Giáo trình nghề Nông nghiệp và sinh học ứng dụng - Môđun: Quản trị doanh nghiệp (Phần 2)
Chương 4: CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO
Mục tiêu chương
Học xong chương này người học có thể:
1. Giải thích sự khác nhau giữa các nhà quản trị và các nhà lãnh đạo
2. Mô tả các thuyết hành vi về lãnh đạo
3. So sánh mô hình lãnh đạo của Hersey – Blanchard và mô hình tham
gia lãnh đạo
4. Tóm lựơc mô hình đường dẫn – mục tiêu
5. Xác định các nguồn hình thành quyền lực mà một nhà lãnh đạo có thể
sở hữu
6. Định nghĩa quá trình tạo động cơ
7. Giải thích lý thuyết hệ thống nhu cầu
8. Phân biệt giữa Thuyết X và Thuyết Y
9. Giải thích ý nghĩa về mặt động cơ của Thuyết duy trì – động viên
10.Xác định các đặc điểm mà một người định hướng thành tựu cao muốn
có trong một công việc
11.Giải thích bằng cách nào mà các mục tiêu có thể khuyến khích nhân
viên
12.Xác định các cách thức để thiết kế các công việc mang tính động viên
13.Mô tả những ý nghĩa của thuyết công bằng
14.Giải thích những quan hệ chủ yếu trong thuyết kỳ vọng
15.Xác định các hoạt động quản trị có thể dẫn đến các nhân viên được
động viên hơn
92
1 Những vấn đề chung
1.1 Khái niệm chức năng lãnh đạo
Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng lên người khác để làm cho họ
thực sự sẵn sàng và nhiệt tình phấn đấu để hoành thành những mục tiêu của tổ
chức
1.2 Nội dung của chức năng lãnh đạo
Thiết lập và truyền đạt tầm nhìn cho tổ chức
Huấn luyện, cố vấn và chỉ dẫn cho nhân viên
Động viên, khích lệ nhân viên
Giải quyết xung đột để tạo ra 1 môi trường làm việc hiệu quả và hợp tác
2 Nhà lãnh đạo
2.1 Phân biệt nhà lãnh đạo và nhà quản trị
Mặc dù sự thật là một nhà quản trị giỏi hầu như chắc chắn là một nhà
lãnh đạo giỏi. Như vậy lãnh đạo là một chức năng cơ bản của các nhà quản
trị, nhưng quản trị bao gồm nhiều vấn đề hơn lãnh đạo.
Lãnh đạo và quản trị là 2 thuật ngữ sử dụng các hệ thống có con người
ở trong, chúng không đồng nhất và được giải thích tùy thuộc lĩnh vực nghiên
cứu. Cả 2 thuật ngữ đều bao hàm ý tác động và điều khiển nhưng khác nhau
về mức độ và phương thức tiến hành. Lãnh đạo là quá trình định hướng dài
hạn cho chuỗi các tác động của chủ thể quản trị. Quản trị là quá trình chủ thể
tổ chức liên kết và tác động lên đối tượng bị quản trị để thực hiện các định
hướng tác động dài hạn. Lãnh đạo là quản trị nhưng mục tiêu rộng hơn, xa
hơn, khái quát hơn. Còn quản trị là lãnh đạo trong trường hợp mục tiêu cụ thể
hơn và chuẩn xác hơn.
Những nhà quản trị hoàn toàn lý tưởng để trở thành người lãnh đạo.
Tuy nhiên, không phải mọi nhà lãnh đạo đều có được những năng lực và kỹ
năng cần thiết cho các chức năng quản trị khác, vì thế không phải tất cả các
nhà lãnh đạo đều có khả năng trở thành các nhà quản trị. Và sự thật là nếu
một cá nhân có khả năng ảnh hưởng đến những người khác không nói lên
được rằng họ cũng có khả năng hoạch định, tổ chức và kiểm soát. Người lãnh
93
đạo là người tạo ra một viễn cảnh để có thể tập hợp được con người, còn
người quản trị là người tập hợp nhân tài, vật lực để biến viễn cảnh thành hiện
thực.
2.2 Những cơ sở của quyền lực
2.2.1. Quyền hạn
Quyền hạn là khả năng mà cá nhân hay tập thể kiểm soát và sử dụng
các nguồn lực của tổ chức để tiến hành một công việc nào đó. Một cá nhân có
quyền hạn trong một tổ chức là người có khả năng đưa ra những quyết định
quan trọng đối với các nguồn lực của nó để đạt đến những mục tiêu đã đề ra.
Quyền hạn xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau như: địa vị của người ra
quyết định, khả năng chuyên môn và tri thức của cá nhân, quyền lực được
giao.
2.2.2. Quyền lực
Quyền lực là quyền hạn được giao cho một chức vụ chính thức do một
nhà lãnh đạo đảm nhiệm và có thẩm quyền quyết định. Hay quyền lực là một
hình thức quyền hạn hợp pháp của ai đó, được phê chuẩn chính thức và dự
liệu trước.
2.2.3. Trách nhiệm
Trách nhiệm là nghĩa vụ đòi hỏi phải hoàn thành tốt nhiệm vụ nào đó.
Cá nhân đảm nhiệm một chức vụ, được giao quyền để hoàn thành các nhiệm
vụ đó phải chịu trách nhiệm đối với những kết quả do những hoạt động nhân
danh chức vụ tạo ra. Như vậy, trách nhiệm phải gắn liền với quyền lực và
quyền hạn.
