Các vị thần linh trong thần thoại - biểu tượng cho sự phát triển của nền kinh tế Hy Lạp cổ đại (khoảng thiên niên kỷ III - Thế kỷ IV TCN)

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 47-53  
CÁC VỊ THẦN LINH TRONG THẦN THOẠI - BIỂU TƯỢNG  
CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ HY LẠP CỔ ĐẠI  
(KHOẢNG THIÊN NIÊN KỶ III - THẾ KỶ IV TCN)  
Lê Trương Ánh Ngọc  
Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 22/12/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 07/4/2021; Ngày duyệt đăng: 21/5/2021  
Tóm tắt  
Thần thoại Hy Lạp là một trong những di sản văn hóa vĩ đại của nhân dân Hy Lạp cổ đại. Thần thoại  
không đơn giản chỉ là một tác phẩm văn chương được tạo ra qua trí tưởng tượng của con người, mà đó còn  
là những tri thức về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả muốn thông qua hình  
ảnh các vị thần linh trong thần thoại Hy Lạp để chỉ ra sự phát triển về mặt kinh tế của nhà nước Hy Lạp thời  
kỳ cổ đại thông qua cách tiếp cận đa chiều giữa sử học và văn học.  
Từ khóa: Các vị thần linh, Hy Lạp cổ đại, sự phát triển kinh tế, thần thoại Hy Lạp.  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
GODS IN MYTHOLOGY - A SYMBOL OF ECONOMY DEVELOPMENT  
IN ANCIENT GREECE  
(ABOUT 3th MILLENNIUM - 4th CENTURY BC)  
Le Truong Anh Ngoc  
Faculty of Education, An Giang University, Viet Nam National University Ho Chi Minh city  
Article history  
Received: 22/12/2020; Received in revised form: 07/4/2021; Accepted: 21/5/2021  
Abstract  
Greek mythology is one of the ancient Greeks’ great cultural heritages. Mythology is not merely a  
literary work created by human imagination, but also it is knowledge about history, art and culture. In  
this article, the author would like to use these images of gods in Greek mythology in order to indicate the  
economy development of the Greek states in the ancient times through a multi - dimensional approach to  
both history and literature.  
Keywords: Ancient Greece, economy development, gods, Greek mythology.  
Trích dẫn: Lê Trương Ánh Ngọc. (2022). Các vị thần linh trong thần thoại - biểu tượng cho sự phát triển nền của kinh tế Hy  
Lạp cổ đại (khoảng thiên niên kỷ III - thế kỷ IV TCN). Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 11(1), 47-53.  
47  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
1. Đặt vấn đề  
việc phân tích và tổng hợp các tài liệu lịch sử tin cậy  
để tìm ra sự phát triển của nền kinh tế Hy Lạp cổ đại  
qua hình ảnh các vị thần.  
Do điều kiện tự nhiên mang lại, nhìn chung Hy  
Lạp cổ đại là một quốc gia có một nền kinh tế thiên  
về sản xuất thủ công nghiệp, mậu dịch hàng hải trên  
biển hơn là sản xuất nông nghiệp. Sự thịnh vượng của  
nền kinh tế của đất nước theo suy nghĩ của người Hy  
Lạp lúc này do sự ban tặng và điều khiển của thần  
linh, mỗi một thành phần kinh tế có một vị thần bảo  
trợ riêng. Chính vì thế, với trí sáng tạo phi thường  
người Hy Lạp cổ xưa đã xây dựng và mô tả hình ảnh  
các vị thần một cách sinh động, thể hiện gần như trọn  
vẹn chức năng của họ đối với nhiệm vụ bảo trợ nền  
kinh tế. Và khi đó, họ - những vị thần đã trở thành  
một biểu tượng của sự phát triển của nền kinh tế Hy  
Lạp cổ đại.  
