Bài thảo luận Hóa vô cơ - Chủ đề: Nước ôxy già

NƯỚC ÔXY GIÀ (H2O2)  
1. TÍNH CHẤT VẬT LÝ:  
• Chất lỏng trong suốt, nhớt hơn 1 chút so với nước.  
• Nhiệt độ cao có thể làm cháy da khi tiếp xúc.  
• Phân hủy khi có ánh sáng cần phải bảo quản ở điều kiện mát và tránh chiếu nắng trực tiếp.  
→
• Các dung dịch đậm đặc hơn, chẳng hạn 35% sẽ gây ra chết người khi uống mà không pha  
loãng.  
• Hơi H O có thể kích nổ trên 70 °C bảo quản dd và hơi ở điều kiện mát là then chốt.  
→
2
2
• Việc chưng cất H2O2 ở áp suất thường cũng rất nguy hiểm. Hơi H2O2 có thể tạo ra các chất  
nhạy nổ do tiếp xúc với các hiđrôcacbon như dầu mỡ.  
• H2O2 nếu đổ vào vải (hay các chất dễ cháy khác) sẽ làm bay hơi nước cho đến khi nồng độ  
đạt đến mức đủ lớn thì vật liệu sẽ tự động bắt cháy.  
• H2O2 đặc (>50%) là một chất ăn mòn, và thậm chí các dung dịch mạnh để sử dụng trong gia  
đình cũng có thể kích thích mắt, các màng nhầy và da.  
• Việc uống dung dịch H2O2 là nguy hiểm, do sự phân hủy trong dạ dày giải phóng ra một  
lượng khí lớn (10 lần thể tích của dung dịch 3%) dẫn tới sự chảy máu trong.  
2. TÍNH CHẤT HÓA HỌC:  
Phản ứng phân hủy:  
H2O2 thông thường phân hủy theo phản ứng tỏa nhiệt thành nước và khí ôxy một cách tự nhiên:  
2 H2O2 → 2 H2O + O2 + Q (thuận; ΔH°=-98,2 kJ/mol và ΔG° = -119,2 kJ/mol)  
Việc đổ hiđrô perôxít nồng độ cao vào các chất dễ cháy có thể sinh ra sự cháy tức thì do ôxy  
được giải phóng từ sự phân hủy H2O2.  
Khi có mặt một chất xúc tác nào đó, như Fe2+ hay Ti3+, sự phân hủy có thể diễn ra theo cách  
khác, với các gốc tự do như HO- (hydroxyl) và HOO- được tạo ra. Tổ hợp của H2O2 và Fe2+ được  
biết đến như là thuốc thử Fenton.  
Phản ứng ôxi hóa-khử  
Trong dung dịch nước, H2O2 có thể ôxi hóa hay khử nhiều loại ion vô cơ. Trong dung  
dịch axít, ion sắt Fe2+ bị ôxi hóa thành ion sắt Fe3+,  
2 Fe2+ (dung dịch) + H2O2 + 2 H+ (dung dịch) → 2 Fe3+ (dung dịch) + 2H2O(lỏng)  
2 Fe3+ + H2O2 + 2 OH− → 2 Fe2+ + 2 H2O + O2  
H2O2 thường xuyên được sử dụng làm chất khử trong hóa hữu cơ.  
Phản ứng tạo thành các hợp chất perôxít  
1
H2O2 là một axít yếu (pH = 4,5), và nó có thể tạo ra các muối hiđrôperôxít hay perôxít hay các  
dẫn xuất của nhiều kim loại.  
Ví dụ : Phản ứng với borac tạo ra natri perborat, là một chất tẩy sử dụng trong các bột giặt:  
Na2B4O7 + 4 H2O2 + 2 NaOH → 2 Na2B2O4(OH)4 + H2O  
Hiđrô perôxít phản ứng với axêtôn để tạo ra axêtôn perôxít và nó tương tác với ôzôn để tạo  
ra hiđrô triôxít. Phản ứng với urê tạo ra cacbamua perôxít  
Tính bazơ  
H2O2 là một bazơ yếu hơn cả nước, nhưng nó có thể tạo ra một số sản phẩm với các axít rất  
mạnh. Siêu axít HF/SbF5 tạo ra các hợp chất không ổn định chứa ion (H3O2)+.  