2.2.4. Những cơ sở của quyền lực
Quyền hạn, quyền lực và trách nhiệm là những khía cạnh trọng tâm của
lãnh đạo. Một nhà lãnh đạo thành công phải có quyền hạn, quyền lực và phải
biết sử dụng chúng một cách phù hợp. Cơ sở của quyền hạn giải thích rõ
nguyên nhân tại sao những người dưới quyền lại tuân theo quyền lực của
người lãnh đạo. John French và Bertram Raven xác định năm nguồn hình
thành của quyền lực lãnh đạo:
a. Quyền lực chính thức/Quyền lực hợp pháp/Quyền lực vị trí
Quyền lực chính thức và quyền hạn là một. Quyền lực chính thức là
quyền lực mà một người có được từ vị trí của họ trong tổ chức. Những người
ở vị trí quyền lực chính thức thì cũng có quyền khen thưởng và quyền cưỡng
chế, nhưng quyền lực chính thức thì rộng hơn quyền khen thưởng và quyền
94
cưỡng chế. Nhờ có quyền này mà khi hiệu trưởng, các nhà quản trị trong ngân
hàng, hay đại úy ra lệnh làm gì thì giáo viên, thu ngân hay trung úy phải nghe
và tuân lệnh.
b. Quyền lực cưỡng chế/ép buộc/trừng phạt
Quyền lực cưỡng chế là quyền lực dựa trên khả năng trừng phạt hoặc
kiểm soát của người lãnh đạo. Quyền lực cưỡng chế/ép buộc dựa trên cơ sở
phục tùng của cấp dưới do họ lo sợ phải chịu những hình phạt nào đó khi
không tuân theo mệnh lệnh của nhà lãnh đạo. Hình phạt bao gồm nhiều hình
thức như: khiển trách chính thức, hạ lương, giáng cấp, đình chỉ công tác hay
đuổi việc. Tuy nhiên, quyền lực cưỡng chế/ép buộc có thể không phát huy tác
dụng, nâng cao hiệu quả như khen thưởng. Bởi nhiều nhân viên có hể có
những phản ứng tiêu cực đối với hình phạt như báo cáo sai sự thật, hay phá
hoại tài sản của công ty,…
c. Quyền lực khen thưởng
Quyền khen thưởng là quyền xuất phát từ thẩm quyền của người lãnh
đạo để khen thưởng cấp dưới. Hay nói cách khác, các nhân viên tuân theo
những mệnh lệnh, yêu cầu của cấp trên với sự tin tưởng là những thành tích
của họ sẽ được khen thưởng. Phần thưởng có thể là vật chất hoặc phi vật chất
như thăng chức, tăng lương, sự thỏa mãn trong công việc, v.v…
d. Quyền lực chuyên môn
Quyền lực chuyên môn là khả năng ảnh hưởng nhờ những khả năng,
kinh nghiệm, kĩ năng hay kiến thức đặc biệt nào đó. Trong những năm gần
đây, cùng với sự bùng nổ về kiến thức kĩ thuật, quyền lực chuyên môn trở
thành một quyền lực tiềm năng trong các tổ chức. Khi công việc ngày được
chuyên môn hóa cao, các nhà quản trị phải phụ thuộc nhiều hơn vào chuyên
môn của “các chuyên gia” dưới quyền để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Nếu một công nhân có tay nghề, kiến thức và chuyên môn quan trọng đối với
hoạt động của một nhóm thì quyền lực chuyên môn của người đó đã được
tăng cường.
Chẳng hạn, trong nhiều tổ chức, những cá nhân có kĩ năng máy tính tốt
và có vẻ như là một “chuyên gia” khi máy tính có sự cố, người đó có thể ảnh
hưởng nhờ kiến thức và kỹ năng của họ - tức là , họ có quyền lực chuyên
môn.
e. Quyền lực hướng dẫn/tham chiếu/cá nhân
Quyền lực hướng dẫn là quyền đưa ra những chỉ dẫn liên quan đến hiểu
biết cá nhân của cấp dưới.
95
Quyền lực hướng dẫn có được vì những nguồn lực người khác cần hoặc
đặc điểm cá nhân của người đó. Nếu tôi ngưỡng mộ bạn và coi bạn làm mẫu,
bạn có thể ra lệnh tôi vì tôi muốn làm hài lòng bạn. Quyền lực tham chiếu
phát triển ngoài sự ngưỡng mộ của một người khác và mong muốn được
giống như người đó. Bạn có thể xem xét một người mà coi người đó làm hình
mẫu như những gì đã thảo luận ở trên, đó là sự lôi cuốn. Nếu bạn ngưỡng mộ
người nào đó đến mức bạn điều chỉnh hành vi và thái độ của bạn để được
giống như người đó, người đó có quyền lực tham chiếu đối với bạn. Trong
các tổ chức, cá nhân có sức lôi cuốn – như các nhà quản trị hoặc vị trí nào đó
– có thể ảnh hưởng đến cấp trên, người cùng địa vị hay là cấp dưới.
Để sử dụng được quyền này một cách hữu hiệu, nhà lãnh đạo phải có
những đức tính cá nhân đáng khâm phục, có uy tín và danh tiếng.
Như đã đề cập, lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng người khác bằng việc sử
dụng nhiều hình thức quyền lực. Hầu hết những nhà lạnh đạo giỏi thường dựa
vào một số hình thức quyền lực khác nhau để tạo ảnh hưởng đến hành vi và
hoạt động của người khác.