3. Nội dung nghiên cứu  
3.1. Khái quát về Hy Lạp cổ đại  
Hy Lạp cổ đại nằm ở phía Nam bán đảo Balkans,  
giống như cái đinh ba của thần biển Poseidon từ đất  
liền vươn ra Địa Trung Hải (Lê Phụng Hoàng, 1998,  
tr. 153). Lãnh thổ Hy Lạp rộng lớn bao gồm miền lục  
địa Hy Lạp (Nam bán đảo Balkans), miền đất ven bờ  
Tiểu Á và những đảo thuộc biển Aegean. Miền lục  
địa Hy Lạp có tầm quan trọng trong lịch sử, được chia  
ra làm ba vùng Bắc - Trung - Nam. Nét nổi bật của  
địa hình lục địa Hy Lạp là cả ba vùng đều có sự đan  
xen của cấu trúc địa hình với những đồng bằng, cao  
nguyên, rừng núi, đồi, sông, suối, eo, vịnh,... Bắc Hy  
Lạp bị dãy Pindus chia cắt thành hai khu vực, phía  
Tây là Epia nhiều rừng núi và phía Đông là đồng  
bằng Thessaly. Trung Hy Lạp có địa hình khác hẳn  
với nhiều rừng núi chạy dọc - ngang đã chia vùng  
này thành nhiều khu vực địa lý nhỏ hẹp hầu như cách  
biệt với nhau. Trù phú nhất là đồng bằng Attica và  
đồng bằng Beoxi. Miền Trung và Nam Hy Lạp nối  
với nhau bằng eo biển Corinth - có nhiều đồi núi và  
rừng nhỏ. Miền Nam Hy Lạp là một bán đảo nhỏ - đảo  
Peloponnese, hình bàn tay, có bốn ngón duỗi thẳng  
xuống Địa Trung Hải. Đây là vùng trù phú nhất do  
có nhiều đồng bằng như Laconia - Argos,… Bờ biển  
Hy Lạp dài và có những đặc trưng riêng ở hai nửa  
Đông và Tây. Bờ phía Tây gồ ghề lởm chởm không  
thuận tiện lắm cho việc xây dựng các cảng biển; bờ  
phía Đông lại khúc khủy hình răng cưa tạo ra nhiều  
vịnh, nhiều hải cảng tự nhiên, an toàn thuận lợi cho  
sự di chuyển của thuyền bè (Lương Ninh và cs.,  
2003, tr. 161).  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Trên cơ sở những tư liệu thu thập được, bằng  
phương pháp luận của chủ nghĩa Marx - Lenin, cũng  
như quán triệt quan điểm của Đảng ta, trong quá trình  
nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau đây:  
Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét  
và trình bày quá trình phát triển của các sự kiện lịch  
sử theo một trình tự liên tục, trong mối liên hệ tác  
động lẫn nhau của chúng. Yêu cầu đối với phương  
pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của  
các sự kiện; làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh,  
phát triển và biểu hiện của chúng; làm sáng tỏ các  
mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự kiện khác.  
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp này được  
sử dụng một cách xuyên suốt để khái quát lại bối  
cảnh lịch sử Hy Lạp thời kỳ cổ đại; trên cơ sở đó rút  
ra nhận xét về sự phản ánh một trình độ sản xuất của  
nền văn minh Hy Lạp được biểu tượng hóa qua hình  
ảnh các vị thần linh.  
Phương pháp logic là đặt các sự kiện, hiện tượng  
trong mối liên hệ với nhau và tổng hợp, so sánh,  
đối chiếu, phân tích chúng… để tìm ra ý nghĩa, bản  
chất của sự kiện lịch sử. Phương pháp logic sẽ giúp  
nhà nghiên cứu khám phá ra sự tương quan giữa hệ  
thống thần linh và sự phát triển của nền kinh tế Hy  
Lạp thời kỳ cổ đại.  
Vùng đất ven bờ Tiểu Á là vùng đất trù phú và  
là cầu nối thế giới Hy Lạp với các nền văn minh cổ  
đại phương Đông như Persia, Ai Cập,… Trong vùng  
biển Aegean thuộc Địa Trung Hải, Hy Lạp có nhiều  
đảo lớn nhỏ nằm rải rác, tạo thành một hành lang nối  
giữa miền lục địa Hy Lạp với Tiểu Á. Phía Nam Hy  
Lạp là đảo Crete được xem là một trung tâm thương  
mại của nền văn minh tối cổ Crete - Mycenae trong  
lịch sử Hy Lạp.  
Phân tích và tổng hợp lý thuyết là thao tác phân  
tích lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, tìm những  
dấu hiệu đặc thù của bản chất cấu trúc bên trong của  
lý thuyết, trên cơ sở phân tích ta tổng hợp lại để tạo  
ra một hệ thống, từ đó thấy được mối quan hệ biện  
chứng của chúng. Bài viết được hoàn thành dựa trên  
Trước thiên niên kỷ III TCN, miền lục địa Hy  
Lạp và một số đảo trong vùng biển Aegean đã có cư  
dân bản địa sinh sống. Họ cũng chính là chủ nhân của  
48  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 47-53  
nền văn minh tối cổ Crete - Mycenae. Từ cuối thiên đã có lâu đời vào thời kỳ tiền Hy Lạp. Lúc đầu nó  
niên kỷ III đầu thiên niên kỷ II TCN, các tộc người chỉ mang một ý nghĩa đơn giản, thể hiện khát vọng  
Hy Lạp thuộc ngữ hệ Ấn – Âu tiến hành cuộc thiên của con người, ước mơ của con người đối với mùa  
di gần 1.000 năm từ hạ lưu sông Danube xuống vùng màng - mùa lúa mì. Lâu dần với sự phát triển của xã  
Balkans và các đảo thuộc biển Aegean. Kết quả là họ hội, tục thờ cúng đó mang những ý nghĩa phức tạp  
đã chinh phục hoàn toàn khu vực này tạo nên những  
điểm cư trú của người Hy Lạp. Người Doriann định  
cư ở phía Nam bán đảo Peloponnese - đảo Crete - và  
một số đảo nhỏ ở Nam Aegean. Người Ionian định cư  
ở vùng đồng bằng Attica - đảo Obe và những vùng đất  
ven bờ Tiểu Á. Người Achaean địa bàn cư trú chính  
ở miền Trung Hy Lạp, người Aeolian ở Bắc Hy Lạp,  
một số đảo trên biển Aegean và vùng ven bờ Tiểu Á.  
hơn, sâu rộng hơn: người Hy Lạp trong thời kỳ cổ  
đại đã suy ngẫm với một cảm hứng khái quát phảng  
phất ít nhiều hương vị của triết lý tự nhiên – nhân bản  
về quá trình hình thành cây lúa (Nguyễn Văn Khỏa,  
2010, tr. 215-229).  
