Di sản văn hóa nghệ thuật và thiết kế xã hội ở Việt Nam
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Mã Thanh Cao
DI SẢN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ THIẾT KẾ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
CULTURAL HERITAGES AND SOCIAL DESIGN IN VIET NAM
MÃ THANH CAO
TÓM TẮT: Trong hoàn cảnh hội nhập toàn cầu, ngành thiết kế xã hội ở Việt Nam không thể đứng
ngoài xu thế hiện nay của khu vực và thế giới. Để có được một vị trí nhất định, góp phần vào việc
phát triển đất nước bền vững, ngành thiết kế xã hội ở Việt Nam cần phải đi đúng hướng bằng cách
tích hợp các giá trị của kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc với những yếu tố mới để tạo ra
những sản phẩm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Từ khóa: bản sắc dân tộc; di sản văn hóa nghệ thuật; thiết kế và thiết kế xã hội.
ABSTRACT: In the context of global integration, Social Design in Viet Nam can’t stay separately
from the regional and global trend. To have a certain position, contributing to sustainable
development of the country, Social Design in Viet Nam needs to go in the right direction by
integrating the values in the treasure of national cultural and artistic heritages with new elements to
create products to meet the growing needs of society.
Key words: national identity; cultural and artistic heritage; design and social design.
Tây từ thập niên 70 của thế kỷ trước bằng cách
quan tâm đến việc phục vụ xã hội, góp phần cải
tạo xã hội thông qua các sản phẩm của mình.
thiết kế xã hội luôn mang tính nhân văn khi
quan tâm đến việc nâng cao chất lượng cuộc
sống cho mọi người không phân biệt tuổi tác,
giàu nghèo, dân tộc, quốc gia, khu vực. Một
trong những vấn đề đang được ngành thiết kế
xã hội chú trọng đó là việc bảo vệ môi trường
sống xanh bằng nhiều giải pháp khác nhau như
tiết kiệm nguyên liệu, sử dụng nguyên liệu thân
thiện môi trường, xử lý chất thải.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành thiết kế ra đời từ rất lâu, thăng trầm
theo từng giai đoạn của lịch sử và ngày càng
phát triển mạnh. Trong xã hội hiện đại, vai trò
của ngành thiết kế ngày càng được coi trọng vì
thiết kế tác động đến mọi lĩnh vực đời sống con
người từ những vật dụng nhỏ trong đời sống
thường nhật đến những thiết kế có quy mô một
đô thị, thậm chí một quốc gia. Khi ngành thiết
kế phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu sản xuất,
tiêu dùng của xã hội cũng đã dẫn đến những hệ
lụy. Với sự phát triển vũ bão của các ngành
công nghiệp, việc khai thác tài nguyên thiên
nhiên một cách ồ ạt, dẫn đến ô nhiễm môi
trường, tàn phá thiên nhiên. Ngoài ra, các vấn
đề xã hội cũng đặt ra cho ngành thiết kế những
vấn đề như mâu thuẫn trong xã hội, sự phân
biệt giàu nghèo, sự bất công trong xã hội giữa
các cộng đồng, tầng lớp, phân biệt chủng tộc,
bạo hành phụ nữ, trẻ em… Vì vậy, ngành thiết
kế đã phải tự thay đổi mạnh ở các nước phương
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng
chung của thế giới về định hướng phát triển
ngành thiết kế vì cộng đồng, vì sự phát triển xã
hội bền vững. Để có được vị thế trong ngành
thiết kế, các nhà hoạch định và các nhà thiết kế
cần nhìn nhận một cách khách quan thực trạng
của ngành này ở Việt Nam. Bắt đầu từ việc
hiểu đúng những khái niệm thiết kế, thiết kế xã
hội, Nhà thiết kế đến những thuận lợi, khó
119
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
khăn, thách thức hiện nay. Để đạt được một vị thế vì tất cả các vấn đề đó đang ảnh hưởng nghiêm
nhất định trong ngành thiết kế xã hội trong khu vực
và quốc tế, vừa mang tính hiện đại vừa mang dấu ấn
trọng đến đời sống của con người, đe dọa hủy
diệt sự sống trên trái đất trong một tương lai
Việt Nam, không có con đường nào khác ngoài việc không xa. Nhiều vấn đề nóng của xã hội (thất
tăng cường giao lưu quốc tế và phát huy những giá
trị di sản văn hóa nghệ thuật truyền thống.