Ví dụ, đại úy hải quân Horden Whishire, sỹ quan chỉ huy hạm đội tàu
ngầm hiện đại nhất Collins, HMAS Sheen, đã sử dụng nhiều quyền lực khác
nhau trong quản lý thủy thủ đòan của ông ta. Ông ta ra lệnh cho thủy thủ đoàn
(quyền lực chính thức), khen họ (quyền lực khen thưởng) và kỉ luật những
người vi phạm (quyền lực cưỡng chế). Là một nhà lãnh đạo giỏi, ông cũng sử
dụng cả quyền lực chuyên môn (dựa trên kiến thức và chuyên môn của ông
ta) và quyền lực tham chiếu (dựa trên sự ngưỡng mộ của thủy thủ đoàn hoặc
có sự lôi cuốn) để ảnh hưởng đên thủy thủ của ông ta.
2.3 Phẩm chất của nhà lãnh đạo
Biết mình: Nhận biết: tâm tính, mục tiêu/động cơ và ảnh hưởng; Tự
tin;Tự đánh giá một cách chân thực và thoải mái.
Tự chủ: Khả năng chế ngự, điều khiển tâm trạng, tình cảm theo hướng
có lợi; Tạo môi trường làm việc tin cậy, công bằng; Dễ dàng thích ứng với sự
thay đổi; Luôn là người mở đường; Không nhắm mắt làm liều.
Động cơ mạnh: Động lực vươn tới thành công: đam mê với công việc,
theo đuổi mục tiêu với nỗ lực và sự bền bỉ; Đặt những mục tiêu cho bản thân
mang tính thách thức; Nỗ lực cao để thực hiện mục tiêu; Lạc quan, ngay cả
khi phải đối đầu với thất bại; Tận tụy với công ty.
Khả năng đồng cảm: Hiểu tâm trạng của nhân viên và biết cân nhắc tâm
tư của họ khi đưa ra quyết định; Hiểu người khác tốt hơn và lãnh đạo nhóm
96
tốt hơn; Nhạy cảm trong môi trường đa văn hóa và tránh được những hiểu
lầm đáng tiếc; Tạo ra môi trường duy trì các tài năng.
Kỹ năng xã hội: Khả năng xử lý hiệu quả các mối quan hệ và xây dựng
mạng lưới, biết tìm ra điểm chung và tạo ra sự hòa hợp; Có khả năng thuyết
phục, hướng người khác đến mục tiêu (đối nội, đối ngoại); Xây dựng và lãnh
đạo nhóm tốt.
3 Các lý thuyết về hành vi
3.1 Nghiên cứu của Đại học Iowa
Nghiên cứu của Đại học Iowa (do Kurt Lewin và các đồng nghiệp
thực hiện) đã phát hiện ra ba phong cách lãnh đạo, hay cách hành xử:
Phong cách lãnh đạo chuyên quyền/độc đoán
Ra quyết định đơn phương
Tập trung quyền lực
Giao nhiệm vụ bằng mệnh lệnh và chờ đợi sự phục tùng.
Giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện các quyết định.
Phong cách lãnh đạo dân chủ
Khuyến khích cấp dưới tham gia quá trình ra quyết định.
Phân quyền
Khuyến khích cấp dưới tự quyết định mục tiêu và phương pháp.
Sử dụng thông tin phản hồi để huấn luyện nhân viên.
Phong cách lãnh đạo tự do
Cho phép nhóm toàn quyền quyết định.
Hoàn thành công việc theo bất cứ cách nào họ xem là phù hợp.
3.2 Nghiên cứu của ĐH Michigan
Định hướng nhân viên
Khuyến khích nhân viên tham gia vào quá trình ra quyết định.
Chú trọng đến các mối quan hệ cá nhân.
Quan tâm đến nhu cầu của nhân viên cấp dưới và chấp nhận sự khác
biệt giữa các thành viên trong nhóm.
97
Năng suất nhóm cao và sự thỏa mãn trong công việc cao.
Định hướng sản xuất
Chú trọng đến các khía cạnh về chuyên môn và nhiệm vụ trong công
việc.
Quan tâm chủ yếu đến việc hoàn thành các nhiệm vụ của nhóm và coi
các thành viên trong nhóm như 1 phương tiện để đạt được nhiệm vụ.
Năng suất nhóm thấp và sự thỏa mãn trong công việc thấp hơn.
Lưới quản trị
Khái niệm lưới quản trị do Robert Blake và Jane Mouton phát triển là
một lý thuyết về các phong cách lãnh đạo dựa trên sự phối hợp giữa mức độ
quan tâm đối với con người và mức độ quan tâm đối với sản xuất, và đánh giá
việc sử dụng các hành vi này của các nhà lãnh đạo theo thang điểm từ 1 (thấp)
đến 9 (cao). Theo lưới quản trị này, mặc dù có đến 81 khả năng trong phong
cách lãnh đạo có thể có, nhưng các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh 5 phong
cách.
Hình 4.1: Lưới quản trị
98
3.3.1.Quản trị nghèo nàn (1-1)
-
Nỗ lực tối thiểu để đạt được mục tiêu.
-
Phù hợp với việc duy trì các thành viên trong tổ chức.
3.3.2.Quản trị thỏa hiệp (5-5)
- Duy trì sự cân bằng giữa hiệu suất công việc cần thiết và sự thỏa mãn của
nhân viên
3.3.3.Quản trị theo nhiệm vụ/công việc (9-1)
-
Hiệu suất có được là nhờ sự sắp xếp các điều kiện làm việc.
-
Sự quan tâm đến nhân viên ở mức tối thiểu.