Hạt lúa mì gieo xuống đất sẽ được đất đen ấp ủ  
nuôi dưỡng; đất đen đã đem cuộc sống của mình để  
ra chăm nom cho cuộc sống của lúa mì. Con người  
cũng thế, con người sống trên mặt đất, cũng được  
đất đen nuôi dưỡng, cứ thế con người sinh sôi nảy  
nở đến khi từ giã cõi đời. Khi con người trở về với  
đất, sống trong lòng đất, biến thành đất. Từ đây con  
người lại đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng  
lại cỏ cây, trong đó có cây lúa mì - loại cây đã nuôi  
dưỡng loài người và đến lượt con người nuôi dưỡng  
lại. Sinh sinh - tử tử và tái sinh cứ thế tuần hoàn. Cái  
chết đối với con người không phải là kết thúc, mà  
là sự tiếp tục một cuộc sống khác, cuộc sống vẫn có  
ích cho đồng loại, một cuộc sống trả ơn, đền đáp lại  
công lao của cây lúa mì cũng như các loài thực vật  
khác. Như vậy, khi nhìn hạt lúa mì gieo xuống lòng  
đất, con người ấp ủ một hy vọng cho một mùa bội  
thu, họ cảm thấy sự vĩnh hằng của đời sống trong đó  
có cuộc sống của chính mình.  
Vào thế kỷ IX TCN, người Hy Lạp gọi tên nước  
mình Hellade hay Elat từ tên tộc của mình mà họ  
cho rằng thuộc dòng dõi thần Hellenes hay Ellenes,  
qua phiên âm từ Trung Quốc là Hy Lạp (Lê Phụng  
Hoàng, 1998, tr. 153).  
Trong thời kỳ cổ đại, Hy Lạp đã trải qua các  
giai đoạn lịch sử tiêu biểu: Thời kỳ Crete - Mycenae  
(khoảng thiên niên kỷ III TCN - thế kỷ XII TCN);  
Thời kỳ Homer (thế kỷ XI - IX TCN); Thời kỳ các  
quốc gia thành bang (thế kỷ VII - IV TCN); Thời kỳ  
Macedoina và thời đại Hy Lạp hóa (337 - 30 TCN).  
3.2. Hệ thống thần linh biểu tượng cho sự  
phát triển kinh tế của Hy Lạp cổ đại  
3.2.1. Nông nghiệp  
Demeter - Thần nông nghiệp, nữ thần cai quản  
sự phì nhiêu của đất đai, trông nom việc trồng trọt,  
mùa màng và đặc biệt bảo hộ cho mùa lúa mì, và  
thường được gọi là nữ thần Lúa mì. Hạt lúa mì từ khi  
gieo xuống đất có nảy mầm được hay không, bông  
có chắc có mẩy không,… đó là công việc của người  
làm ruộng cũng như nữ thần Demeter. Demeter và  
con gái Persephone là hai vị thần của nghề nông,  
phản ánh thời kỳ con người đã định cư và tìm được  
nguồn thức ăn mới, vững chắc hơn phong phú hơn  
nguồn thức ăn kiếm được từ săn bắt hái lượm. Tượng  
nữ thần Demeter được người xưa thể hiện là một phụ  
nữ dáng người hơi đậm, vẻ mặt trang nghiêm, tóc  
như những gié lúa mì buông xõa xuống hai vai, hai  
tay cầm giơ ngang vai những bông lúa mì chen với  
hoa anh túc, hai con rắn quấn quanh cổ. Hoa anh túc  
tượng trưng cho giấc ngủ của đất đai và người chết.  
Lúa mì là báu vật của Demeter đã ban tặng cho loài  
người và được họ giữ gìn. Hai con rắn tượng cho đất  
và sự vĩnh hằng. Tục thờ cúng hai vị thần nghề nông  
Cùng với nữ thần Demeter, thần rượu nho  
Dionysos cũng được xem là một biểu tượng trong  
nông nghiệp. Nam thần là con của thần Zues và một  
người phụ nữ trần thế là Semele, là vị thần đã dạy  
cho người dân Hy Lạp nghề ép rượu nho tạo ra một  
sản phẩm độc đáo với bao nguồn lợi và niềm vui, cho  
nên thần Dionysos rất được nhân dân Hy Lạp biết  
ơn và sùng kính. Tuy nhiên, rượu nho - tặng vật của  
thần linh ban cho loài người, có lúc bị hiểu lầm là  
một thứ nước bùa mê ma quái, uống vào làm đầu óc  
choáng váng, mê mê tỉnh tỉnh, máu trong người thì  
chảy giần giật, bóc nóng bừng bừng, vì thế đã xảy ra  
những hiểu lầm đáng tiếc (Arthur Cotterell và Rachel  
Storm, 2008, p.39).  
