Giáo trình Điện toán đám mây và ứng dụng

ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
GIÁO TRÌNH  
ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ  
ỨNG DỤNG  
Chủ biên : TS. Hoàng Xuân Thảo  
Biên soạn: TS. Hoàng Xuân Lâm  
ThS. Nguyễn Văn Ninh  
(Dùng cho chương trình đào tạo hệ đại học)  
Lưu hành nội bộ  
HÀ NỘI - 2017  
LỜI MỞ ĐẦU  
Với sự phát triển bùng nổ hiện nay của công nghệ thông tin và ứng dụng  
trong đời sống, điện toán đám mây trở nên có tầm quan trọng thời sự. Giáo trình  
Điện toán đám mây và ứng dụng được biên soạn cho đối tượng là sinh viên  
học các chuyên ngành Công nghệ thông tin. Sinh viên năm cuối của các trường  
đại học kỹ thuật cũng có thể sử dụng giáo trình như một tài liệu tham khảo để  
phát triển các ứng dụng cho nghiên cứu, cho đồ án tốt nghiệp.  
Các tác giả hy vọng thông qua giáo trình sẽ cung cấp cho người đọc một tiếp  
cận tổng thể tới các khái niệm cơ bản về điện toán đám mây, các vấn đề về lưu  
trữ và xử lý dữ liệu, các vấn đề về an toàn và bảo mật, các dịch vụ, kiến trúc  
dịch vụ, hệ giám sát, một số chủ đề nâng cao gợi mở các vấn đề nghiên cứu hiện  
nay trong lĩnh vực điện toán đám mây.  
Giáo trình là kết quả tổng hợp các nội dung nghiên cứu trong khuôn khổ đề  
tài tiến sỹ của các tác giả khi học tập tại nước ngoài. Một số nội dung đã được  
giảng dạy thử nghiệm cho các khóa học 2012, 2013 của Trường Đại học Kinh  
Doanh và Công nghệ Hà Nội và sau đó đã được chỉnh sửa để phù hợp với sự  
thay đổi công nghệ.  
Giáo trình được xuất bản lần đầu nên không tránh khỏi những khiếm khuyết  
nhất định. Ngoài ra, do tính chất đặc thù phát triển nhanh chóng của lĩnh vực  
điện toán đám mây, nên nội dung giáo trình chưa hoàn toàn cập nhật, cô đọng,  
thiếu các diễn giải chi tiết, nhiều vấn đề chỉ nêu mà chưa minh họa. Chúng tôi  
mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp cụ thể của các bạn độc giả để có thể sửa  
chữa, bổ sung và làm tốt hơn trong các lần xuất bản sau.  