3.3.4.Quản trị câu lạc bộ (1-9)
Quan tâm chu đáo đến nhu cầu của nhân viên, tin tưởng, hỗ trợ để tạo không
khí thân thiện.
Không quan tâm đến hiệu suất.
3.3.5.Quản trị tổ đội (9-9)
-
Hoàn thành mục tiêu nhờ sự hợp tác, phối hợp của các thành viên
-
Tạo ra mối quan hệ tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau.
Từ những khám phá này, Blank và Mouton kết luận rằng các nhà quản trị sẽ
đạt được hiệu quả cao nhất khi sử dụng phong cách lãnh đạo 9-9. Nhưng thật
không may là lưới quản trị này lại không đưa ra được câu trả lời cho câu hỏi
là điều gì làm cho một nhà quản trị có thể trở thành nhà lãnh đạo có hiệu quả;
nó chỉ đem lại cho chúng ta một khái niệm về phong cách lãnh đạo. Và trong
thực tế, có rất ít bằng chứng ủng hộ cho kết luận rằng phong cách lãnh đạo 9-
9 là phong cách hiệu quả nhất trong mọi trường hợp.
4 Các lý thuyết lãnh đạo tình huống
4.1 Thuyết lãnh đạo tình huống
Thuyết lãnh đạo tình huống của Hersey và Blanchard Paul Hersey và
Ken Blanchard đã phát triển một về lý thuyết về lãnh đạo cuốn hút được sự
ủng hộ của các chuyên gia phát triển quản trị. Mô hình này, với tên gọi lý
99
thuyết sự lãnh đạo tình huống (SLT), là một thuyết tình huống mà tập
trung chủ yếu vào sự sẵn sàng của nhân viên. Hersey và Blanchard lập
luận rằng sự lãnh đạo thành công sẽ đạt được bằng việc lựa chọn phong
cách lãnh đạo đúng đắn tùy theo mức độ trưởng thành của nhân viên hay
cấp dưới. Hành vi nhiệm vụ diễn ra khi một nhà lãnh đạo tiến hành vạch ra
những nhiệm vụ cho cấp dưới... và truyền đạt chỉ thị về nội dung, địa
điểm, thời điểm và cách thức thực hiện nhiệm vụ. Các nhà lãnh đạo điều
khiển việc tổ chức, kiểm soát và giám sát nhân viên thuộc quyền.
Hành vi quan hệ xảy ra khi một nhà lãnh đạo tiến hành các hoạt động
lắng nghe, khuyến khích và lôi cuốn cấp dưới tham gia vào quá trình ra quyết
định.
Sự trưởng thành là khả năng đặt ra những mục tiêu cao (có thể đạt
được) và sẵn sàng nhận trách nhiệm thực hiện chúng. Người ta có nhiều mức
trưởng thành khác nhau, tùy theo nhiệm vụ mà mỗi người đang được thực
hiện. Điều đó thể hiện sự trưởng thành là sự vững vàng, từng trải của công
việc (không phải là sự lớn lên về tuổi tác của nhân viên):
R1: con người không có khả năng và không sẵn sàng làm việc. Họ
thiếu trình độ và sự tự tin.
R2: con người không thể nhưng sẳn lòng thực hiện những nhiện vụ cần
thiết. Họ được khuyến khích nhưng hiện tại lại thiếu những kỷ năng thích
hợp.
R3: con người có khả năng nhưng không sẳn lòng để làm những gì mà
nhà lãnh đạo muốn.
-
R4: con người có khả năng và sẵn sàng làm những gì họ được yêu cầu.
Việc nhấn mạnh vào nhân viên trong hiệu quả của sự lãnh đạo phản
ánh thực tế rằng chính nhân viên là người chấp nhận hoặc không chấp nhận
người lãnh đạo của mình. Cho dù người lãnh đạo làm gì đi nữa thì hiệu quả
phụ thuộc vào hoạt động của nhân viên. Đây là vấn đề hết sức quan trọng mà
100
đã bị bỏ qua hoặc chưa nhấn mạnh đúng mức trong hầu hết các lý thuyết về
lãnh đạo trước đây.
Mô hình của Hersey và Blanchard đưa ra những tập hợp khác nhau
giữa hành vi nhiệm vụ và hành vi quan hệ của nhà lãnh đạo và các mức
trưởng thành của cấp dưới. Hai ông nhấn mạnh tính linh hoạt của nhà lãnh
đạo để thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh.
Hình vẽ trên trình bày mối liên hệ giữa các phong cách lãnh đạo và
mức độ trưởng thành của cấp dưới. Đường cong hình vẽ chỉ rõ mức độ của
hành vi chỉ đạo hay hỗ trợ đặc trưng cho mỗi phong cách lãnh đạo. Mức độ
trưởng thành của nhân viên hay của tập thể được sắp xếp theo trình tự từ
trưởng thành tới chưa trưởng thành.
Phong cách Chỉ đạo/Điều hành trực tiếp (Telling) (định hướng nhiệm
vụ cao – quan hệ thấp): Nhà lãnh đạo đưa ra những chỉ thị rõ ràng và những
chỉ dẫn cụ thể (định ra vai trò và yêu cầu nhân viên phải làm gì, khi nào, như
thế nào và ở đâu cho những nhiệm vụ khác nhau). Phong cách này phù hợp
nhất khi áp dụng đối với những nhân viên mới của doanh nghiệp. Bởi nhân
viên mới thường rất tận tụy, hăng hái và tràn đầy sinh lực, họ khao khát được
bắt tay vào công việc và ham hiểu biết, xong họ chưa trưởng thành. Đồng
thời, vì họ có sự tận tụy cao nên không cần sự hỗ trợ của nhà lãnh đạo và do
họ chưa trưởng thành nên phong cách chỉ đạo sẽ phù hợp nhất.