Do điều kiện tự nhiên quy định cho nên Hy Lạp  
không phải là một quốc gia mạnh về nông nghiệp  
phát triển cây lương thực (người Hy Lạp cũng giống  
như người Roma phải thường xuyên nhập lúa mì của  
49  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
tích sự nhưng khi vào tay của vị thần lại trở thành cái  
Ai Cập và các quốc gia Tiểu Á), mà cây trồng chủ  
yếu là nho và olive. Rượu nho và dầu olive trở thành khiên, cái mũ trụ, áo giáp hộ tâm, rồi cốc vại, bình  
những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của họ đựng, thạp lớn thạp nhỏ đẹp đẽ, tinh vi. Cũng khó  
trong thời kỳ này.  
hiểu vì sao một vị thần tài năng như thế bắt phải chịu  
một thân hình xấu xí? Điều này gắn với phân công  
lao động trong xã hội. Thông thường những người có  
sức khỏe tốt sẽ đảm đương công việc cày bừa nặng  
nhọc trên đồng ruộng, còn những người ốm yếu hơn  
và không lành lặn sẽ phụ trách các công việc thủ  
công, đây là công việc đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế  
nhiều hơn sức lực. Trong ánh lửa bập bùng của những  
chiếc lò rèn, những người cổ xưa đã tưởng tượng vị  
thần Hesphatois đã đến và mang ngọn lửa của nghề  
thủ công rọi sáng vào cuộc đời họ. Đây không phải  
là ngọn lửa phá hoại gây ra những tại họa trong đời  
sống, đây là ngọn lửa của công nghiệp luyện kim và  
công nghiệp cơ khí của xã hội thị tộc. Chính vì lẽ đó,  
tuy có thân hình xấu xí nhưng Hesphatois lại là một  
vị phúc thần của nhân dân Hy Lạp. Họ đã thể hiện  
tượng Hesphatois là một ông già đầu đội mũ hình  
tháp, râu ria bờm xờm, thân hình to khỏe, dáng thô,  
tay cầm búa hoặc cầm kìm. Hesphatois đã sáng tạo  
ra nhiều thứ, trong đó tác phẩm kỳ công nhất, tuyệt  
diệu nhất là cái khiên của Achilles. Vị thần đã từng  
đem ngọn lửa của mình giúp Achilles chiến thắng  
thần sông Scamadara trong cuộc chiến thành Troy  
(Nguyễn Văn Khỏa, 2010, tr. 208-214).  
3.2.2. Thủ công nghiệp  
Một số vùng như Attica - Corinth - Beoxi có  
loại đất sét đặc biệt dùng để chế tạo đồ gốm tinh xảo,  
tuyệt mĩ trong hoạt động thủ công nghiệp. Hy Lạp  
được thiên nhiên ban tặng nhiều mỏ khoáng sản quý  
như sắt ở Laconia, đồng ở Obe, bạc ở Attica, vàng  
ở Toraxia,… và những gỗ quý bạt ngàn khắp miền  
lục địa. Ngay buổi đầu, người Hy Lạp đã phát triển  
khuynh hướng của một nền kinh tế thiên về sản xuất  
thủ công nghiệp, mậu dịch hàng hải trên biển hơn là  
sản xuất nông nghiệp.  
Mệnh danh là nữ thần của trí tuệ - tri thức nên  
Athena đã sáng tạo ra biết bao nhiêu điều để dạy cho  
con dân Hy Lạp. Nữ thần đã ban cho người trần thế  
cái cày và cái bừa để họ làm ruộng, trồng lúa mì,  
trồng nho và olive. Trong thời kỳ cổ đại, rượu nho  
và dầu olive là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của  
Hy Lạp. Nữ thần còn trao cho những người phụ nữ  
cái xa quay sợi và khung dệt, dạy cho họ nghề dệt  
khéo để họ có thể dệt nên những tấm vải dày mỏng  
màu sắc rực rỡ theo ý muốn. Vì thế người xưa còn  
gọi nữ thần là Athena Ergana nghĩa là Athena Thợ  
giỏi (trong tiếng Hy Lạp Ergon có nghĩa là người lao  
động). Nữ thần còn đặt ra các thiết chế, pháp luật cho  
các đô thị để con người biết cách cai quản điều hành  
cuộc sống của mình một cách trật tự và công bằng.  
Và một chức năng nữa của nữ thần là đảm bảo cho  
khoa học và kỹ thuật trong các đô thị phát triển rực  
rỡ, phục vụ hữu hiệu cho con người. Từ tất cả những  
công việc ấy, Athena được gọi là vị nữ thần bảo hộ  
cho đô thị: Athena Poliade (trong tiếng Hy Lạp là  
Polias - Polis - đô thị). Sự xuất hiện những biệt danh  
của các vị thần gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử cụ  
thể biểu thị, các công xã thị tộc Hy Lạp dần dần thống  
nhất lại với nhau và từ đó nảy sinh khuynh hướng tập  
trung những nghi lễ, tập tục thờ cúng (Arthur Cotterell  
and Rachel Storm, 2008, p.27).  