nghiệp, nghèo đói, dịch bệnh), các tệ nạn xã hội
(ma túy, buôn người, buôn bán nội tạng người),
bạo hành trẻ em và phụ nữ,… đang được thiết
kế xã hội chú trọng. Để đạt được mục đích và
thực hiện được vai trò đó, nhà thiết kế có một
vị trí quan trọng, mang ý nghĩa quyết định như
một chủ thể sáng tạo nghệ thuật.
2. NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của ngành thiết kế xã hội ở
Việt Nam
Thiết kế là một khái niệm không còn mới ở
Việt Nam, nhất là giới trẻ. Bởi một số ngành trong
lĩnh vực này đã được giảng dạy trong các cơ sở
đào tạo chuyên như thiết kế đồ họa, thiết kế sản
phẩm, thiết kế thời trang, thiết kế nội thất,… Các
cụm từ như thiết kế cộng đồng, thiết kế công cộng,
thiết kế môi trường, thiết kế xanh, thiết kế bền
vững cũng đã được đề cập trên các phương tiện
thông tin đại chúng. Tuy nhiên, thiết kế xã hội
(Social Design) vẫn còn là một khái niệm tương
đối mới đối với nhiều người Việt Nam.
Nhà thiết kế: Ở Việt Nam hiện nay, một trong
những định nghĩa dễ hiểu và tương đối sát về nhà
thiết kế, là khái niệm được ghi trong từ điển Anh -
Việt của Viện Ngôn ngữ. Nhà thiết kế là “người
phác họa, người vẽ kiểu, người phác thảo cách
trình bày, người trang trí, người thiết kế” [4].
Nhà thiết kế xã hội (Social Designer): Với
mục đích phục vụ và góp phần thay đổi xã hội,
thiết kế xã hội đòi hỏi người hoạt động trong
lĩnh vực này phải có trách nhiệm với xã hội bằng
khả năng sáng tạo khi trực tiếp tham gia vào quá
trình tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã
hội. Những sản phẩm khi được lưu hành trong
xã hội có thể ảnh hưởng nhất định đến ý thức,
hành vi của người tiêu dùng. Nên nhà thiết kế có
vai trò gián tiếp trong tiến trình phát triển của xã
hội. Để thực hiện vai trò và nhiệm vụ, trong ý
tưởng sáng tạo, nhà thiết kế xã hội không chỉ
quan tâm đến các yếu tố làm tăng giá trị kinh tế
thuần túy của sản phẩm khi đưa ra thị trường,
mà còn phải quan tâm đến các yếu tố có lợi cho
con người hay môi trường tự nhiên. Và muốn
làm tròn vai trò của mình, nhà thiết kế xã hội
không chỉ trang bị cho bản thân các kỹ năng
chuyên môn của một nhà thiết kế, các kỹ năng
mềm trong cuộc sống, mà còn có kiến thức nền
tảng về văn hóa nghệ thuật truyền thống dân tộc,
khả năng kết hợp tinh tế giữa những giá trị
truyền thống và những yếu tố của thời đại.