Phong cách Bán/Kèm cặp trực tiếp (Selling) (định hướng nhiệm vụ
cao – quan hệ cao): Nhà lãnh đạo đưa ra chỉ dẫn và hỗ trợ nhân viên. Theo
phong cách này, nhà lãnh đạo luôn theo dõi mọi hoạt động và giúp đỡ nhân
viên thiết lập lòng tự tin và động cơ thúc đẩy. Nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm
và giám sát chặt chẽ quá trình ra quyết định hoặc hỗ trợ nhân viên khi cần
thiết. Phong cách này thường áp dụng trong trường hợp nhân viên đã hiểu rõ
nhiệm vụ của họ, nhưng vẫn chưa thể sẵn sàng đảm nhận toàn bộ trách nhiệm
để đảm bảo hoàn thành công việc.
101
Phong cách Tham vấn/Hỗ trợ (Paticipating) (định hướng nhiệm vụ
thấp – quan hệ cao): Nhà lãnh đạo và nhân viên cùng bàn bạc ra quyết định.
Nhà lãnh đạo tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cho cấp dưới.
Phong cách này thường áp dụng trong trường hợp nhân viên cảm thấy tự tin
rằng họ đủ sức hoàn thành nhiệm vụ của họ. Quá trình ra quyết định được tiến
hành với sự tham gia của tất cả các thành viên trong nhóm. Nhà lãnh đạo giữ
vai trò là người hướng dẫn và hỗ trợ.
Ủy quyền (Delegating) (định hướng nhiệm vụ thấp – quan hệ thấp):
Nhà lãnh đạo đưa ra rất ít sự chỉ dẫn và hỗ trợ. Nhân viên được giao quyền
đảm nhiệm toàn bộ các hoạt động như hoạch định, ra quyết định và thực hiện
công việc. Mặc dù việc đưa ra vấn đề cần giải quyết vẫn do nhà lãnh đạo,
song nhân viên sẽ đưa ra những quyết định về cách thức, địa điểm, và thời
gian tiến hành công việc. Phong cách này được áp dụng trong trường hợp
nhân viên đã trưởng thành ở mức cao, có đủ khả năng, trình độ và năng lực để
chịu toàn bộ trách nhiệm về công việc.
Về cơ bản thì SLT xem mối quan hệ giữa nhà lãnh đạo và nhân viên
giống như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Chỉ khi nào cha mẹ thả lỏng
sự kiểm soát thì con cái mới trở nên chín chắn và có trách nhiệm hơn. Vì nhân
viên sẽ dần tiến đến mức độ sẵn sàng ngày càng cao hơn, nên nhà lãnh đạo
không những tiếp tục giảm sự kiểm soát lên các hoạt động của nhân viên mà
còn phải tiếp tục giảm quan hệ với nhân viên. Mô hình SLT chỉ ra rằng nếu
nhân viên không thể và không sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, thì nhà lãnh đạo
cần đưa ra những lời chỉ dẫn rõ ràng và cụ thể hơn (chỉ đạo); nếu nhân viên
không có khả năng nhưng sẵn lòng, thì nhà lãnh đạo cần mô tả định hướng
nhiệm vụ một cách cụ thể hơn nữa để bù lại sự thiếu khả năng của nhân viên
và định hướng mối quan hệ để cho nhân viên có thể đáp ứng được nguyện
vọng của nhà lãnh đạo (bán); nếu nhân viên có khả năng nhưng không sẳn
sàng làm việc thì nhà lãnh đạo cần phải có phong cách ủng hộ và tích cực
tham gia vào các hoạt động (participating); và nếu nhân viên vừa có khả năng
và sẵn lòng thì nhà lãnh đạo không cần làm gì nhiều cả (delegating).
102
SLT có một sức hút mạnh mẽ. Nó thừa nhận tầm quan trọng của nhân
viên và dựa trên một logic là các nhà lãnh đạo có thể bù đắp cho những khả
năng và những hạn chế về động cơ của nhân viên của họ. Nó được sử dụng
như là một cách huấn luyện cho những công ty mà có số nhân viên từ 500 trở
lên như là Bank America, Caterpillar, IBM, Mobil Oil và Xerox và nó được
chấp nhận rộng rãi ở các cơ quan quân sự của Mỹ. Và hiển nhiên nó cũng
được sử dụng trong những chương trình đào tạo ở Australia và New Zealand.
Tuy vậy những nổ lực nghiên cứu và hỗ trợ cho lý thuyết trên nhìn chung đã
gây nhiều thất vọng. Tại sao vậy? Những gì có thể giải thích được đó là sự
mơ hồ và sự mâu thuẫn trong chính mô hình này cũng như là vấn đề tiếp cận
với phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu lý thuyết này. Mặc dù khả
năng thu hút và sự phổ biến rộng rãi của nó đã được các nhà quản trị áp dụng,
nhưng ít nhất thì ở những điểm này, việc áp dụng nó cần phải thận trọn.