Nhờ vào sự bảo hộ của các vị thần linh, thủ  
công nghiệp đã hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp và  
đạt được những thành tựu lớn với nhiều ngành nghề  
thủ công xuất hiện như: sản xuất đồ gốm, rèn, đồ trang  
sức, ép dầu, ép rượu, xây dựng nhà ở,... Khi khai quật  
cung điện thứ nhất và thứ hai của thành cổ Knossos  
(văn minh Crete - Mycenae) đã phát hiện các kho cất  
giữ lương thực, vũ khí, chiến xa, dầu, rượu, dụng cụ  
ép dầu, nhiều chum vại đựng dầu (Lương Ninh và  
cs., 2003, tr. 164-165). Do số lượng ngành nghề thủ  
công tăng lên, kỹ thuật tiến bộ, một số ngành nghề  
và một số địa phương đã có sự phân công chuyên  
môn hóa như: Corinth chuyên đóng thuyền chiến,  
thuyền buồm; Mile nổi tiếng về gia công kim loại,  
dệt vải; Mega là thành phố trung tâm của kỹ nghệ  
len, thuộc da,…  
Ngoài nữ thần Athena xinh đẹp và tài năng, nam  
thần Hesphatois là một biểu tượng khác của nghề  
thủ công trong công xã thị tộc. Tuy bề ngoài xấu xí,  
chân thọt nhưng nam thần vô cùng sáng ý, khéo léo,  
học một biết mười, đặc biệt vô cùng khỏe mạnh. Từ  
những cục vàng, thỏi đồng chẳng khác chi cục đất vô  
3.2.3. Thương nghiệp  
Sự phát triển nông nghiệp - thủ công nghiệp đã  
thúc đẩy hoạt động thương mại và mậu dịch hàng  
hải. Nhiều thành thị với tư cách là những trung tâm  
50  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 47-53  
4. Kết quả nghiên cứu  
thủ công nghiệp và buôn bán đã xuất hiện, tiền tệ  
bằng kim loại ra đời thay cho lối buôn bán vật đổi  
vật trước kia. Sự phát triển của lĩnh vực hàng hải  
không chỉ mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người  
Hy Lạp cổ đại, mà còn tạo cơ hội cho họ tiếp xúc  
với các dân tộc khác trên thế giới, cùng với việc tiếp  
thu những tư tưởng mới, không ngừng thúc đẩy sức  
sáng tạo của mình. Chính vì vậy, ngành hàng hải và  
lực lượng hải quân có ý nghĩa vô cùng to lớn với  
Hy Lạp thời kỳ này.  
Khi nghiên cứu về các vị thần linh trong thần  
thoại Hy Lạp, chúng ta nhận thấy có một sự liên kết  
chặt chẽ giữa sự phát triển về kinh tế và xã hội Hy  
Lạp trong thời kỳ cổ đại thông qua hình ảnh và chức  
năng của các vị thần.  
Trong thời kỳ công xã thị tộc, con người đã đạt  
được những tiến bộ rất lớn trong tổ chức xã hội và  
đời sống tinh thần. Từ chỗ chỉ biết sử dụng những  
hòn đá cuội tự nhiên hay biết ghè một rìa cạnh của  
hòn đá để tạo ra những chiếc rìu vạn năng, mũi lao,  
mũi giáo được họ chế tác từ xương và gỗ. Từ kỹ thuật  
phóng lao, con người đã chế tạo ra cung và tên - đây  
được xem là một phát minh quan trọng vì nó đánh  
dấu một bước tiến lớn về trình độ nhận thức của con  
người. Sự tồn tại của thần Apollo với cây cung bạc  
sáng chói và nữ thần Atermis cũng với những cây  
cung bạc và ống tên vàng trong thần thoại Hy Lạp,  
đã đánh dấu bước tiến lớn về mặt nhận thức xã hội  
cũng như sự cải tiến về công cụ lao động của người  
Hy Lạp cổ đại.  
Đáy biển sâu có một cung điện vô cùng đẹp và  
tráng lệ, đó là nơi cư trú của thần Poseidon - vị thần  
bảo hộ cho ngành thương mại trên biển của Hy Lạp  
cổ đại. Thần là con của Cronos và Rhea và là anh  
ruột của thần Zues. Mọi người đều rất sợ cây đinh  
ba trong tay thần Poseidon, chỉ cần thần xoay đầu  
nó lại phóng một nhát xuống biển là sóng biển quẫy  
lên, lớp lớp dâng cao, sôi réo ầm ầm, bão tố gào thét  
quật những con sóng vào bờ làm rung chuyển cả mặt  
đất. Nhưng chỉ cần thần cầm ngang cây đinh ba quay  
ngược lại cho mũi nhọn hướng lên trời là mặt biển  
lại yên tĩnh. Quần tụ chung quanh Poseidon còn có  
những con quỷ biển, thần biển Nere và các con gái  
là những nàng Nereides và Glaucos. Lão thần biển  
Nere đầu bạc là một người quang minh chính trực,  
tính nết hiền lành, thẳng thắn, đáng yêu như lúc biển  
khơi trời yên sóng gió, trăng tỏ mây quang. Đáng yêu  
nhất là các nàng tiên Nereides, họ thường từ đáy biển  
sâu đội nước nổi lên vui chơi trên mặt sóng dập dềnh.  