2.1.1. Khái niệm thiết kế xã hội
Thiết kế xã hội: Trên thế giới có rất nhiều
định nghĩa về “Social Design”, nhất là ở các
nước có ngành này phát triển. Một trong những
khái niệm về thiết kế xã hội được Giáo sư danh
dự Lịch sử thiết kế tại Đại học Illinois, Chicago
Victor Margolin đưa ra khá dễ hiểu: “thiết kế
cho xã hội, thay đổi sinh thái và xã hội của con
người” [5]. Nhưng dù các chuyên gia hiểu, giải
thích theo cách này hay cách khác, cuối cùng
vẫn có chung nội dung về mục đích và vai trò
của thiết kế xã hội đối với xã hội là tạo ra
những sản phẩm phục vụ xã hội và góp phần
vào việc cải tạo, phát triển xã hội để cuộc sống
con người ngày càng tốt đẹp hơn, với cả những
người kém may mắn trong xã hội.
Không phải tự nhiên mà ngày nay khắp
nơi trên thế giới, nhất là ở các nước có ngành
thiết kế xã hội như: Đan Mạch, Hà Lan, Anh,
Pháp, Italia, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,… phát
triển đều quan tâm các vấn đề như bảo vệ môi
trường, chống biến đổi khí hậu, hạn chế hiệu
ứng nhà kính, tiết kiệm nhiên liệu thiên nhiên
2.1.2. Thiết kế xã hội ở Việt Nam hiện nay
Thực tế, nghành Thiết kế ra đời ở Việt
Nam từ rất lâu, theo tiến trình lịch sử dân tộc.
120
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Mã Thanh Cao
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
từ những đồ dùng, công cụ đến không gian
sống đều có sự tham gia của thiết kế như đồ đá,
đồ gốm thô sơ, đồ đồng tới những ngôi đình
chùa, miếu mạo, những tác phẩm điêu khắc
trang trí hay các bộ tranh dân gian,... Thiết kế
đã góp phần thúc đẩy xã hội Việt Nam phát
triển. Ngành Thiết kế ở Việt Nam đã có những
tiến bộ rõ nét nhất từ khi tiến hành chính sách
đổi mới. Vai trò của thiết kế trong nhiều lĩnh
vực đã tạo ra các sản phẩm thúc đẩy việc lưu
thông hàng hóa khi Nhà nước chủ trương đẩy
mạnh xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp là không thể phủ nhận
trong thời gian qua. Đội ngũ nhà thiết kế ngày
càng đông hơn và hoạt động ở mọi lĩnh vực.
Những người trẻ tuổi với lợi thế về khả năng
tiếp cận các thành tựu khoa học, công nghệ
hiện đại đã mạnh dạn trên con đường sáng tạo
của mình và gặt hái được những thành tựu nhất
định. Tuy nhiên, để theo kịp các xu hướng thiết
kế mới, định hướng phát triển,… còn nhiều vấn
đề phải thực hiện, nhất là công tác đào tạo các
nhà thiết kế chuyên nghiệp và chính sách của
Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, khuyến khích
ngành nghề đặc thù.
thiết kế của những nước có kinh nghiệm đào tạo và
gắn đào tạo với nhà doanh nghiệp.
Vài năm gần đây, cộng đồng đã hào hứng
với việc vẽ tranh trên tường của các tổ chức, cá
nhân trong nước và quốc tế như ở phố Phùng
Hưng, Thành phố Hà Nội, Làng Bích Họa hữu
nghị Việt – Úc, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
Gần đây ở làng chài Cảnh Dương, Quảng Bình
cũng đã có đề án tranh tường khá đẹp, độc đáo
mang dấu ấn riêng của làng chài cổ từ thế kỷ
XVII. Những nội dung ca ngợi truyền thống yêu
nước chống ngoại xâm của làng, ca ngợi nghề cá,
thông điệp kêu gọi bảo vệ các loại chim, thú rừng
và môi trường và các sinh vật biển.