Mô hình lãnh đạo tình huống của Hersey và Blanchard là phong cách
khá hữu dụng. Nó cho rằng các nhà lãnh đạo cần linh hoạt trong việc lựa chọn
phong cách lãnh đạo. Nhà lãnh đạo phải luôn luôn theo dõi mức độ trường
thành của cấp dưới để xác định mức độ kết hợp giữa hành vi công việc và
hành vi quan hệ thích hợp. Nhờ đó, một nhân viên chưa trưởng thành (chưa
có kinh nghiệm) có thể hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao như một nhân viên
trưởng thành nếu có sự chỉ đạo và giám sát chặt chẽ của nhà quản trị. Nếu
phong cách của nhà lãnh đạo phù hợp thì nó có thể giúp nhân viên gia tăng
mức trưởng thành của họ. Do đó, khi nhà lãnh đạo thúc đẩy cấp dưới hướng
tới mức trường thành càng cao, thì phong cách lãnh đạo của công ty càng cần
được phát triển theo hướng có mực độ ủy quyền ngày càng cao hơn.
Tuy nhiên, mô hình này cũng mang những nhược điểm nhất định. Thứ
nhất, các nhà lãnh đạo sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng mô hình để lựa
chọn một phong cách lãnh đạo phù hợp với một tình huống mới. Thứ hai, mô
hình đã bỏ qua nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn phong cách của
nhà lãnh đạo như các yếu tố bẩm sinh, các tính, cơ sở quyền lực… Thứ ba,
103
liệu có một phong cách lãnh đạo tối ưu đối với những tập thể lớn, mà nhân
viên có nhiều mức độ trưởng thành khác nhau không? Theo giả thiết của mô
hình, các nhóm dường như chỉ bao gồm những nhân viên có cùng mức độ
trưởng thành. Thứ tư, mô hình đã không phân biệt giữa các loại công việc như
công việc ổn định và công việc thay đổi, công việc đơn giản và công việc
phức tạp… Đồng thời, mô hình cũng không phân biệt giữa những nguyên
nhân khiến có sự chưa trưởng thành như do thiếu động lực hay do thiếu năng
lực, hoặc do cả hai nguyên nhân.
4.2 Thuyết đường dẫn - mục tiêu của Robert House
Hiện nay một trong những cách tiếp cận cụ thể nhất để hiểu được vấn đề
lãnh đạo là lý thuyết đường dẫn – mục tiêu, trong đó phát biểu rằng chính
công việc của nhà lãnh đạo là hỗ trợ những nhân viên của mình trong việc đạt
được những mục tiêu của họ và cung cấp những lời chỉ dẫn hay là hỗ trợ họ
để chắc chắn rằng mục tiêu của họ phù hợp với các mục tiêu chung của nhóm
hay tổ chức. Được phát triển bởi Robert House, lý thuyết đường dẫn – mục
tiêu là mô hình tình huống về lãnh đạo các yếu tố chính trong thuyết kỳ vọng.
Thuật ngữ đường dẫn – mục tiêu được xuất phát từ niềm tin rằng những nhà
lãnh đạo hiệu quả sẽ vạch ra con đường để giúp đỡ nhân viên của họ có thể
nhận được từ những thành tựu trong mục tiêu công việc của họ và vạch ra một
lộ trình dể dàng hơn bằng cách giảm đi những rào chắn và cạm bẫy.
Theo lý thuyết đường dẫn - mục tiêu, hành vi của nhà lãnh đạo có thể
chấp nhận được đối với các thành viên trong nhóm ở mức độ mà họ coi nó
như một nguồn thỏa mãn trước mắt hoặc như một phương tiện hỏa mãn nhu
cầu tương lai.
Hành vi của nhà lãnh đạo là động lực thúc đẩy ở một mức độ nhất định
mà (1) nó tạo ra sự thoả mãn những nhu cầu của người cấp dưới tuỳ thuộc vào
hoạt động hiệu quả, và (2) nó đưa ra những chỉ dẫn, hỗ trợ và những phần
thưởng mà cần thiết cho các hoạt động hiệu quả.
104
Phong cách cụ thể của nhà lãnh đạo được xác định dựa trên 2 biến số
ngẫu nhiên là những đặc trưng của công việc và đặc điểm của nhân viên
Hình 4.2:Mô hình thuyết đường dẫn – mục tiêu
Thuyết này không đưa ra một công thức tối ưu về phong cách lãnh đạo.
House cho rằng để đạt được thành công, nhà lãnh đạo cần lựa chọn một
phong cách lãnh đạo thích hợp nhất đối với mỗi tình huống cụ thể và những
nhu cầu của cấp dưới
Hướng dẫn/chi phối
Xác định mục tiêu, lịch trình.
Hướng dẫn cụ thể để cấp dưới thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ.
Phong cách này tương tự như phong cách định hướng vào sản xuất và
định hướng vào nhiệm vụ.
Hỗ trợ
105
Nhà lãnh đạo luôn gần gũi, tham khảo ý kiến, quan tâm đến trạng thái
tâm lý của nhân viên và hỗ trợ họ khi cần thiết.
Phong cách này tương tự như phong cách lãnh đạo chú trọng tới con
người và phong cách tập trung vào nhân viên hay định hướng vào quan hệ.
Tham vấn
Nhà lãnh đạo trao đổi ý kiến với cấp dưới.
-
Nhà lãnh đạo xem xét những đóng góp, những ý kiến của họ trước khi
đưa ra các quyết định.
Định hướng thành tựu
Thiết lập các mục tiêu thách thức.
-
Kỳ vọng nhân viên thực hiện với nỗ lực cao nhất.