Khi thì họ nắm tay nhau thành một hàng dài lướt đi  
trên mặt nước, khi thì quây lại thành một vòng tròn  
ca múa theo nhịp sóng. Các tiên nữ Nereides là người  
bảo vệ cho những chuyến đi biển của con người được  
bình yên vô sự, đến nơi đến chốn, để cho mặt biển  
thuyền bè xuôi ngược đông vui. Glaucos vốn là một  
chàng trai đánh cá nghèo và sau đó được sự giúp đỡ  
của các vị thần nên chàng trở thành bất tử. Glaucos  
khi đó là một ông già râu tóc lòa xòa như rêu như  
rong biển màu tím sẫm, đặc biệt Glaucos lại mọc ra  
một cái đuôi như đuôi cá. Chàng có tài tiên đoán và  
rất tốt bụng với những người đi biển, lắng nghe mọi  
lời cầu nguyện của họ một cách trân trọng và sẵn  
sàng giúp đỡ họ khi cần thiết. Dưới sự bảo hộ của  
thần biển Posedoin, nền kinh tế mậu dịch hàng hải  
của Hy Lạp cổ đại phát triển thịnh vượng, trở thành  
trung tâm về những đội thương thuyền trên biển mà  
điển hình nhất là sự thịnh vượng về kinh tế của Athens  
(Arthur Cotterell và Rachel Storm, 2008, p.76-77).  
Do sự cải tiến về công cụ lao động, từ hái lượm  
con người đã biết đến trồng trọt, từ săn thú bắt đầu biết  
chăn nuôi gia súc. Kinh tế nông nghiệp và chăn nuôi  
sơ khai ra đời. Nữ thần Demeter và nam thần Hermex  
là hai vị thần bảo hộ cho nông nghiệp và chăn nuôi  
được ổn định và phát triển, đảm nhu cầu no ấm cho  
nhân dân Hy Lạp thời xa xưa. Cùng với trồng trọt và  
chăn nuôi, người Hy Lạp cổ đại còn biết dệt vải, biết  
làm gốm, đan lưới, đánh cá,… từ đó các ngành nghề  
thủ công nghiệp xuất hiện. Athena là vị thần bảo hộ  
cho nghề thủ công này. Đây là những dấu hiệu về sự  
thịnh đạt của nền kinh tế - xã hội trong thời kỳ công  
xã thị tộc mẫu hệ.  
Theo thần thoại Hy Lạp, con người đã trải qua  
năm thời đại nối tiếp nhau: thời đại Vàng, thời đại  
Bạc, thời đại Đồng, thời đại các anh hùng - nửa thần (á  
thần) và thời đại Sắt. Đây là thời kỳ đánh dấu sự xuất  
hiện của công cụ kim khí. Có rất nhiều sản phẩm thủ  
công bằng kim khí được chế tạo, và thần Hesphatois  
chính là vị thần của nghề thủ công trong công xã thị  
tộc. Thủ công nghiệp thực sự trở thành một ngành sản  
xuất độc lập và đóng một vai trò hết sức quan trọng  
trong đời sống kinh tế - xã hội của người Hy Lạp cổ  
đại (Lương Ninh và cs., 2007, tr. 34).  
Sự phát triển ngày càng cao của nền sản xuất xã  
hội ở thời đại kim khí đã đem lại những biến đổi mới  
51  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
trong xã hội. Sản phẩm con người làm ra không chỉ và địa vực mà không có quan hệ họ hàng được gọi là  
đủ ăn mà còn dư thừa thường xuyên. Do sự dư thừa công xã láng giềng (Lương Ninh và cs., 2003, tr. 29).  
này nên người đàn ông bắt đầu quan tâm đến thừa kế Trong công xã láng giềng, sự chênh lệch tài sản ngày  
tài sản. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng ổn định càng lớn, của cải tích lũy ngày càng nhiều trong tay  
dẫn đến việc con cái biết đến cha, xác lập huyết tộc một số cá nhân hay gia đình, thường là các gia đình  
theo họ cha và quyền thừa kế từ cha cho con. Đến tộc trưởng, tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự. Ngược  
thế hệ thần trẻ (12 vị thần trên đỉnh Oplympia) thì lại, đông đảo thành viên thị tộc bị mất dần tư liệu sản  
hình thức tạp giao chấm dứt, không còn mối quan xuất, trở nên nghèo khó và bị bóc lột. Chính lúc này sự  
hệ hôn nhân đồng huyết giữa các anh em trong gia phân biệt giai cấp trong xã hội xuất hiện, những người  
đình. Điều này thể hiện một sự chuyển biến mạnh giàu có và những người nghèo khổ, những người có  
mẽ trong lịch sử hôn nhân của người Hy Lạp cổ đại, quyền lực và những người không có quyền lực. Bên  
tức là “hủy bỏ những quan hệ tính giao giữa anh chị cạnh đó, giữa các công xã làng giềng thường xuyên  
em ruột với nhau”, “giữa anh chị em cùng mẹ khác xảy ra mâu thuẫn về quyền lợi nên chiến tranh diễn  
cha”, và “cuối cùng là cấm ngay cả những anh chị ra liên miên. Đây là tất cả những dấu hiệu của sự tan  
em trong họ hàng”; quan hệ hôn nhân một vợ một rã của xã hội nguyên thủy và con người đang đứng  
chồng ra đời trên cơ sở đó (Lương Ninh và cs. 2003, trước ngưỡng cửa của thời đại văn minh. Xã hội Hy  
tr. 20). Khi đó, quyền lực của người đàn ông được xác Lạp cổ đại trong truyền thuyết về cuộc chiến tranh  
lập dần dần trong gia đình và bắt đầu từ quyền phân thành Troy là một xã hội công xã thị tộc đang diễn  
công lao động, sau đó lan ra xã hội. Do có sức khỏe ra sự tan rã như thế. Đặc điểm nổi bật nhất của giai  
kết hợp với việc nắm được thời vụ, kinh nghiệm sản đoạn này theo F. Engels là: Chiến tranh ngày xưa giữa  
xuất cho nên họ giữ vai trò chính trong việc sắp đặt bộ lạc với bộ lạc, từ thời kỳ này, đã biến chất thành  
các thành viên trong gia đình và sau cùng là có quyền cuộc cướp bóc có hệ thống trên đất liền và trên mặt  
thay mặt gia đình trong việc giao tiếp với công xã. biển để chiếm đoạt gia súc, nô lệ, của cải, tức là đã  
Họ cũng trở thành những tù trưởng hay tộc trưởng, biến thành một cách kiếm lời thông thường, tóm lại  
điều hành công viêc chung của công xã. Từ quyền của cải được người ta tán dương và coi trọng như là  
phân công lao động, người đàn ông dần nắm hết mọi một của báu tối cao và những thể lệ cũ của thị tộc bị  
quyền quyết định, biến những thành viên khác trong người ta bôi nhọ đi để biện hộ cho sự cướp đoạt của  
gia đình thành kẻ phụ thuộc. Chế độ mẫu quyền bị cải bằng bạo lực (Nguyễn Văn Khỏa, 2010, tr. 752).  