Hình 1. Làng chài Cảnh Dương, Quảng Trạch
Quảng Bình [7]
2.2. Giá trị di sản nghệ thuật truyền thống
trong thiết kế xã hội
2.2.1. Sự cần thiết thể hiện các giá trị di sản
văn hóa nghệ thuật dân tộc trong thiết kế xã
hội hiện đại
Dù đã có những bước phát triển nhanh và
rộng trong lĩnh vực thiết kế, nhưng so với nhiều
nước trong khu vực và thế giới, chúng ta vẫn là
một trong những nước tiếp cận với ngành Thiết kế
xã hội khá muộn. Thiết kế xã hội đã có ở Mỹ và
các nước châu Âu từ giữa thế kỷ XX với sự quan
tâm về lợi ích xã hội khi thiết kế sản phẩm và sang
thế kỷ XXI, thiết kế xã hội càng được chú trọng
hơn và trở thành xu hướng tất yếu của thiết kế hiện
đại. Ở Việt Nam trong những năm gần đây mới
được đặt ra và còn khá lúng túng trong việc chọn
cho mình một con đường và các bước đi tiếp theo.
Một trong những dấu hiệu đáng mừng khi một số
cơ sở đào tạo đã quan tâm đến công tác nâng cao
trình độ cho các nhà thiết kế tương lai bằng nhiều
hình thức liên kết đào tạo với nước ngoài, tổ chức
các hoạt động giao lưu với nhiều trường, hiệp hội
Nghệ thuật được coi như một thành tố cấu
thành văn hóa như Hội nghị quốc tế của
UNESCO từ ngày 26-7 đến ngày 06-8-1982 đã
khẳng định, văn hóa gồm: “Nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản
của con người, những hệ thống những giá trị,
những tập quán và những tín ngưỡng” [3, tr.7].
Tác động của những tiến bộ trong lĩnh vực
tin học và viễn thông, mối liên kết và trao đổi
giữa các khu vực, các quốc gia, các tổ chức hay
các cá nhân trong mọi lĩnh vực đời sống trên
quy mô toàn cầu ngày càng tăng, mối quan hệ
giữa các khu vực trên thế giới cũng ngày càng
gần gũi hơn, nhằm tăng cường trao đổi và hiểu
121
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
biết lẫn nhau hướng tới một nền văn minh toàn
cầu. Toàn cầu hóa giúp con người hiểu hơn về
thế giới ở quy mô toàn cầu trong nhiều lĩnh
vực, trong đó có văn hóa nghệ thuật. Tuy
nhiên, toàn cầu hóa là hướng tới đảm bảo sự đa
dạng của văn hóa, không nhằm triệt tiêu bản
sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc. Tuy
nhiên, toàn cầu hóa đặt ra nhiều thách thức cho
những cộng đồng, cá nhân trong việc giữ gìn
bản sắc dân tộc. Trong thời đại toàn cầu hóa,
thiết kế xã hội phục vụ cho toàn nhân loại,
đương nhiên nó phải mang tính đại chúng. Với
vai trò góp phần thay đổi cuộc sống con người
ngày càng tốt đẹp hơn nên thiết kế xã hội luôn
mang tính nhân văn.
thuật truyền thống trong sản phẩm thiết kế xã
hội hiện đại đã khẳng định. Với mục đích phục
vụ cho đời sống con người, đối tượng phục vụ
được thiết kế xã hội nhắm đến trước tiên là
cộng đồng các dân tộc đang sống trên lãnh thổ
Việt Nam. Để gắn kết các cộng đồng ấy, đáp
ứng các nhu cầu của cộng đồng với những
phong tục, tập quán, nhà thiết kế không thể
không quan tâm đến những giá trị đã được cộng
đồng tích lũy từ đời này qua đời khác để
chuyển tải thông điệp tốt nhất đến cộng đồng
đó. Hơn nữa, bản thân nhà thiết kế cũng là một
thành viên trong cộng đồng mang bản sắc ấy,
nên các giá trị có thể đã được thẩm thấu trong
quá trình sống, học tập và trưởng thành. Theo
dòng lịch sử, tính dân tộc và hiện đại sẽ được
sàng lọc và bồi đắp thêm. Cái gì hay, đẹp và có
giá trị thì được lưu giữ và phát triển, cái gì chưa
hay, chưa đẹp, không phù hợp, không còn có
giá trị thì dần dần sẽ bị loại trừ như một quy
luật tất yếu của sự phát triển.
