Một phương pháp phân cụm không đều mới mang hiệu quả năng lượng trong WSNs

Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
Một phương pháp phân cụm không đều mới  
mang hiệu quả năng lượng trong WSNs  
Hoàng Trọng Minh1, Trần Như Đức1, Phạm Như Việt Anh1, Lê Hải Triều2  
1Khoa Viễn Thông I, Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông  
2Viện Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an  
Abstract— Mạng cảm biến không dây đóng vai trò quan  
trọng trong hạ tầng kết nối vạn vật IoT (Internet of  
Things). Do hoạt động với các nguồn pin hạn chế nên  
thời gian sống của mạng là một thách thức cơ bản của  
các mạng cảm biến không dây. Chiến lược phân cụm đã  
bước đầu giải quyết các vấn đề này và được sự quan tâm  
của rất nhiều nghiên cứu. Một hướng tiếp cận sử dụng  
phương pháp phân cụm không đều đã mang lại một số  
kết quả khả quan khi tránh được các lỗ hổng năng lượng  
tại các vùng gần trạm gốc. Tuy nhiên, chiến lược định  
tuyến trong mạng không dây đa bước vẫn còn là thách  
thức lớn khi gây ra các ảnh hưởng suy hao năng lượng.  
Vì vậy, trong bài báo này tiếp cận một phương pháp mới  
nhằm phân cụm không đều và xử lý định tuyến đa bước  
hiệu quả nhằm kéo dài tuổi thọ mạng. Kết quả cho thấy,  
giải pháp đề xuất có hiệu quả vượt trội so với các nghiên  
cứu khác gần đây.  
thông được thực hiện từ các cảm biến tới chủ cụm và từ  
đó chuyển tiếp tới trạm gốc BS (Base Station). Do các  
kết nối truyền thông có khoảng cách nhỏ và dữ liệu  
được tập trung tại nút chủ cụm trước khi chuyển tới  
trạm gốc nên thời gian sống tổng thể của mạng tăng  
lên. Từ giao thức phân cụm hiệu quả năng lượng điển  
hình có tên là LEACH (Low Energy Clustering  
Hierachy) [5], một loạt biến thể dựa trên nguyên tắc  
phân cụm đã được phát triển theo nhiều tiêu chí lựa  
chọn chủ cụm khác nhau như xác xuất, năng lượng dư  
của nút, mật độ, v.v. [6]. Để tích hợp nhiều tiêu chí với  
độ phức tạp tính toán hợp lý, một số thuật toán phân  
cụm dựa trên logic mờ cũng được phát triển gần đây  
[7] [8] [9]. Các giao thức này hoạt động trong cả môi  
trường truyền thông đơn bước và truyền thông đa bước.  
Đối với truyền thông đa bước, việc xuất hiện các lỗ  
hổng năng lượng gần trạm gốc đã tạo ra thách thức mới  
cho các giải pháp phân cụm. Bên cạnh đó là hiệu suất  
quá trình truyền tin đa bước giữa các chủ cụm cũng đặt  
ra nhu cầu phát triển các thuật toán mới nhằm cải thiện  
hiệu năng mạng cảm biến không dây.  
Keywords- Mạng cảm biến không dây, logic mờ, kĩ  
thuật phân cụm, thuật toán định tuyến, thời gian sống.  
I.  
GIỚI THIỆU  
Mạng cảm biến không dây WSN (Wireless Sensor  
Network) đóng vai trò là hạ tầng truyền thông quan  
trọng trong internet vạn vật với các ứng dụng cho nhiều  
lĩnh vực như quân sự, nông nghiệp, điều khiển thông  
minh, v.v. WSN thường gồm số lượng lớn các cảm  
biến có kích thước nhỏ để thu thập thông tin sự kiện  
hoặc tham số môi trường dựa trên truyền thông không  
dây đơn bước hoặc đa bước. Mạng cảm biến không chỉ  
thu thập thông tin mà còn sử dụng để điều khiển các  
thiết bị chấp hành theo các quyết định tính toán thông  
minh. Tuy nhiên, các nút cảm biến không dây thường  
sử dụng nguồn năng lượng hữu hạn nhằm tăng tính linh  
động và kéo theo đó là nhu cầu tiết kiệm năng lượng  
hay kéo dài thời gian sống của mạng cảm biến không  
dây. Vì vậy, một trong các vấn đề thách thức về mặt  
hiệu năng mạng cảm biến liên quan tới các cơ chế hoạt  
động tiết kiệm năng lượng [1] [2] [3] [4].  