Tập thể tác giả xin bày tỏ sự cám ơn chân thành tới Khoa Công nghệ Thông  
tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Kinh Doanh và Công nghệ Hà  
Nội đã tạo điều kiện để phát triển các nghiên cứu chuyên sâu. Chúng tôi cũng  
đặc biệt cám ơn các bạn đồng nghiệp ở Khoa Công nghệ Thông tin đã có những  
góp ý chân thành để giáo trình được hoàn thiện  
Các tác giả  
MỤC LỤC  
Chương 1. Tổng quan về điện toán đám mây  
1.1. Nguồn gốc và ảnh hưởng  
1.2. Các khái niệm và thuật ngữ cơ bản  
1.3. Mục tiêu và lợi ích  
1.4. Nguy cơ và thách thức  
Chương 2. Các mô hình và khái niệm nền tảng  
2.1. Phạm vi và vai trò  
2.2. Các đặc trưng của đám mây  
2.3. Mô hình phân phối dịch vụ đám mây  
2.4. Mô hình triển khai đám mây  
Chương 3. Các công nghệ nền tảng  
3.1. Kiến trúc mạng băng thông rộng và Internet  
3.2. Công nghệ trung tâm dữ liệu  
3.3. Công nghệ ảo hóa  
3.4. Công nghệ web 2.0  
3.5. Công nghệ Multitenant  
3.6. Công nghệ hướng dịch vụ  
Chương 4. Các cơ chế tạo thành cơ sở hạ tầng đám mây  
4.1. Máy chủ ảo  
4.2. Thiết bị lưu trữ đám mây  
4.3. Cơ chế giảm sát sử dụng đám mây  
4.4. Cơ chế tái tạo bản sao tài nguyên  
Chương 5. Các cơ chế tạo thành các chức năng đám mây  
5.1. Lắng nghe và cấp phát động  
5.2. Cân bằng tải  
5.3. Giám sát sử dụng  
5.4. Hệ thống dự phòng  
5.5. Giám sát máy ảo  
Chương 6. Cơ chế quản lý đám mây  
6.1. Giới thiệu các cơ chế quản lý dịch vụ.  
6.2. Hệ thống quản lý từ xa  
6.3. Hệ thống quản lý tài nguyên  
6.4. Hệ thống quản lý SLA  
6.5. Cơ chế của hệ thống thanh toán và cách quản lý thanh toán  
Chương 7. An ninh trên đám mây  
7.1. Thuật ngữ và khái niệm cơ bản  
7.2. Các tác nhân đe dọa  
7.3. Các nguy cơ an ninh trên đám mây  
7.4. Các cơ chế đảm bảo an ninh trên đám mây  
Chương 8. Các kiến trúc đám mây nền tảng  
8.1. Kiến trúc phân tán khối lượng công việc  
8.2. Kiến trúc tài nguyên tập trung  
8.3. Kiến trúc quy mô động  
8.4. Kiến trúc dung lượng tài nguyên co giãn  
8.5. Kiến trúc cân bằng tải dịch vụ  
8.6. Kiến trúc Cloud Bursting  
Chương 9. Các kiến trúc đám mây của các tổ chức lớn  
9.1. Kiến trúc nhóm Hypervisor chạy các máy chủ ảo  
9.2. Kiến trúc cân bằng tải giữa các máy chủ vật lý  
9.3. Kiến trúc Zero Downtime  
9.4. Kiến trúc cân bằng đám mây  
9.5. Kiến trúc dự phòng tài nguyên  
9.6. Kiến trúc tái định vị dịch vụ không gián đoạn  
9.7. Kiến trúc phát hiện sự cố và phục hồi tự động  
Tài liệu tham khảo  
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY  
1.1. Nguồn gốc và ảnh hưởng  
Khái niệm điện toán đám mây ra đời từ những năm 1950 khi máy chủ tính  
toán quy mô lớn (large-scale mainframe computers) được triển khai tại một số  
cơ sở giáo dục và tập đoàn lớn. Tài nguyên tính toán của các hệ thống máy chủ  
được truy cập từ các máy khách cuối (thin clients, terminal computers), từ đó  
khai sinh khái niệm “chia sẻ thời gian” (time-sharing) đặc tả việc cho phép  
nhiều người sử dụng cùng chia sẻ đồng thời một tài nguyên tính toán chung.  
Trong những năm 1960 – 1990, xuất hiện luồng tư tưởng coi máy tính hay  
tài nguyên công nghệ thông tin có thể được tổ chức như hạ tầng dịch vụ công  
cộng (public utility). Điện toán đám mây hiện tại cung cấp tài nguyên tính toán  
dưới dạng dịch vụ và tạo cảm giác cho người dùng về một nguồn cung ứng là  
vô tận. Đặc tính này có thể so sánh tới các đặc tính của ngành công nghiệp tiêu  
dùng dịch vụ công cộng như điện và nước. Khi sử dụng điện hay nước, người  
dùng không cần quan tâm tới tài nguyên đến từ đâu, được xử lý, phân phối như  
thế nào, họ chỉ việc sử dụng dịch vụ và trả tiền cho nhà cung cấp theo lượng  
tiêu dùng của mình.  
Những năm 1990, các công ty viễn thông từ chỗ cung ứng kênh truyền dữ  
liệu điểm tới điểm (point-to-point data circuits) riêng biệt đã bắt đầu cung ứng  
các dịch vụ mạng riêng ảo với giá thấp. Thay đổi này tạo tiền đề để các công ty  
viễn thông sử dụng hạ tầng băng thông mạng hiệu quả hơn. Điện toán đám mây  
mở rộng khái niệm chia sẻ băng thông mạng này qua việc cho phép chia sẻ cả  
tài nguyên máy chủ vật lý bằng việc cung cấp các máy chủ ảo.  