Tuy vậy, sản phẩm của thiết kế xã hội cũng
như tác phẩm mỹ thuật vẫn luôn mang bản sắc của
cộng đồng xã hội với những đặc trưng trong nội
dung và hình thức thể hiện. Bản sắc dân tộc được
hình thành qua quá trình lao động sáng tạo của một
cộng đồng có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, nghệ
thuật, phong tục tập quán trong một hoàn cảnh lịch
sử xã hội cụ thể. Nó thể hiện mối quan hệ giữa con
người với môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội. Trong những mối quan hệ đó, con người đã
sáng tạo ra các giá trị văn hóa, các tiêu chí chân,
thiện, mỹ và các chuẩn mực nhân văn làm nền tảng
cho giá trị của một dân tộc. Hệ thống các giá trị
mang tính đặc thù ấy giúp phân biệt nền văn hóa
này với những nền văn hóa khác. Bản sắc dân tộc
được duy trì, tái tạo cùng với sự cải biến trong giới
hạn để vừa lưu giữ những giá trị trong quá khứ vừa
góp phần tạo ra giá trị mới. Chính điều này tạo nên
sức sống của mỗi dân tộc; đúng như nhà nghiên
cứu Chu Quang Trứ đã khẳng định: “Tất cả những
nét đặc sắc của dân tộc tạo thành trong trường kỳ
lịch sử, trong cuộc giao lưu văn hóa phức tạp, để
kiên định một bản lĩnh mà tồn tại đĩnh đạc, ta mãi
là ta, ta ngày càng đậm càng sắc trong trào lưu
tiến hóa của loài người” [2, tr.111].
2.2.2. Sự thể hiện các giá trị di sản văn hóa
nghệ thuật dân tộc trong thiết kế xã hội ở Việt
Nam hiện đại
Khi so sánh một sản phẩm thiết kế với một
tác phẩm mỹ thuật, chúng ta không khó nhận ra
sự giống và khác nhau giữa chúng. Người nghệ
sĩ tạo ra tác phẩm mỹ thuật luôn chú trọng đến
yếu tố thẩm mỹ; Nhà thiết kế khi sáng tạo vừa
phải quan tâm đến lợi ích thực tế cho người sử
dụng vừa phải chú trọng yếu tố thẩm mỹ của
sản phẩm. Để thiết kế xã hội Việt Nam trong
thời hiện đại có một vị trí nhất định, vừa mang
dấu ấn của thời đại, vừa mang bản sắc riêng,
các nhà thiết kế phải khéo léo tích hợp các yếu
tố thẩm mỹ tạo nên bản sắc dân tộc của kho
tàng di sản văn hóa nghệ thuật kết hợp với các
quan niệm thiết kế hiện đại mang tính toàn cầu.
Bản sắc dân tộc trong nghệ thuật truyền thống
gồm: nội dung và hình thức thể hiện. Về nội
dung, bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ đề tư
tưởng và qua hình tượng nghệ thuật. Các hình
tượng nghệ thuật thể hiện lối sống, cách suy
Như vậy, theo định nghĩa về bản sắc dân
tộc và khái niệm thiết kế xã hội đã trình bày, sự
cần thiết tích hợp những giá trị văn hóa nghệ
122
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Mã Thanh Cao
nghĩ, cách giải quyết các quan hệ giữa con
người với tự nhiên và xã hội đã làm nên tinh
thần, cốt cách của dân tộc. Về hình thức, bản
sắc dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật
và bằng chất liệu. Đó là đường nét, hình họa,
màu sắc, bố cục và các vật liệu được sử dụng
và những phương thức thể hiện. Kho tàng di
sản văn hóa nghệ thuật dân tộc là nguồn tư liệu
rất phong phú để nhà thiết kế khai thác và phát
huy chúng trong sản phẩm của mình, trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến
một vài trường hợp cụ thể và tiêu biểu liên
quan đến thiết kế truyền thống của người Việt.