lật đổ và thay thế là chế độ phụ quyền và cùng với nó  
trong xã hội cũng bắt đầu xuất hiện sự bất bình đẳng.  
Zues là vị thần tối cao cai quản cả cõi trời và người,  
tuy có thói trăng hoa đa tình nhưng vợ của thần - nữ  
thần Hera không dám thể hiện sự ghen tuông, tức  
giận một cách trực tiếp mà chỉ dám trả thù vào các  
tình nhân của chồng. Quyền uy của Zues vẫn được  
tôn trọng dù vị thần có những bản tính xấu xa. Đây  
là minh chứng cho sự thay thế chế độ mẫu hệ bằng  
chế độ phụ hệ trong xã hội Hy Lạp cổ đại.  
Bước vào thời đại của văn minh, hình thái kinh  
tế - xã hội được xác lập ở Hy Lạp thời kỳ này là chế  
độ chiếm hữu nô lệ với sự ra đời của các quốc gia  
thành bang lấy thành thị làm trung tâm, trong đó nổi  
bật có Sparta và Athens. Nền dân chủ chủ nô Athens  
được khai sinh và hoàn thiện dần qua các cuộc cải  
cách. Solon - người đặt nền tảng cho quá trình phát  
triển thể chế chính trị dân chủ: xóa bỏ nợ của nô lệ,  
xóa bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ trả nợ, phân chia xã  
hội thành bốn đẳng cấp là tiêu chí đánh giá và xác  
Trong thời kỳ chế độ phụ hệ, năng suất lao động nhận quyền lợi chính trị của mỗi người. Clisten được  
gia tăng do sử dụng công cụ kim loại, đã tạo điều kiện xem là người đã hoàn toàn thủ tiêu những tàn tích  
cho nền sản xuất cá thể phát triển. Lúc này con người cuối cùng của chế độ thị tộc: phân chia cư dân theo  
không cần tiến hành lao động tập thể với cả thị tộc mà khu vực hành chính, bầu Hội đồng 500 người, tăng  
theo từng đơn vị gia đình nhỏ. Những gia đình phụ hệ cường vai trò của đại hội nhân dân. Với cải cách của  
có xu hướng tách khỏi thị tộc đã di chuyển đến nơi Pericles (499-429 TCN), nền dân chủ chủ nô Athens  
nào đó có điều kiện thuận lợi hơn làm ăn sinh sống. đạt đến mức hoàn hảo nhất, trở thành mẫu mực của  
Nhiều gia đình như vậy cũng đến sinh sống ở một chế độ dân chủ trong thế giới cổ đại. Đây là thời kỳ  
địa phương tạo nên một tổ chức công xã mới, trong hoàng kim của Athens và thế giới Hy Lạp. Nền chính  
đó các thành viên chỉ có quan hệ với nhau về kinh tế trị dân chủ đã tạo điều kiện để phát huy hết tính năng  
52  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 47-53  
động chủ quan và trí tuệ của công dân Athens, khiến  
Thứ nhất, thần thoại Hy Lạp không đơn thuần  
Athens trở thành một trường học, một tấm gương cho là sản phẩm của văn chương với những câu chuyện  
toàn cõi Hy Lạp cổ đại trên mọi phương diện chính trị,  
kinh tế và tư tưởng văn hóa, sản sinh hàng loạt chính  
trị gia, triết gia, kịch tác gia, sử gia, mỹ thuật,… lưu  
danh sử sách, có cống hiến to lớn cho văn minh nhân  
loại (Lương Ninh và cs., 2003, tr. 170-184).  
hoang đường kỳ bí, mà ngược lại phần lớn các câu  
chuyện trong thần thoại được sáng tác dựa trên  
những sự kiện lịch sử có thật ở Hy Lạp thời kỳ cổ  
đại. Đây là sự khác biệt rất lớn giữa thần thoại Hy  
Lạp với thần thoại các quốc gia khác trên thế giới  
(thần thoại Trung Quốc, thần thoại Ấn Độ, thần  
thoại Việt Nam,...).  