Amazon cung cấp nền tảng Amazon Web Services (AWS) vào năm 2006,  
đánh dấu việc thương mại hóa điện toán đám mây. Từ đầu năm 2008,  
Eucalyptus được giới thiệu là nền tảng điện toán đám mây mã nguồn mở  
đầu tiên, tương thích với API của AWS. Tính tới thời điểm hiện tại, có rất  
nhiều các sản phẩm điện toán đám mây được đưa ra như Google App  
Engine, Microsoft Azure, Nimbus,...  
1.2. Các khái niệm và thuật ngữ cơ bản  
Điện toán đám mây (cloud computing) là một xu hướng công nghệ nổi bật  
trên thế giới trong những năm gần đây và đã có những bước phát triển nhảy vọt  
cả về chất lượng, quy mô cung cấp và loại hình dịch vụ, với một loạt các nhà  
cung cấp nổi tiếng như Google, Amazon, Salesforce, Microsoft,...  
Điện toán đám mây là mô hình điện toán mà mọi giải pháp liên quan đến  
công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các dịch vụ qua mạng  
Internet, giải phóng người sử dụng khỏi việc phải đầu tư nhân lực, công nghệ và  
hạ tầng để triển khai hệ thống. Từ đó điện toán đám mây giúp tối giản chi phí và  
thời gian triển khai, tạo điều kiện cho người sử dụng nền tảng điện toán đám  
mây tập trung được tối đa nguồn lực vào công việc chuyên môn.  
1.3. Mục tiêu và lợi ích  
Lợi ích của điện toán đám mây mang lại không chỉ gói gọn trong phạm vi  
người sử dụng nền tảng điện toán đám mây mà còn từ phía các nhà cung cấp  
dịch vụ điện toán. Theo những đánh giá của nhóm IBM CloudBurst năm 2009,  
trên môi trường điện toán phân tán có đến 85% tổng năng lực tính toán trong  
trạng thái nhàn rỗi, thiết bị lưu trữ tăng 54% mỗi năm, khoảng 70% chi phí  
được dành cho việc duy trì các hệ thống thông tin. Công nghiệp phần mềm mất  
đi 40 tỷ USD hằng năm vì việc phân phối sản phẩm không hiệu quả, khoảng  
33% khách hàng phàn nàn về các lỗi bảo mật do các công ty cung cấp dịch vụ.  
Những thống kê này đều chỉ đến một điểm quan trọng: mô hình hệ thống thông  
tin hiện tại đã lỗi thời và kém hiệu quả, cần phải chuyển sang một mô hình điện  
toán mới – đó là điện toán đám mây.  
Theo định nghĩa của Viện Quốc gia Tiêu chuẩn và Công nghệ Mỹ (US  
NIST), điện toán đám mây là mô hình cho phép truy cập trên mạng tới các tài  
nguyên được chia sẻ (ví dụ: hệ thống mạng, máy chủ, thiết bị lưu trữ, ứng dụng  
và các dịch vụ) một cách thuận tiện và theo nhu cầu sử dụng. Những tài nguyên  
này có thể được cung cấp một cách nhanh chóng hoặc thu hồi với chi phí quản  
lý tối thiểu hoặc tương tác tối thiểu với nhà cung cấp dịch vụ.  
1.4. Nguy cơ và thách thức  
Cơ hội của điện toán đám mây  
Cách đây vài năm, lượng dữ liệu truyền trên hệ thống mạng toàn cầu nếu  
lưu trữ trên DVD thì số lượng đĩa này xếp hàng sẽ có chiều dài bằng 2 quãng  
đường tới mặt trăng. Dự kiến lượng dữ liệu này sẽ tăng thêm 44 lần vào năm  
2020.  