Phát huy các giá trị của văn hóa nghệ
cách hợp lý theo luật “Thuận mắt” của người
Việt cổ. Vì vậy, khi quan sát các mảng trang trí
người xem thường không cảm thấy bố cục chật
chội hay rời rạc bởi khoảng cách giữa các hình
và khoảng trống luôn được tính toán hợp lý cho
những khoảng nghỉ mắt. Nghệ thuật sử dụng
nét tạo hình luôn đơn giản, chắt lọc nhưng rất
“đắt giá” như nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hòa
đã nhận xét: “Phương pháp vẽ hình trên đồ đồng
Đông Sơn rất thống nhất, đó là kiểu “kỷ hà” hay
còn gọi là “hình học hóa” nghĩa là quy hình tượng
vào các nét hình học thẳng hay cong đều, mảng
miếng rõ nét theo hướng tối giản, gần hình học
như vuông, chữ nhật, tam giác, thang, tròn,…
Thành ra các nét rất sắc, không rườm rà, các
mảng phẳng đều mà không tả chất.”
thuật trên đồ đồng thời Đông Sơn. Cho đến
nay, với những khám phá của khoa học khảo
cổ, nghệ thuật Đông Sơn là đỉnh cao của thời
kỳ dựng nước của người Việt cổ. Các đồ án
trang trí trên đồ đồng như trống, thạp, chậu,
chuông, chân đèn, chuôi kiếm, gương các loại
rất độc đáo, không chỉ mang giá trị lịch sử, dân
tộc học, mà còn có giá trị nghệ thuật. Quan
niệm thẩm mỹ được thể hiện qua việc khám
phá, phản ánh thế giới xung quanh bằng các mô
típ trang trí đặc sắc. Các loài vật thường xuyên
xuất hiện trên các môt típ trang trí là chim (trống
Ngọc Lũ, Cổ Loa, thạp Đào Thịnh), cá, cóc (trống
Lạng Sơn), voi (trống Hồi xuân), hổ (qua đồng núi
Voi), hươu, trâu, bò (trống Đồi Ro), chó, cá sấu
(trống Hòa Bình), cáo (trống Phú Xuyên), bồ nông
(trống Hoàng Hạ),… Hình tượng con người được
diễn tả trong các hoạt động thường ngày như
giã gạo, đánh trống, nhảy múa, chèo thuyền,
bắn cung,… và cả giao hoan (thạp Đào Thịnh).
Các mảng trang trí trên các đồ đồng Đông Sơn
là những minh chứng cho sự khéo léo của nghệ
nhân xưa và lối tạo hình độc đáo của mỹ thuật
Việt Nam thời dựng nước. Một trong những nét
đặc sắc nhất của đồ đồng thời này là tính chặt
chẽ của bố cục trong các đồ án trang trí. Mỗi
hình, mỗi chi tiết xuất hiện trên mặt trống, thạp,
gương tròn hay trên tang, vai trống, thân thạp,
chậu đều được cân nhắc kỹ lưỡng, sắp xếp một
Hình 2. Hình thuyền trên thân thạp đồng Đào Thịnh [6]
Phát huy các yếu tố độc đáo của tranh dân
gian Việt Nam. Ra đời khoảng thế kỷ XV và
thịnh hành vào thế kỷ XVII, tranh dân gian
Việt Nam là sản phẩm của tập thể, của cộng
đồng làng. Giá trị của tranh dân gian được thể
hiện qua nội dung và hình thức. Nội dung tranh
dân gian xoay quanh đời sống của người nông
dân trồng lúa nước ở làng quê Việt Nam.