Nói về thần thoại Hy Lạp, những câu chuyện  
về thời đại các anh hùng - á thần, là sự minh họa và  
mối liên kết chặt chẽ giữa bối cảnh lịch sử xã hội và  
nội dung các câu chuyện được phản ánh trong thần  
thoại. Đại hội thể thao Olympic xuất hiện vào thế kỷ  
VIII TCN, được xem là một lễ hội mang tầm quốc  
gia trên toàn cõi Hy Lạp. Sự kiện trọng đại này có  
nguồn gốc từ sự tôn kính thần Zues, nhưng thông  
qua đó nó nhắc nhở đến sự thịnh vượng của xã hội  
và kinh tế Hy Lạp cổ đại lúc bấy giờ. Đó còn là sự  
đề cao tinh thần tự do dân chủ vì ở đó con người tự  
do ngôn luận trao đổi, tự do thể hiện tài năng và cái  
đẹp từ hình thể đến tâm hồn. Những vở kịch được  
biểu diễn trên những sân khấu lộ thiên, nhà hùng biện  
say sưa tranh tài, những người kể chuyện thu hút đám  
đông khán giả bởi những câu chuyện thần thoại thú  
vị, nhà triết học suy tư và trình bày quan điểm của  
chính mình,… Một không gian náo nhiệt và sinh động  
diễn ra trong một thời điểm xã hội phồn vinh. Vô số  
những đền thờ và tượng điêu khắc được tạo tác trở  
thành mẫu mực của nền nghệ thuật kiến trúc - điêu  
khắc của nhân loại sau này. Đó còn là sự sùng bái và  
đề cao chủ nghĩa anh hùng được thể hiện thông qua  
tài năng của những con người mang trong mình một  
nửa dòng máu của thần linh. Các nhân vật anh hùng  
trong thần thoại cũng được văn minh hóa theo đà tiến  
triển của xã hội. Hercules, Achilles, Perseus, Theseus  
và Jason là năm trong rất nhiều các anh hùng tài giỏi  
trong thần thoại Hy Lạp. Nhân danh con người, họ đã  
chiến đấu vì tự do, danh dự và trách nhiệm, vì muốn  
thay đổi số mệnh của chính mình. Thế giới nội tâm  
của người anh hùng thần thoại hay chính xác hơn là  
người Hy Lạp cổ đại được biểu hiện một cách phong  
phú và biểu hiện này chỉ có thể giải thích được bằng  
sự tiến bộ của lịch sử xã hội.  
Thứ hai, thần thoại Hy Lạp là sự kết hợp hài hòa  
giữa sử học và văn học, trong sử có văn và ngược  
lại và đó chính là nét độc đáo thứ hai khi nghiên cứu  
về thần thoại Hy Lạp. Khi đọc từng câu chuyện - sự  
kiện được nêu trong thần thoại Hy Lạp, người đọc  
có thể theo dõi được tiến trình phát triển về tư duy  
và nhận thức xã hội của người Hy Lạp cổ xưa, cũng  
như nhận ra sự thay đổi về cơ cấu sản xuất của nền  
kinh tế Hy Lạp thời kỳ này đang vận hành theo sự  
phát triển lịch sử xã hội nhân loại. Đó là sự chuyển  
đổi từ xã hội nguyên thủy sang hình thái xã hội  
chiếm hữu nô lệ.  
Thứ ba, do sự kết hợp hài hòa giữa sử học và  
văn học chính vì thế đã giúp cho thần thoại Hy Lạp  
có một sức sống mãnh liệt với sự biến chuyển của  
lịch sử Hy Lạp cũng như có một sức lan tỏa mãnh  
mẽ trên toàn bộ các khía cạnh của nền văn minh Hy  
Lạp cổ đại và thế giới phương Tây.  
Tài liệu tham khảo  
Arthur Cotterell and Rachel Storm. (2008). The  
ultimate encycloprdia of mythology. London:  
Published by World Publication Group, Inc.  
Lê Phụng Hoàng. (Chủ biên). (1998). Lịch sử văn  
minh thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB  
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.  
Lương Ninh. (Chủ biên), Đinh Ngọc Bảo, Đặng  
Quang Minh, Nguyễn Gia Phu và Nghiêm Đình  
Vỳ. (2003). Lịch sử thế giới cổ đại. Hà Nội:  
NXB Giáo dục.  
Lương Ninh. (Chủ biên), Nguyễn Gia Phu, Đinh  
Ngọc Bảo & Dương Duy Bằng. (2007). Lịch  
sử văn hóa thế giới cổ trung đại. Hà Nội: NXB  
Giáo dục.  
5. Kết luận  
Với nội dung trình bày trên đây, chúng ta có thể  
nhận thấy giữa sử học và thần thoại Hy Lạp có mối  
liên hệ khăng khít.  
Nguyễn Văn Khỏa. (2010). Thần thoại Hy Lạp. Hà  
Nội: NXB Văn học.  
53  
pdf 7 trang Thùy Anh 16921 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các vị thần linh trong thần thoại - biểu tượng cho sự phát triển của nền kinh tế Hy Lạp cổ đại (khoảng thiên niên kỷ III - Thế kỷ IV TCN)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_vi_than_linh_trong_than_thoai_bieu_tuong_cho_su_phat_tri.pdf