Sự phát triển của điện toán đám mây là một trong những yếu tố chính thúc  
đẩy sự tăng trưởng của lưu lượng truyền dữ liệu với hơn 5 tỷ người đang sử  
dụng các thiết bị di động. Người dùng di động ngày nay ngoài các thao tác  
truyền thống như gọi điện, nhắn tin... thì việc sử dụng các ứng dụng hỗ trợ trong  
công việc và đời sống nhiều hơn. Hiện nay, hơn 60% lưu lượng truy cập dữ liệu  
thời gian thực đến từ các kênh truyền thông phổ biến và tỉ lệ này còn tăng trong  
tương lai.  
Theo ABI- một công ty nghiên cứu thị trường cho hay (7/2012) việc sử  
dụng dữ liệu trên di động hàng tháng dự kiến sẽ tăng 8 lần trong 5 năm tới. Vào  
năm 2015, lưu lượng truyền dữ liệu sẽ tăng hơn 50%, mỗi năm thế giới sẽ  
truyền một lượng dữ liệu khổng lồ là 107 Exabytes(=1.23362601 × 1020 bytes)  
thông qua mạng di động.  
Xu hướng cần cho SDN hay mạng điều khiển bằng phần mềm chính là  
điện toán đám mây được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng của các dạng đám mây  
nội bộ, công cộng và đám mây lai.  
Điện toán đám mây ra đời cho phép các ứng dụng bớt lệ thuộc vào mạng hạ  
tầng, tiết kiệm cho người dùng khi không quá đầu tư vào hệ thống phần cứng.  
Thị trường dịch vụ đám mây công cộng dự đoán sẽ tăng trưởng đạt 206,6 tỷ  
USD vào năm 2016.Theo nghiên cứu của công ty thị trường Renub thì trong  
tháng 9/2012 vừa rồi, thị trường đám mây nội bộ đã tăng gấp 2 lần trong năm  
2012 và sẽ có tốc độ tăng trưởng kép hằng năm là 21,5% trong giai đoạn 2011-  
2015. Sự phát triển của các kiến trúc hệ thống quy mô hyperscale, trung tâm dữ  
liệu ảo đã thúc đẩy xu hướng điện toán đám mây, đặc biệt là các đám mây công  
cộng và đám mây lai. Thuật ngữ hyperscale trong điện toán chưa thực sự có  
định nghĩa cụ thể và thường được dùng để nói đến các hệ thống IT lớn, đồng  
nhất gồm hàng trăm ngàn máy chủ giống nhau hoặc tương tự với một tiêu  
chuẩn.  
Khi mới bắt đầu triển khai, hệ thống yêu cầu khoảng 20 ngàn máy chủ  
nhưng đối với một công ty lớn thì con số này là 100 ngàn máy chủ được triển  
khai cùng thời điểm. Các trung tâm dữ liệu mới này tạo ra thách thức lớn đối  
với các hệ thống mạng bao gồm máy ảo di động, quản lý băng thông, các dịch  
vụ cung cấp hay là việc khôi phục dữ liệu.  
Một xu hướng khác là giao tiếp từ máy tới máy (M2M), đây là sự kết hợp  
giữa công nghệ và truyền thông nhằm cung cấp khả năng tương tác lẫn nhau  
giữa các thiết bị. Đóng vai trò quan trong trong việc phát triển của M2M chính  
là các thiết bị di động. Ericsson ước tính sẽ có hơn 50 tỷ thiết bị M2M thông  
minh chỉ trong 10 năm. Một số nhà quan sát cho rằng M2M sẽ là Internet of  
Things. Mọi thứ sẽ dần được kiểm soát thông qua Internet, ví dụ như thiết bị  
giám sát thể lực Fitbands Nike , kính Google, các thiết bị y tế , camera an ninh  
cho đến các hệ thống lớn như trường học, doanh nghiệp.  
Các thiết bị di động và M2M phát triển sẽ làm tăng lưu lượng và nội dung  
dữ liệu, tạo ra áp lực lớn dành cho cơ sở hạ tầng mạng. Theo dự đoán, trong  
khoảng từ naưm 2012-2017, thiết bị di động và M2M sẽ chiếm 73% với tốc độ  
tăng trưởng kép là 11%.  
Những khó khăn của hệ thống điện toán đám mây  
Để sử dụng được đám mây, điều yêu cầu lớn nhất chính là thiết bị phải có  
kết nối với internet. Vì vậy những khó khăn liên quan đến internet sẽ ảnh hưởng  
trực tiếp đến điện toán đám mây.  