3. ĐIỀU CHẾ  
Ngày nay hiđrô perôxít được sản xuất gần như duy nhất chỉ bằng sự tự ôxi hóa của 2-etyl-9,10-  
đihiđrôxyanthracen thành 2-etylanthraquinon và hiđrô perôxít sử dụng ôxy từ không khí.  
Tuy nhiên tính kinh tế của công nghệ này phụ thuộc vào tính hiệu quả của quá trình tái chế  
quinon cũng như quá trình chiết dung dịch và của chất xúc tác cho quá trình hiđrô hóa.  
Năm 1994, sản lượng toàn thế giới của H2O2 là khoảng 1,9 triệu tấn, phần lớn trong chúng có  
nồng độ 70% hoặc thấp hơn.  
4. ỨNG DỤNG:  
Trong gia đình  
Khi ở nồng độ rất thấp (dưới 5%) nó được sử dụng phổ biến để tẩy tócngười. Với nồng độ cao  
hơn nó có thể làm cháy da khi tiếp xúc. Ở nồng độ thấp (3%), nó được sử dụng trong y học để  
rửa vết thương và loại bỏ các mô chết. Một số người làm vườn và những người trồng cây thủy  
sinh đã nói đến giá trị của hiđrô perôxít trong các dung dịch nước của họ. Họ cho rằng sự phân  
hủy tự nhiên của nó giải phóng ôxy cho cây trồng mà nó có thể làm tăng sự phát triển của rễ  
cũng như giúp xử lý các rễ đã thối rữa, là các tế bào chết do thiếu ôxy.  
Perôxít thương mại, như các dung dịch 3% mua tại hiệu thuốc, có thể sử dụng để tẩy các vết máu  
khỏi quần áo và thảm.  
Ứng dụng công nghiệp  
Khoảng 50% sản lượng hiđrô perôxít của thế giới năm 1994 được sử dụng để tẩy trắng giấy và  
bột giấy. Các ứng dụng tẩy trắng khác ngày càng trở nên quan trọng hơn do hiđrô perôxít được  
coi là chất thay thế tốt hơn về mặt môi trường so với các chất tẩy gốc clo.  
Các ứng dụng chủ yếu khác trong công nghiệp của nó còn bao gồm cả việc sản xuất natri  
percacbonat và natri perborat, được sử dụng như là các chất tẩy rửa nhẹ trong các loại bột  
giặt để giặt là (ủi). Nó còn được sử dụng trong sản xuất các hợp chất perôxít hữu cơ nào đó  
như dibenzoyl perôxít, được sử dụng như là chất mồi gốc tự do trong các phản ứng trùng hợp và  
các phản ứng hóa học khác. Nó cũng được sử dụng để sản xuất các êpôxit chẳng hạn  
2
như prôpylen ôxít. Phản ứng với các axít cacboxylic tạo ra các "a xít per-" tương ứng; ví dụ: axít  
peraxêtic sử dụng công nghiệp được điều chế theo cách này từ axít axêtic. Tương tự, axít mêta-  
clorôperôxybenzôic (MCPBA), được sử dụng nhiều trong các phòng thí nghiệm, cũng được điều  
chế từ axít meta-clorôbenzôic.  
Tác nhân đẩy  
Sử dụng H2O2 như là tác nhân đẩy có một số ưu thế như sự phân hủy của nó tạo ra nước và ôxy.  