House khẳng định rằng nhà lãnh đạo có thể linh hoạt được. Có nghĩa là,
thuyết lý thuyết đường dẫn – mục tiêu cho rằng cùng một nhà lãnh đạo có thể
thể hiện bất kỳ hoặc là tất cả phong cách lãnh đạo tuỳ thuộc vào tình huống.
Thuyết đường dẫn – mục tiêu đưa ra hai loại biến tình huống hay ngẫu
nhiên có thể điều hòa được mối quan hệ giữa hành vi của nhà lãnh đạo và
quan hệ kết quả: những yếu tố trong môi trường là những yếu tố không thuộc
khả năng kiểm soát của nhân viên (những nhân tố bao gồm cấu trúc nhiệm vụ,
hệ thống quyền hạn chính thức và nhóm làm việc), và những yếu tố thuộc về
đặc điểm của nhân viên (bao gồm tâm điểm chế ngự, kinh nghiệm và khả
năng nhận thức). Nhân tố môi trường quyết định đến phong cách lãnh đạo sẽ
cần đến nếu kết quả của nhân viên được tối đa hoá; đặc điểm cá nhân của mỗi
nhân viên quyết định đến cách hiểu về mối quan hệ giữa môi trường lãnh đạo
và phong cách nhà lãnh đạo. Lý thuyết này cho rằng phong cách lãnh đạo sẽ
không có hiệu quả khi không xem xét đết cấu trúc môi trường hoặc là không
thích hợp với các đặc điểm của nhân viên. Chẳng hạn, một số giả thuyết từ lý
thuyết con đường – mục tiêu là:
106
Lãnh đạo chi phối sẽ dẫn đến sự thoả mãn cao hơn nếu các nhiệm vụ
không rõ ràng hoặc mang tính ức chế so với các nhiệm vụ được xác định rõ
ràng.
Lãnh đạo hỗ trợ dẫn đến kết quả công việc và sự thoả mãn cao hơn khi
cấp dưới đang thực hiện công việc có cấu trúc rõ ràng.
Lãnh đạo chi phối sẽ bị coi là thừa nếu cấp dưới có năng lực tốt và kinh
nghiệm
Quan hệ quyền hạn chính thức mà càng rõ ràng và mang tính quan liêu,
nhà lãnh đạo càng phải thể hiện hành vi hỗ trợ và không dùng đến hành vi chi
phối
Lãnh đạo chi phối sẽ dẫn đến mức độ thoả mãn cao hơn nếu có sự xung
đột trong một nhóm công tác.
Nhân viên với tâm điểm chế ngự nội tại (người tin rằng họ kiểm soát
được số phận của mình) sẽ thoả mãn hơn với phong cách tham vấn.
Nhân viên với tâm điểm chế ngự ngoại vi (niềm tin rằng họ bị chi phối
bởi các yếu tố bên ngoài) sẽ thoả mãn hơn với phong cách chi phối.
Phong cách định hướng thành tựu sẽ làm tăng kỳ vọng là nỗ lực sẽ dẫn
đến kết quả cao hơn khi nhiệm vụ có cấu trúc không rõ ràng
Nghiên cứu để đánh giá các giả thuyết này nhìn chung là đang được
khuyến khích. Mặc dù không phải tất các các nghiên cứu đều ủng hộ một cách
tích cực, phần lớn những bằng chứng đã ủng hộ lý thuyết con đường – mục
tiêu một cách lô gíc. Tức là, kết quả hoạt động và sự thoả mãn của nhân viên
có vẻ như có ảnh hưởng tích cực khi mà nhà lãnh đạo bù đắp những thiếu sót
của nhân viên hoặc bối cảnh công việc. Tuy nhiên, nếu nhà lãnh đạo bỏ quá
nhiếu thời gian để giải thích nhiệm vụ khi mà những nhiệm vụ này đã quá rõ
ràng hoặc là khi nhân viên này có khả năng và kinh nghiệm để giải quyết vấn
đề mà không cần sự can thiệp của nhà lãnh đạo thì nhân viên đó có thể sẽ coi
hành vi lãnh đạo chi phối là một việc làm không cần thiết hoặc thậm chí là
hành động coi thường.
107
5 Động viên nhân viên
5.1 Nhu cầu và động cơ
Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn và
không thỏa mãn về 1 cái gì đó và mong được đáp ứng. Nhu cầu gắn liền với
sự tồn tại và phát triển của con người.
Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người, là động
lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra.
Động lực (giống Động cơ nhưng mạnh hơn Động cơ) là động cơ mạnh
thúc đẩy con người làm việc một cách có hiệu quả. Nhà tuyển dụng muốn biết
động cơ làm việc của nhân viên nhưng lại tác động vào động lực làm việc của
họ.
Công thức tổng quát về động viên nhân viên
P = M x A x O
P: Performance – Thành tích: là một cấp số nhân.
O: Opportunity – Cơ hội: Nhà tuyển dụng muốn thành tích của nhân
viên tăng để đem lại ích lợi cho doanh nghiệp thì cơ hội là dễ tác động nhất
bởi cơ hội làm cho họ khám phá những cái mà họ chưa biết.
A: Ability – Khả năng là yếu tố khó tác động nhất
M: Motivation – Động cơ là yếu tố doanh nghiệp có thể tác động sau cơ
hội.
5.2 Các lý thuyết về nhu cầu và động cơ
Thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
Trong hệ thống lý thuyết về quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu
cầu của Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn.
Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu
cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo
tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành 5 bậc sau:
108
Hình 4.3: Tháp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu vật chất/nhu cầu cơ bản/nhu cầu sinh học là những nhu cầu về
ăn, uống, mặc, ở.... Chúng là những nhu cầu cơ bản nhất của con người để
duy trì sự sống và giữ vị trí thấp nhất trong hệ thống thứ bậc các nhu cầu của
Maslow. Ông quan niệm rằng khi những nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới
mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không
thúc đẩy được mọi người. Do vậy người ta thường cố gắng thỏa mãn các nhu
cầu vật chất trước các nhu cầu khác. Ví dụ, sự thôi thúc đối với 1 người đang
rất đói là làm sao để có thức ăn hơn là được mọi người công nhận về sự thành
đạt. Với những người đi làm, nhu cầu này là lương, thưởng, điều kiện nơi làm
việc…
Nhu cầu an toàn là nhu cầu về sự an toàn than thể và sự ổn định trong
đời sống, cũng như nhu cầu tránh khỏi sự đau đớn, sự đe dọa và bệnh tật. Sau
nhu cầu vật chất, con người cần được thỏa mãn các nhu cầu ở mức cao hơn.
Nhiều người thể hiện nhu cầu an toàn của họ thông qua sự mong ước có một
việc làm ổn định, cùng các phúc lợi y tế và sức khỏe, không bị thất nghiệp và
được hưởng lương hưu khi về nghỉ...
109
Nhu cầu xã hội là nhu cầu được tiếp xúc với những người khác, với xã
hội để thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc, sự hợp tác. Hay nói cách
khác đây là nhu cầu bạn bè, giao tiếp. Nhu cầu này được xếp trên các nhu câu
vật chất và nhu càu an toàn, tức là ở mức thứ 3 trong hẹ thống thứ bậc các nhu
cầu của Maslow.
Những người có nhu cầu xã hội cao thích được làm những công việc có
sự tham gia của nhiều người, còn những người có nhu cầu hội nhập thấp có
thể bằng lòng với những công việc đơn độc. Khi doanh nghiệp không đáp ứng
nhu cầu xã hội của nhân viên, thì sự không thỏa mãn của họ có thể được bộc
lộ thông qua những hiện tượng như thường xuyên vắng mặt, năng suất thấp,
luôn trong trạng thái căng thẳng và thậm chí có thể xảy ra những mâu thuẫn
nội bộ.
Để giúp nhân viên thỏa mãn nhu cầu này, các nhà quản trị cần khuyến
khích họ có những mối quan hệ thân thiện với đồng nghiệp, cấp trên, khách
hàng, …, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội do công ty tổ chức như
các hoạt đọng thể thao, văn nghệ, dã ngoại,...
Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu có địa vị, được người khác công
nhận và tôn trọng, cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình. Khi nhân viên của
doanh nghiệp được thúc đẩy bởi nhu cầu được tôn trọng thì người ta thường
làm việc tích cực và cố gắng nâng cao những kỹ năng cần thiết để thành công.
Họ làm việc vì mong muốn được có tên trong doanh sách những người suất,
được nhận phần thưởng, được ca ngợi và được nhiều người biết đến. những
nhu cầu này cho phép xây dựng niềm tự hào cho nhân viên và khi chúng
chiếm ưu thế thì các nhà quản trị có thể thúc đẩy nhân viên hoàn thành công
việc với chất lượng cao bằng cách đem lại cho họ những cơ hội để họ thể hiện
khăn nằng và bản lĩnh của mỗi người.
Nhu cầu tự khẳng định gắn liền với sự phát triển, sự tự phát huy những
khả năng tiềm tang của cá nhân. Nhưng nhu cầu này được xếp ở vị trí cao
110
nhất trong hệ thống thư bậc các nhu cầu của Maslow. Người đạt tới nhu cầu
này là người có thể làm chủ được chính bản than mình và có khả năng chi
phối cả những người khác, là nười thường có những đức tính như có óc sáng
tạo, có tinh thần tự giác cao và có khả năng giải quyết vấn đề.
Các nhà quản trị cần nhận ra rằng những nhu cầu này trong nhân viên
để có thể giúp họ khám phs những cơ hội phát triển tài năng và nâng cao khả
năng nghề nghiệp của họ. Ví dụ, thúc đẩy nhân viên phát huy khả năng của họ
bằng cách tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình ra quyết định, cải tiến
công việc hay khuyến khích họ tham gia vào những công việc đòi hỏi phải có
những kỹ năng đặc biệt.
Maslow đã chia các nhu cầu này thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp.
Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu vật chất và nhu cầu an toàn. Nhu cầu cấp cao
bao gồm các nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, và nhu cầu tự khẳng
định. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn
chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ
yếu từ nội tại của con người.
Maslow cho rằng làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ làm hơn
so với việc làm thỏa mãn những nhu cầu ở cấp cao vì nhu cầu cấp thấp là có
giới hạn và có thể được thỏa mãn từ bên ngoài. Sự thỏa mãn nhu cầu của các
cá nhân sẽ đi théo thứ bậc như trên, khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu
đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng, và mặc dù không
có một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được
thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Vì thế, theo Maslow, để
tạo động lực cho nhân viên, người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang ở
đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở thứ
bậc đó.
Thuyết E. R. G của Clayton Alderpher
Clayton Alderpher đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và
đưa ra kết luận của mình. Ông cho rằng: hành động của con người bắt nguồn
111
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình nghề Nông nghiệp và sinh học ứng dụng - Môđun: Quản trị doanh nghiệp (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_nghe_nong_nghiep_va_sinh_hoc_ung_dung_modun_quan.pdf