Rào cản công nghệ  
Giới hạn mạng không giây WLAN và khả năng mở rộng của mạng diện  
rộng WAN là những yếu tố đầu tiên gây rào cản đến sự phát triển của hệ thống  
dữ liệu đám mây. Đối với WLAN thì 4 yêu tố giới hạn cố hữu chính là khả năng  
bảo mật- chính môi trường hoạt động trong không khí dễ gây ra các cuộc tấn  
công người dùng. Ngoài ra vì sử dụng sóng vô tuyến nên khả năng bị nhiễu bởi  
các tác động bên ngoài làm giảm hiệu suất hoạt động. Phạm vi hoạt động của  
WLAN chỉ là vài chục mét trở lạ- đối với phạm vi lớn thì phải bổ sung các thiết  
bị phát sóng, khá tốn kém cho cơ sở hạ tầng.Tốc độ chậm so với hệ thống cáp,  
WLAN tốc độ từ 1-125Mb trong khi đó cáp quang từ  
100Mb trở lên. Mạng diện rộng cục bộ WAN có phạm vi lớn, là tập hợp của  
nhiều mạng LAN, MAN thông qua nhiều phương thức kết nối. Tuy nhiên hệ  
thống mạng này băng thông thấp, dễ bị mất kết nối chỉ phù hợp với các thao tác  
nhỏ gọn như email, web... điều này ảnh hưởng khá lớn tới việc sử dụng dữ liệu  
đám mây đòi hỏi tính ổn định và tốc độ cao. Một số hạn chế khác như chi phí  
đầu tư cơ sở hạ tầng hay như hệ thống kết nối phức tạp, đòi hỏi nhiều tổ chức  
quản lý.  
Giới hạn của ảo hóa  
Ảo hóa ngày càng được sử dụng để tận dụng tài nguyên tính toán, nhưng có  
những câu hỏi về việc liệu chúng ta có phải đang cố gắng để sử dụng máy ảo  
(VM) trong các tình huống mà không cần thiết. Chúng ta có xu hướng quên đi  
một thực tế từ góc độ kỹ thuật, có sử dụng bao nhiêu hệ thống ảo thì chung ta  
vẫn cần hệ thống hạ tầng vật lý. Trong kiến trúc điện toán đám mây một trong  
những yếu tố quan trong chính là mức độ các nhà triển khai ảo hóa các hệ  
thống, ứng dụng, nội dung so với thế giới thực. Mạng ảo hóa xảy ra trong một  
hệ thống của nhiều hệ thống, và trong mạng ảo hóa đó thì các nhà cung cấp  
cung cấp máy chủ ảo bao gồm các tài nguyên để người dùng sử dụng từ xa.  
Điều này có thể dẫn đến việc không đồng nhất của các máy chủ đôi lúc nó sẽ  
không phù hợp với các hệ thống mạng ảo.  
Một trong những giới hạn của ảo hóa chính là con đường đi của phần mềm  
xác định mạng SDN và ảo hóa mạng chức năng NFV không thực sự rõ ràng.  
SDN được tạo ra ngay trong trung tâm dữ liệu cho phép tách và kiểm soát hoặc  
chuyển đổi các chức năng. SDN thực sự hiệu quả đối với sự bùng nổ của các  
máy chủ ảo và các trung tâm dữ liệu lớn.  
Ảo hóa mạng chức năng NFV thì được tạo ra từ các nhà cung cấp dịch vụ nhằm  
đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của các thiết bị di động. Cả 2 chức năng này  
đều chung thiết bị mục tiêu là ảo hóa máy chủ và chuyển mạch. Điều này dễ dẫn  
đến xung đột giữa nhà cung cấp dịch vụ và nhà cung cấp hạ tầng.  
Phương thức mới của đám mây  
Trong hội nghị thành viên diễn đàn CloudEthernetForum được tổ chức bởi  
NetEvents diễn ra tại Singapore ngày 20-11 vừa qua, Chủ tịch CEF James  
Walker công bố "Năm nguyên tắc cơ bản " viết tắt là VASPA dành cho hệ  
thống điện toán đám mây, cụ thể là : Ảo hóa (Virtualization) , Tự động hóa  
(Automation) , Bảo mật (Security), Lập trình (Programmability), và Analytics.  