Trong bài báo này, cùng với tiếp cận thuật toán  
định tuyến như đã được đề xuất trong [9], giải pháp  
phân cụm dựa trên logic mờ kết hợp bước nhảy khoảng  
cách mới nhằm cải thiện thời gian sống của mạng cảm  
biến không dây. Đề xuất được chứng minh bằng  
phương pháp đối sánh qua mô phỏng số, các kết quả  
cho thấy hiệu quả của đề xuất khi cho kết quả cân bằng  
tải tốt hơn và kéo dài thời gian sống của mạng so với  
các đề xuất ở trên. Bài báo được trình bày như sau.  
Phần II trình bày các nghiên cứu gần đây về kỹ thuật  
phân cụm và định tuyến liên quan tới nghiên cứu. Đề  
xuất phương pháp phân cụm dựa trên logic mờ và lược  
đồ định tuyến giữa các nút chủ cụm được đưa ra trong  
phần III. Kết quả mô phỏng và đối sánh với nghiên cứu  
trước được đưa ra trong phần IV, cuối cùng là kết luận  
về nghiên cứu cũng như hướng phát triển tiếp theo.  
Một tiếp cận hiệu quả để bảo toàn năng lượng các  
thiết bị cảm biến trong mạng là thông qua quá trình  
phân cụm. Một số cảm biến có mối quan hệ gần về  
khoảng cách được tổ chức thành cụm và chọn ra một  
nút làm chủ cụm CH (Cluster Head). Quá trình truyền  
II. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
Trong những nghiên cứu trước đây, nhiều thuật toán  
phân cụm dựa trên ý tưởng của giao thức LEACH đã  
được phát triển nhằm cải thiện hiệu năng của mạng  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
325  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
WSN. Hoạt động trong mạng đơn bước, LEACH sử  
dụng phân bố xác suất ngẫu nhiên của các nút cảm  
biến trong mạng để bầu nút chủ cụm CH. Mặc dù  
LEACH đã cải thiện thời gian sống của mạng, nhưng  
việc lựa chọn ngẫu nhiên có thể chọn CH có năng  
lượng thấp và kéo theo mức suy hao năng lượng lớn  
và hình thành thành lỗ trống năng lượng. Các biến thể  
của LEACH nhằm hướng tới giải quyết hạn chế này  
bằng các tham số hiệu quả hơn như chọn CH dựa trên  
mức năng lượng dư, mật độ hoặc khoảng cách đến BS  
[10] [11] [12]. Phối hợp các tham biến đầu vào để đưa  
ra quyết định nhờ suy luận mờ đem lại kết quả rất khả  
quan khi có hiệu suất tốt và độ phức tạp hợp lý [13].  
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đều thực hiện cho  
mạng WSN đơn bước nên không phù hợp cho mạng  
quy mô lớn. Trong mạng WSN quy mô lớn, truyền  
thông đa bước không chỉ yêu cầu quá trình phân cụm  
hợp lý mà còn liên quan đến phương pháp định tuyến.  
Trong [9] đã đưa ra thuật toán định tuyến dựa trên bán  
kính cụm của các nút CH và hàm chi phí của năng  
lượng truyền. Tuy nhiên, [9] đã đưa ra ba bộ suy luận  
mờ để thực hiện quá trình phân cụm. Vì vậy, trong bài  
báo này đề xuất tiếp cận phân cụm mới chỉ sử dụng  
một bộ suy luận mờ cùng với bước nhảy khoảng cách  
và phương pháp định tuyến [9] giữa các nút CH tới BS  
để kéo dài thời gian sống của mạng cảm biến không  
dây. Các kết quả mô phỏng số cho thấy ưu điểm rõ rệt  
của đề xuất so với các nghiên cứu gần đây.  
Mapping Rules: Biểu diễn mối quan hệ giữa các tham  
số đầu vào và tham số đầu ra dựa trên các quy tắc nhất  
định.  
Inference System: Hệ thống suy luận ánh xạ giữa đầu  
vào và đầu ra theo quy tắc mờ.  
Defuzzification: Các giá trị thu được tại đầu ra sẽ  
được ánh xạ ngược lại để xác định chính xác.  
Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng mô hình năng  
lượng [9], mô hình được tính dựa trên khoảng cách  
Dist(i,j) giữa nguồn và đích và kênh không gian tự do fs  
và kênh đa đường mp. Năng lượng tiêu thụ khi truyền  
dữ liệu của l bit giữa nút Si và Sj với khoảng cách Dist-  
(i,j) được xác định:  
2
ꢁ
ꢅ
(Eelec ꢂꢀ fs Dist(i, j) )ꢃl, Dist(i, j) ꢄ d0  
(1)  
ETX  
ꢆ
ꢇ
(E ꢂꢀmp Dist(4i, j) )ꢃl, Dist(i, j) ꢈ d0  
ꢅ
ꢉ
elec  
Trong đó,  
là năng lượng truyền 1-bit data,  
ꢀ
fs và  
ꢀmp lần lượt là hệ số khuếch đại trong không gian tự  
do và đa đường, d0 là ngưỡng giá trị khoảng cách được  
tính:  
ꢀ fs  
(2)  
d0 ꢆ  
ꢀmp  
Năng lượng nhận trong quá trinh nhận dữ liệu của l bit  
được tính:  
III. MÔ HÌNH BÀI TOÁN  
(3)  
Er (Si ,Sj ) ꢆ Eelec ꢃl  
A. Giới thiệu chung  
B. Phân cụm và lựa chọn chủ cụm  
Trong mạng cảm biến không dây, bài toán về hình  
thành cụm, lựa chọn chủ cụm với các biến đầu vào như  
mức năng lượng dư, khoảng cách hay mật độ trong một  
mạng động đều là những yếu tố không chắc chắn. Vì  
vậy, việc tiếp cận logic mờ sẽ là hữu ích để giải quyết  
các vấn đề này. Chứng minh qua các nghiên cứu trước  
đây [8] [9], logic mờ phù hợp để giải quyết việc phân  
cụm cho mạng WSN bằng cách tính toán lựa chọn  
trong nhiều tham số phụ thuộc khác nhau. Hình 1 dưới  
đây chỉ ra mô hình hệ thống suy luận mờ tổng quát.  
Các khối chức năng chính được biểu diễn trực tiếp  
theo mục tiêu phân cụm cho các nút cảm biến.  
Để thực hiện phân cụm và lựa chọn chủ cụm, nghiên  
cứu này thực hiện phân cụm không đều theo tiếp cận  
trình bày [9]. Trong đó, để thực hiện phân cụm không  
đều dựa theo logic mờ, các nút có khả năng ứng cử  
làm chủ cụm được lựa chọn thông qua hàm fitness1.  
Các biến đầu vào của fitness1 được biểu diễn dưới đây  
Hình 1. Mô hình hệ thống suy luận mờ FIS tổng quát  
Hình 2. Các tham số đầu vào (a) Mức năng lượng; (b)  
Khoảng cách đến nút gốc;  
Fuzzification: Bộ làm mờ có tác dụng ánh xạ từng  
điểm trong dữ liệu đầu vào sang các giá trị trong  
khoảng [0, 1] hoặc giữ lại các giá trị mờ tại đầu vào.  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
326  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
Bán kính cụm của nút CH trong mỗi bước nhảy được  
xác định theo công thức:  
(6)  
RCH ꢆ f (n)ꢃ  
ꢍ
Trong đó là biến ngẫu nhiên trong khoảng [1, 1.5)  
được thêm vào để tăng độ chính xác của bán kính cụm.  
Sau khi tính toán bán kính cụm, một CH sẽ quảng bá  
bản tin CH_ADVERTISE trong bán kính cụm của nó.  
CH_ADVERTISE chứa mức năng lượng của CH, vị  
trí và khoảng cách của nó tới BS. Nếu một nút Sj nhận  
được thông báo, thì nó sẽ không bầu CH và coi đó là  
nút không phải CH cho vòng đó. Nếu một nút không  
phải CH nhận được bản tin CH_ADVERTISE từ nhiều  
CH, thì nó sẽ chọn một CH trong số chúng dựa trên  
chi phí. Hàm chi phí CH_Cost(Sj, CHi) được xác định  
như sau:  
Hình 3. Xác suất đầu ra của hàm Fuzzy  
Các tham số đầu vào của bộ fuzzy của mô tả như sau:  
1. Mức năng lượng: Mức năng lượng của một  
nút Si là tỷ lệ năng lượng còn lại với năng  
lượng ban đầu. Các nút có mức năng lượng  
cao hơn sẽ được chọn là nút ứng viên. Hơn  
nữa, khi mức năng lượng giảm theo thời gian,  
bán kính cụm được điều chỉnh để bảo tồn  
năng lượng của nó.  