Những người nông dân quanh năm chăm chỉ
làm lụng trên đồng ruộng, dù vất vả nhưng vẫn
lạc quan yêu đời được thể hiện trong loạt tranh
Ngày mùa, Chị thợ cày, Chị thợ bừa,… Ước
mơ về một cuộc sống ấm no và hạnh phúc, con
cháu đề huề là đề tài chủ yếu trong loạt tranh
chúc tụng như Gà đàn, Lợn đàn, Đại cát, Cá
chép trông trăng, Thất đồng, Vinh quy.
Lối ứng xử tinh tế, hóm hỉnh và khéo léo của
người Việt được khắc họa trong các tranh đề tài
123
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
châm biếm đả kích có thể được phát huy rất tốt
trong các thiết kế mang tính xã hội đương đại.
Tiếng cười phê phán nhẹ nhàng và hóm hỉnh
nhưng dễ đi vào lòng người khi diễn tả thói hư tật
xấu trong xã hội như trong tranh Cóc kiện trê,
Đánh ghen, Thầy đồ cóc, Đám cưới chuột… Cách
gửi thông điệp mang tính phê phán, xây dựng như
vậy chắc chắn vẫn chưa mất đi giá trị về tính thời
sự của nó, nhất là đối với các vấn đề tệ nạn xã hội
hiện nay như việc buôn bán ma túy, xả rác bừa
bãi gây ô nhiễm môi trường,… Nguyên liệu từ
thiên nhiên như giấy dó, vỏ điệp, màu từ than tro
lá tre, rơm nếp, đất sét, trái dành dành, bảng màu
tươi vui với vàng, trắng điệp, đỏ, xanh bền theo
thời gian, sự linh hoạt và sáng tạo không gian, bố
cục, đường viền màu đen, nét chắc, khỏe, mạch
lạc, nhưng uyển chuyển đã trở thành các đặc
trưng riêng của tranh Việt Nam. “Từ đề tài, chất
liệu, màu sắc, đến nhan đề là những câu tục ngữ, dân
ca. Chẳng hề có gì quý tộc, siêu phàm, khe khắt, chi li
cả.Cáigìcũngmộcmạc,chânchất,giảndị”[1,tr.123].
Hình 3. Tranh Đông Hồ [8]
3. KẾT LUẬN
Thiết kế xã hội là sự tích hợp các giá trị
truyền thống và hiện đại để tạo ra những sản
phẩm có giá trị đặc trưng của dân tộc. Để thực
hiện tốt vai trò của một công dân, bằng ngôn
ngữ đặc thù và các phương tiện kỹ thuật hiện
đại, mỗi nhà thiết kế xã hội ở Việt Nam có thể
góp phần vào việc xây dựng một xã hội ngày
càng tốt đẹp hơn thông qua các tác phẩm của
mình. Ngành thiết kế xã hội Việt Nam không
chỉ có trách nhiệm khai thác các giá trị truyền
thống mà còn phải tạo ra những giá trị mới, phù
hợp với điều kiện và đáp ứng nhu cầu của xã
hội Việt Nam góp phần kết nối cộng đồng trong
môi trường toàn cầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Ngọc (1994), Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
[2] Chu Quang Trứ (2013), Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật.
[3]Nhiềutácgiả(1998),HỏivàđápvềvănhóaViệtNam,TạpchíVănhóanghệthuật,NxbVănhóadântộc,HàNội.
[4] Viện Ngôn ngữ học (1985), Từ điển Anh - Việt, Nxb Khoa học Xã hội.
[5]VictorMargolinandSylviaMargolin(2002), A“SocialModel”ofDesign:IssuesofPracticeandResearch.
[6]http://ape.gov.vn/bao-vat-quoc-gia-thap-dao-thinh-chiec-thap-dong-dung-trong-nghi-le-co-the-chua-toi-200-lit-ruou-ds205.th
Ngày nhận bài: 27-6-2020. Ngày biên tập xong: 24-8-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020
124
Bạn đang xem tài liệu "Di sản văn hóa nghệ thuật và thiết kế xã hội ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
di_san_van_hoa_nghe_thuat_va_thiet_ke_xa_hoi_o_viet_nam.pdf