• Ảo hóa (Virtualization) - VMWare, Citrix và Microsoft đang phát triển mở  
rộng nền tảng của họ bao gồm cả ảo hóa hệ thống mạng. Tập trung một lớp  
quản lý thống nhất có thể phát triển trên mạng, và đáp ứng các yêu cầu về lưu  
lượng truy cập điện toán đám mây. Vai trò của ảo hóa mạng chức năng( NFV)  
trong quá trình này cũng cần được nâng cao.  
• Tự động hóa(Automation) tự động hóa quản lý vòng đời máy chủ nhằm  
tăng việc sử dụng đồng thời giảm việc quản lý bằng tay. Thiết lập tự động và  
triển khai trên máy chủ ảo đang phát triển khá nhanh. Các nhà cung cấp đã tạo  
ra các giao thức độc lập và các tiêu chuẩn cần thiết để tăng tốc tự động hóa  
mạng lưới nhằm cung cấp và đưa các dịch vụ.  
• Bảo mật – Điện toán đám mây tạo ra nhiều cơ hội cũng như hỗ trợ người  
dùng dễ dàng hơn và khi dữ liệu đã trở nên rất di động thì luôn có những quy  
tắc bảo mật cần được tuân thủ. Các đám mây đang trên đường phát triển nên nó  
cần một cấu trúc mạnh mẽ để có thể đảm bảo an toàn dữ liệu từ đầu vào cho đến  
đầu cuối. Các nhà cung cấp cần đảm bảo được các dữ liệu của người dùng cũng  
như tính riêng tư của họ. Cần phải có các tiêu chuẩn mới dành cho dữ liệu cũng  
các nguyên tắc riêng trong vấn đề an ninh bảo mật.  
• Thiết lập - hầu hết các router và bộ chuyển mạch có thể được lập trình sẵn  
bởi các nhà sản xuất, nhưng rất ít được mở cho các nhà lập trình API của bên  
thứ ba . Một số nhóm bao gồm viện tiêu chuẩn Châu Âu ETSI và hệ thống  
mạng mở ONF - đang có gắng tạo ra sự thay đổi để các nhà phát triển có thể  
tiếp cận dễ dàng  
• Analytics - Trao đổi thông tin giữa các mạng với các nhà cung cấp dịch vụ  
đám mây và ứng dụng là cần thiết. Việc quan sát và theo dõi các thiết bị di động  
cũng như các ứng dụng sẽ giúp các nhà cung cấp dịch vụ hay các nhà phát triển  
cơ sở hạ tầng tối ưu hóa hiệu suất và phát triển khả năng kinh doanh từ đó.  
Chương 2. Các mô hình và khái niệm nền tảng  
2.1. Phạm vi và vai trò  
Các vai trò công nghệ thông tin trong đám mây  
Chúng ta hãy xem xét khả năng mà việc quản lý và quản trị sẽ đòi hỏi sự tự  
động hóa cao hơn, đòi hỏi một sự thay đổi nhiệm vụ của các nhân viên chịu  
trách nhiệm tạo kịch bản lệnh do tăng trưởng sản xuất mã. Bạn thấy đấy, công  
nghệ thông tin có thể làm cho gắn kết hơn, cần ít phần cứng và ít triển khai phần  
mềm hơn, nhưng nó cũng tạo ra các cấu tạo mới. Công nghệ thông tin đang dịch  
chuyển hướng tới người lao động tri thức. Trong mẫu hình mới này, các nguồn  
nhân lực kỹ thuật sẽ có trách nhiệm lớn hơn để tăng cường và nâng cấp các quy  
trình nghiệp vụ chung.  
Nhà phát triển  
Việc sử dụng ngày càng tăng các thiết bị di động, sự phổ biến của việc nối  
mạng xã hội và các khía cạnh khác của sự tiến hóa của quá trình và các hệ thống  
công nghệ thông tin thương mại, sẽ đảm bảo công việc cho cộng đồng nhà phát  
triển; tuy nhiên, các nhà phát triển của doanh nghiệp sẽ được gạch bỏ khỏi một  
số vai trò truyền thống của nhân viên phát triển, do các quá trình có hệ thống và  
có tổ chức của mô hình cấu hình đám mây.  