Nhiên liệu được bơm vào trong khoang phản ứng, ở đó thông thường các chất xúc tác kim loại  
(đặc biệt là bạc hay bạch kim) kích thích sự phân hủy, luồng hơi nước-ôxy được tạo ra hoặc là  
được sử dụng trực tiếp hoặc được trộn với nhiên liệu để đốt cháy. Khi là tác nhân đẩy  
đơn (không trộn với nhiên liệu) nó sinh ra xung lực riêng tối đa là (Isp) 161 s (1,6 kN•s/kg) làm  
cho nó là tác nhân đẩy hiệu suất thấp. Tên lửa đai lưng nổi tiếng của Bell sử dụng hiđrô perôxít  
làm tác nhân đẩy đơn. Khi phân hủy như là chất ôxi hóa để đốt nhiên liệu thì xung lực riêng của  
nó cao hơn, có thể đạt tới 350 s (3,5 kN•s/kg), phụ thuộc vào loại nhiên liệu. Perôxít đã được sử  
dụng rất thành công như là chất ôxi hóa cho tên lửa đẩy giá thành thấp của Anh  
Nó cũng có thể sử dụng để làm mát tái sinh các động cơ tên lửa.  
Trong những năm thập niên 1940- 1950, tuốc bin của Walter sử dụng hiđrô perôxít để chạy  
các tàu ngầm khi chúng lặn; chúng là quá ồn và có yêu cầu bảo dưỡng cao hơn khi so với với hệ  
thống cung cấp năng lượng kiểu điêzen-điện chuyển đổi. Một số ngư lôi sử dụng hiđrô perôxít  
như là chất ôxi hóa hay tác nhân đẩy, nhưng việc sử dụng này đã bị hải quân nhiều nước dừng lại  
vì các lý do an toàn. Sự rò rỉ hiđrô perôxít đã bị coi là nguyên nhân gây ra chìm các  
Ví dụ: Hải quân Nhật Bản phát hiện ra trong các lần thử nghiệm ngư lôi là nồng độ cao của  
H2O2 trong các chỗ uốn vuông góc của các ống dẫn HTP có thể dẫn tới các vụ nổ của các tàu  
ngầm hay ngư lôi.  
Trong khi ứng dụng của nó như là tác nhân đẩy đơn cho các động cơ lớn đã bị suy giảm thì các  
thiết bị đẩy nhỏ (để kiểm soát tư thế) sử dụng hiđrô perôxít vẫn còn được sử dụng trong một số  
vệ tinh và đem lại ích lợi cho tàu vũ trụ, làm cho nó dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh và an  
toàn hơn trong khi nạp và chứa nhiên liệu trước khi hạ cánh  
Sử dụng trong y tế  
Nước ôxy già được sử dụng như là chất khử trùng và chất khử khuẩn trong nhiều năm. Hiđrô  
perôxít 35% cấp thực phẩm được gọi là "nước ôxy già", với các giá trị y học hay trị liệu được coi  
như là liệu pháp hiđrô perôxít. Những người chủ trương sử dụng sản phẩm này cho rằng nó có  
thể hòa loãng và sử dụng trong "liệu pháp siêu ôxi hóa" để điều trị AIDS, ung thư và nhiều bệnh  
khác; Một số cũng kêu ca rằng thông tin về các sử dụng có lợi của perôxít bị cấm bởi cộng đồng  
khoa học.  
Gần đây, các nhà thực hành y học khác cũng sử dụng các liều hiđrô perôxít tiêm tĩnh mạch trong  
nồng độ cực thấp (nhỏ hơn 1%) trong liệu pháp hiđrô perôxít - một hướng điều trị y học gây  
3
tranh cãi đối với ung thư. Tuy nhiên, theo Hiệp hội ung thư Mỹ, "đã không có các chứng cứ khoa  
học cho thấy H2O2 là an toàn, có hiệu quả hay có ích trong điều trị ung thư".  
4
docx 4 trang Thùy Anh 18080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài thảo luận Hóa vô cơ - Chủ đề: Nước ôxy già", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxbai_thao_luan_hoa_vo_co_chu_de_nuoc_oxy_gia.docx