2. Khoảng cách: Độ dài đường đi từ một nút Si  
đến nút gốc BS được ký hiệu DistBS(Si), tránh  
được vấn đề có quá nhiều nút CH nằm gần  
BS mà có DistBS(Si) nhỏ hơn bán kính cụm.  
Dist(Sj ,CHi )ꢃ DistBS (CHi )  
CH _ Cost(Sj ,CHi ) ꢆ  
(7)  
Energyres (CHi )  
Nút Sj sẽ tính toán chi phí cho mỗi nút CH_candidate  
và chọn ra nút có min{CH_Cost(Sj, CHi)} để làm CH.  
Như vậy, quá trình tạo cụm trong mạng WSN đã hoàn  
thành.  
Bảng 1. Quy tắc ánh xạ if-then cho tính toán fuzzy  
fitness1  
Rule  
Mức năng  
lượng  
Small  
Small  
Small  
Average  
Average  
Average  
High  
High  
High  
Khoảng  
cách  
Near  
Moderate  
Distant  
Near  
Moderate  
Distant  
Near  
Fuzzy fitness1  
Thuật toán phân cụm  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Medium  
Weak  
Very weak  
Strong  
Medium  
Very weak  
Very strong  
Strong  
1. For each node Si do  
2.  
Compute delay (Td(Si)) using Equation 3  
3. End For  
4. For each node Si do  
5.  
6.  
If (Td(Si) == 0), ie, Delay time expires  
then  
Moderate  
Distant  
Si become CH and calculate cluster  
Weak  
radius using fibonacci algorithm and  
broadcasts  
Sau khi tính toán thông qua fitness1, mỗi nút Si sẽ đưa  
ra một giá trị là thời gian trễ Td trước khi tự chọn nút  
CH, Td được xác định theo công thức sau:  
7.  
CH_ADVERTISE message within  
cluster radius  
8.  
9.  
End If  
If Sj receives CH_ADVERTISE message  
from Si then  
(4)  
Td (Si ) ꢆꢊ ꢃ(1ꢋ Fuzzyfitness1)ꢃT  
c
10.  
11.  
Sj update Si in Candidate(Sj) = [Si]  
End If  
Trong đó, là biến ngẫu nhiên trong khoảng [0.9, 1]  
12. End for  
13. CH of Sj is the most residual energy in  
Candidate(Sj)  
được thêm vào để giảm thiểu khả năng trễ của hai nút  
và Tc là thời gian chờ tối đa khi bầu CH. Khi hết thời  
gian trễ, nó sẽ tự chọn mình là nút CH và tính bán kính  
cụm. Sau đó, kết quả đầu ra của fitness1 sẽ tính toán  
lại bán kính cụm dựa trên quy luật của fibonacci. Tại  
nút BS, chúng tôi mở rộng khoảng cách tới các nút  
cảm biến trong khoảng [10m 15m 20m 25m 30m].  
Trong mỗi bước nhảy, các nút CH sẽ mở ra bán kính  
cụm theo quy tắc fibonacci như sau:  
C. Định tuyến  
Quá trình định tuyến thực hiện định tuyến dựa trên  
hàm chi phí năng lượng truyền và bán kính các nút CH  
[9]. Mỗi nút CH sau khi được phân cụm sẽ được gán  
mức như sau:  
ꢎ
ꢐ
ꢐ
ꢏ
ꢑ
ꢑ
DistBS (Si )  
f (1) ꢆ1, n ꢆ1  
ꢁ
ꢅ
ꢇ
L(S ) ꢆ  
(8)  
i
(5)  
Rmax  
f (2) ꢆ 2,n ꢆ 2  
ꢅ
f (n) ꢆ f (n ꢋ1) ꢂ f (n ꢋ 2),nꢌ[1,6]  
ꢉ
Để xác định các nút CH tiếp theo tới nút BS, mỗi nút  
CH Si sẽ phát đi bản tin FIND chứa thông tin về mức  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
327  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
Vị trí nút BS  
Số lượng nút  
BS  
N
(50, 50); (50, 0)  
L(Si) và id của nó trong phạm vi k Rmax (với k ban  
đầu là 2). Nếu một CH mức thấp hơn nhận được một  
thông báo như vậy, thì nó sẽ trả về một gói tin ACK  
chứa id, thông tin năng lượng và khoảng cách tới BS.  