Một cuộc khảo sát gần đây của IBM, Nghiên cứu mới của developerWorks  
cho thấy sự vượt trội của điện toán đám mây và phát triển ứng dụng di động đã  
chứng tỏ rằng nhu cầu đối với công nghệ di động sẽ phát triển theo cấp số nhân.  
Sự phát triển này, đi cùng với sự chấp nhận nhanh chóng của điện toán đám  
mây trên toàn cầu, sẽ đòi hỏi phải gia tăng rất mạnh số các nhà phát triển có  
hiểu biết về lĩnh vực này. Để đáp ứng các nhu cầu kết nối di động ngày càng  
tăng, sẽ đòi hỏi phải có nhiều nhà phát triển hơn nữa hiểu cách điện toán đám  
mây hoạt động như thế nào.  
Điện toán đám mây cung cấp một khả năng hầu như vô tận, loại bỏ các mối  
lo về khả năng mở rộng. Điện toán đám mây cho các nhà phát triển truy cập vào  
các tài sản phần mềm và phần cứng mà hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa  
không có đủ khả năng tự trang bị. Các nhà phát triển, khi sử dụng điện toán đám  
mây dựa vào Internet và các tài sản là kết quả của cấu hình này, sẽ có quyền  
truy cập vào các tài nguyên mà hầu như đã chỉ có thể mơ ước trong quá khứ vừa  
qua.  
Nhà quản trị  
Các nhà quản trị là những người bảo vệ và các nhà lập pháp của một hệ  
thống công nghệ thông tin. Họ chịu trách nhiệm kiểm soát người dùng truy cập  
vào mạng. Điều này có nghĩa là họ nằm trên đỉnh của việc tạo ra các mật khẩu  
người dùng và tạo nên các quy tắc và các thủ tục dành cho chức năng cơ bản  
như là việc truy cập nói chung vào các tài sản hệ thống. Sự ra đời của điện toán  
đám mây sẽ đòi hỏi phải có các sự điều chỉnh cho quá trình này do nhà quản trị  
trong môi trường như vậy không chỉ quan tâm lo lắng về các vấn đề nội bộ nữa,  
mà còn về mối quan hệ với bên ngoài của doanh nghiệp mình và các mối quan  
tâm của điện toán đám mây, cũng như các hoạt động của các bên thuê khác  
trong một đám mây công cộng.  
Điều này làm thay đổi vai trò của các khái niệm về tường lửa đã được đặt ra  
bởi việc quản trị và bản chất của các thủ tục an ninh chung của doanh nghiệp.  
Nó không phủ nhận cần có người bảo vệ hệ thống. Với điện toán đám mây thậm  
chí trách nhiệm còn lớn hơn, chứ không phải ít đi. Trong điện toán đám mây,  
nhà quản trị không chỉ đảm bảo dữ liệu và các hệ thống bên trong cho tổ chức,  
họ còn phải giám sát và quản lý đám mây để đảm bảo sự an toàn cho hệ thống  
và dữ liệu của họ ở khắp mọi nơi.  
Kiến trúc sư  
Chức năng của kiến trúc là mô hình hóa có hiệu quả chức năng của hệ thống  
cụ thể trong thế giới công nghệ thông tin thực. Trách nhiệm cơ bản của kiến  
trúc sư là phát triển khung kiến trúc của mô hình điện toán đám mây của đại lý.  
Kiến trúc của điện toán đám mây về cơ bản là sự trừu tượng hóa của khái niệm  
ba tầng, đó là IaaS, PaaS và SaaS, sao cho doanh nghiệp cụ thể triển khai cách  
tiếp cận điện toán đám mây đáp ứng được mục tiêu và mục đích khởi đầu của  
nó. Mô hình trừu tượng hóa chức năng của các tầng được phát triển sao cho  
những người ra quyết định và những người lính bộ binh có thể sử dụng sự trừu  
tượng hóa này để lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá hiệu quả của các thủ tục  
và các quy trình của hệ thống công nghệ thông tin.  
