến sẵn, chỉ cần khẳng định đó là phương án nào. Câu hỏi đóng là có ích khi ta đã có  
chủ định điều tra và cần biết rõ các chi tiết .  
- Các câu hỏi gợi mở: Là câu hỏi mà số khả năng trả lời rất lớn, người hỏi chưa  
hình dung hết được. Câu hỏi mở là có ích khi người hỏi chưa có ý định rõ ràng, muốn  
hỏi để thăm dò, để gợi mở vấn đề, và người trả lời phải là người có hiểu biết rộng, cán  
bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý.  
1.4.4 Phát hiện các yếu kém của hệ thống hiện tại  
Với mục đích xây dựng hệ thống mới thay thế hệ thống hiện tại, nhà phân tích  
cần chỉ ra các yếu kém của hệ thống hiện tại. Đây là công việc khó khăn và hết sức tế  
nhị vì rằng hệ thống cũ dù rằng có các nhược điểm nhưng dù sao cũng gặp phải tính  
bảo thủ trì trệ của một số cá nhân dẫn đến sự bất hợp tác trong việc cung cấp dữ liệu  
Sau đây là các gợi ý nhằm chỉ ra các yếu kém của hệ thống:  
-
Hệ thống thiếu một số chức năng nào đó, thiếu phương tiện xử lí thông tin,  
thiếu con người thực hiện, thiếu người quản lý v.v.  
- 19 -  
-
Hệ thống hoạt động kém hiệu lực, hiệu suất thấp do các yếu tố về phương  
pháp xử lý không chặt chẽ, cơ cấu tổ chức bất hợp lý, lưu chuyển thông tin  
vòng vèo, quá dài, tài liệu trình bày kém và xảy ra sự ùn tắc thông tin, sự  
quá tải về xử lý.  
-
-
Tổn phí cao : Thực chất sự chi phí cho hệ thống cần được đánh giá theo một  
tiêu chuẩn và khía cạnh nào đó như yếu tố thời gian, con người, quá trình  
khai thác  
Chất lượng thông tin : Các thông tin của hệ thống cũ thường không ổn định,  
thiếu chính xác, không rõ ràng và thiếu tính thời sự  
1.5 Phân loại và biên tập thông tin điều tra  
Các thông tin thu thập được qua quá trình khảo sát cần phải rà soát, phân loại và  
biên tập theo các tiêu chí.  
-
Thông tin phản ánh hiện tại hay tương lai: Thông tin cho hiện tại phản ánh  
chung về môi trường, hoàn cảnh, các thông tin có lợi ích cho nghiên cứu hệ  
thống quản lý. Các thông tin cho tương lai được phát biểu từ các mong  
muốn, phàn nàn, các dự kiến kế hoach. Các thông tin cho tương lai có thể có  
ý thức nhưng không được phát biểu cần được gợi ý hoặc các thông tin vô ý  
thức cần được dự đoán.  
-
Thông tin dạng tĩnh, động hay biến đổi: Các thông tin tĩnh là thông tin phản  
ánh tình trạng tĩnh tại, sơ đẳng, ổn định như cơ cấu tổ chức, thông tin về các  
phòng ban, họ tên, chức vụ, năm sinh và thông tin cấu trúc hoá như sổ sách  
v.v... Các thông tin động thường các thông tin về không gian như các đường  
di chuyển tài liệu, về thời gian như thời gian xử lý, hạn định chuyển giao  
thông tin... Các thông tin biến đổi: Quy tắc quản lý, các quy định của nhà  
nước, của cơ quan làm nền cho việc xử lý thông tin. Các thủ tục, những công  
thức tính toán cũng như các điều kiện khởi động công việc, các quy trình xử  
lý v.v ...  
-
Thông tin thuộc môi trường hay nội bộ: Phân biệt các thông tin của nội bộ  
hoặc từ môi trường có tác động với hệ thống. Ranh giới giữa thông tin môi  
trường và nội bộ quyết định phạm vi của hệ thống.  
Một điểm đáng lưu ý trong việc phân loại là chú trọng việc đánh giá các tiêu chuẩn  
như tần suất xuất hiện, độ chính xác và thời gian sống của thông tin  
1.6 . Xác định các yêu cầu, phạm vi, mục tiêu và hạn chế của dự án  
1.6.1 Xác định các yêu cầu nảy sinh  
Một hệ thống thông tin thường khá phức tạp mà không thể thực hiện trong một  
thời gian nhất định bởi vậy cần hạn chế, đưa ra một số ràng buộc để hệ thống mang  
tính khả thi. Tại thời điểm này cần xác định các mục tiêu cho dự án. Chính các mục  
- 20 -  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 254 trang Thùy Anh 20940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phan_tich_va_thiet_ke_he_thong_thong_tin_truong_d.pdf