Nếu không nhận được bản tin ACK nào trong khoảng  
thời gian chờ từ bất kỳ CH mức thấp hơn, thì Si tăng  
lên k (k = 3, 4,…, L). Nếu không tồn tại CH mức thấp  
hơn của nút CH Si, thì nó sẽ truyền trực tiếp tới BS. Từ  
đó quá trình định tuyến sẽ được hình thành. Để tiết  
kiệm năng lượng, thuật toán định tuyến xét năng lượng  
cần thiết để truyền tin giữa các nút CH. Sau khi xác  
định được tổng năng lượng tiêu thụ nút CH, việc định  
tuyến sẽ thông qua hàm chi phí để xác định đường đi  
tới nút BS. Hàm chi phí sẽ tăng lên khi năng lượng  
còn lại của nút thấp, do vậy phải định tuyến sang nút  
khác có năng lượng còn lại cao hơn.  
100  
0.5 J  
30 m  
10 m  
500  
Năng lượng khởi tạo  
Bán kính cụm  
Energyinit  
Rmax  
Rs  
Phạm vi truyền  
Kích thước gói tin  
Dp  
Hệ số không gian tự do  
10 pJ/m2/bit  
ꢀ fs  
Hệ số trễ đa đường  
Tín hiệu Tx và Rx  
0.0013 pJ/bit/m4  
50 nJ/m2/bit  
ꢀmp  
Etx or Erx  
Các hình vẽ là đối sánh kết quả của hai thuật toán  
DFCR [9] và Fibonacci, các thuật toán đều được mô  
phỏng trên hai mô hình mạng và đánh giá qua các tiêu  
chí FND, HND, AND đã được đề cập ở trên.  
IV. KẾT QUẢ  
Trong phần này, chúng tôi thực hiện các mô phỏng số  
được thực hiện trên Matlab với các thông số đầu vào  
như các đề xuất trước đây đã thực hiện [8] [9]. Trạm  
cơ sở BS được đặt tại hai vị trí (trung tâm và biên  
mạng), các thông số đầu vào được trình bày trên bảng  
2. Các tiêu chí đánh giá hiệu năng mạng thông quan  
thời gian số của mạng gồm: nút đầu tiên cạn kiệt năng  
lượng (FND: First Node Die), khi một nửa nút bị cạn  
kiệt năng lượng (HND: Half Node Die) và tất cả nút  
cạn kiệt năng lượng (AND: All Node Die). Trên thực  
tế sẽ không xảy ra trường hợp AND chúng tôi đưa vào  
chỉ nhằm mục đích tính toán tương đối vòng đời của  
mạng. Một nút được coi là chết (cạn kiệt năng lượng)  
khi nó không còn năng lượng để nhận hay truyền dữ  
liệu.  
Hình 5. So sánh kết quả vòng đời của mạng: (a) So sánh về  
FND; (b) So sánh về HND; (c) So sánh về AND  
Mạng cảm biến không dây WSN khi sử dụng thuật  
toán Fiibonacci cùng với một bộ dự đoán cho thấy  
được kết quả tốt hơn so với DFCR sử dụng ba bộ, tính  
ổn định của mạng cao hơn và tuổi thọ của mạng được  
kéo dài hơn.  
Hình 4. (a) BS nằm tại biên; (b) BS nằm ở trung tâm  
Bảng 2. Bảng các thông số và giá trị  
Các tham số  
Kích thước mạng  
Ký hiệu  
Giá trị  
100 100 m2  
A
ISBN: 978-604-80-5076-4  
328  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
[3] M. G. R. Maldonado, “Wireless sensor network for smart  
home services using optimal communications,” Proc. - 2017  
Int. Conf. Inf. Syst. Comput. Sci. INCISCOS 2017, vol. 2017-  
Novem, pp. 27–32, 2018.  
[4] B. S. Kim, K. Il Kim, B. Shah, F. Chow, and K. H. Kim,  
“Wireless sensor networks for big data systems,” Sensors  
(Switzerland), vol. 19, no. 7, pp. 1–18, 2019.  
[5] A. O. Abu Salem and N. Shudifat, “Enhanced LEACH  
protocol for increasing a lifetime of WSNs,” Pers. Ubiquitous  
Comput., vol. 23, no. 5–6, pp. 901–907, 2019.  
[6] A. R. Khan, N. Rakesh, A. Bansal, and D. K. Chaudhary,  
“Comparative Study of WSN Protocols,” 2015 Third Int. Conf.  
Image Infonnation Process. Comp., pp. 422–427, 2015.  
[7] E. Farahmand, S. Sheikhpour, A. Mahani, and N. Taheri,  
“Load balanced energy-Aware genetic algorithm clustering in  
wireless sensor networks,” 1st Conf. Swarm Intell. Evol.  
Comput. CSIEC 2016 - Proc., pp. 119–124, 2016.  
Hình 6. So sánh số lượng nút sống trong một vòng: (a) Mô  
hình khi nút BS nằm tại biên; (b) Mô hình khi nút BS nằm  
tại trung tâm  
[8] M. Ahmed, “Energy Efficient Distributed Clustering and  
Scheduling Algorithm for Wireless Sensor Networks With  
Non-Uniform Node Distribution,” Int. J. Adv. Res. Comput.  
Sci., vol. 9, no. 2, pp. 527–532, 2018.  
V. KẾT LUẬN  
Thời gian sống của mạng cảm biến không dây  
đa bước luôn là một tiêu chí thực tiễn đánh giá hiệu  
năng mạng. Các tiếp cận tính toán thông minh dựa trên  
logic mờ đem lại giải pháp hiệu quả cho quá trình  
phần cụm và lựa chọn chủ cụm. Nhằm tránh các lỗ  
hổng năng lượng bằng các thuật toán định tuyến hiệu  
quả giữa các nút chủ cụm, thuật toán đề xuất đã được  
đưa ra và chứng minh thông qua mô phỏng. Các kết  
quả cho thấy khả năng hoạt động hiệu quả và đáp ứng  
tốt với các điều kiện không chắc chắn của mạng cảm  
biến không dây đa bước. Từ những kết quả bước đầu  
trên, các tính toán hợp tác giữa các chủ cụm sẽ là mục  
tiêu nghiên cứu tiếp theo.  
[9] N. Mazumdar and H. Om, “Distributed fuzzy approach to  
unequal clustering and routing algorithm for wireless sensor  
networks,” Int. J. Commun. Syst., vol. 31, no. 12, 2018  
[10] J. P. A. Pirishothm, “Study of Wireless Sensor Networks  
Using Leach,Teen and Apteen Routing Protocols,” Int.J.Sci.  
Res., vol. 4, no. 5, pp. 1221–1224, 2015.  
[11] R. Priyadarshi, L. Singh, Randheer, and A. Singh, “A Novel  
HEED Protocol for Wireless Sensor Networks,” 2018 5th Int.  
Conf. Signal Process. Integr. Networks, SPIN 2018, pp. 296–  
300, 2018.  
[12] I. Sharma, R. Singh, and M. Khurana, “Performance  
evaluation of PEGASIS protocol for WSN using NS2,” Conf.  
Proceeding - 2015 Int. Conf. Adv. Comput. Eng. Appl.  
ICACEA 2015, pp. 926–929, 2015.  
[13] J. M. Kim, S. H. Park, Y. J. Han, and T. M. Chung, “CHEF:  
Cluster Head Election mechanism using Fuzzy logic in  
wireless sensor networks,” Int. Conf. Adv. Commun. Technol.  
ICACT, vol. 1, pp. 654–659, 2008.  
.
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[14] N. Nokhanji, Z. M. Hanapi, S. Subramaniam, and M. A.  
Mohamed, “An Energy Aware Distributed Clustering  
Algorithm Using Fuzzy Logic for Wireless Sensor Networks  
with Non-uniform Node Distribution,” Wirel. Pers. Commun.,  
vol. 84, no. 1, pp. 395–419, 2015.  
[1] C. V. Mahamuni, “A military surveillance system based on  
wireless sensor networks with extended coverage life,” Proc. -  
Int. Conf. Glob. Trends Signal Process. Inf. Comput. Commun.  
ICGTSPICC 2016, pp. 375–381, 2017.  
[2] D. K. Rathinam, D. Surendran, A. Shilpa, A. Santhiya Grace,  
and J. Sherin, “Modern Agriculture Using Wireless Sensor  
Network (WSN),” 2019 5th Int. Conf. Adv. Comput. Commun.  
Syst. ICACCS 2019, pp. 515–519, 2019.  
[15] N. Elsaka and N. El-shennawy, “An Energy-Aware Clustering  
/ Routing A * Algorithm for Wireless Sensor Networks.”.  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
329  
pdf 5 trang Thùy Anh 17400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một phương pháp phân cụm không đều mới mang hiệu quả năng lượng trong WSNs", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_phuong_phap_phan_cum_khong_deu_moi_mang_hieu_qua_nang_lu.pdf