Vai trò của kiến trúc sư trong thời đại điện toán đám mây là nghĩ ra và mô  
hình hóa một sự tương tác chức năng của các tầng của đám mây. Kiến trúc sư  
phải sử dụng trừu tượng hóa như một phương tiện để đảm bảo rằng công nghệ  
thông tin đang đóng đúng vai trò của mình trong việc đạt được các mục tiêu của  
tổ chức.  
2.2. Các đặc trưng của đám mây  
Định nghĩa của US NIST chứa đựng kiến trúc, an ninh và chiến lược triển  
khai của đám mây. Năm đặc tính cốt lõi của điện toán đám mây được thể hiện  
rõ như sau:  
- Tự phục vụ theo yêu cầu (on-demand self-service): Khách hàng với nhu  
cầu tức thời tại những thời điểm thời gian xác định có thể sử dụng các tài  
nguyên tính toán (như thời gian CPU, không gian lưu trữ mạng, sử dụng phần  
mềm,...) một cách tự động, không cần tương tác với con người để cấp phát.  
Sự truy cập mạng rộng rãi (broad network access): Những tài nguyên tính  
toán này được phân phối qua mạng Internet và được các ứng dụng client  
khác nhau sử dụng với những nền tảng không đồng nhất (như máy tính, điện  
thoại di động, PDA).  
– Tập trung tài nguyên: Những tài nguyên tính toán của nhà cung cấp dịch  
vụ đám mây được tập trung với mục đích phục vụ đa khách hàng sử dụng mô  
hình ảo hóa với những tài nguyên vật lý và tài nguyên ảo được cấp phát động  
theo yêu cầu. Động lực của việc xây dựng một mô hình tập trung tài nguyên  
tính toán nằm trong hai yếu tố quan trọng: tính quy mô và tính chuyên biệt. Kết  
quả của mô hình tập trung tài nguyên là những tài nguyên vật lý trở nên trong  
suốt với người sử dụng. Ví dụ, người sử dụng không được biết vị trí lưu trữ cơ  
sở dữ liệu của họ trong đám mây.  
– Tính mềm dẻo: Đối với người sử dụng, các tài nguyên tính toán được cung  
cấp tức thời hơn là liên tục, được cung cấp theo nhu cầu để mở rộng hoặc tiết  
giảm không hạn định tại bất kỳ thời điểm nào.  
Khả năng đo lường: Mặc dù tài nguyên được tập trung và có thể chia sẻ cho  
nhiều người sử dụng, hạ tầng của đám mây có thể dùng những cơ chế đo  
lường thích hợp để đo việc sử dụng những tài nguyên đó cho từng cá nhân.  
2.3. Mô hình phân phối dịch vụ đám mây  
IaaS: cung cấp hạ tầng như một dịch vụ  
Các nhà cung cấp IaaS, chẳng hạn như AWS, cung cấp một máy chủ và kho  
lưu trữ ảo, cũng như các API cho phép người dùng tải công việc lên máy ảo  
(VM). Người dùng đươc cung cấp các dung lượng lưu trữ và có thể bắt đầu,  
ngừng, truy cập hay cấu hình máy ảo và bộ nhớ theo mong muốn của bản thân.  
Có các gói sử dụng nhỏ, trung bình, lớn, cực lớn hay tối ưu hóa bộ nhớ, tính  
toán tùy theo nhu cầu của bên sử dụng.  
PaaS: cung cấp Platform như một dịch vụ  
Ở mô hình PaaS, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây lưu trữ các công cụ  
phát triển trên cơ sở hạ tầng của họ. Người dùng truy cập các công cụ này qua  
internet bằng API, cổng web portal hay cổng phần mềm. PaaS được sử dụng để  
phát triển phần mềm tổng quát và nhiều nhà cung cấp PaaS sở hữu phần mềm  
sau khi nó được phát triển.  
SaaS: cung cấp software như một dịch vụ  
SaaS là một mô hình phân phối cung cấp các ứng dụng phần mềm qua  
internet; các ứng dụng này thường được gọi là dịch vụ web. Người dùng có thể  
truy cập các ứng dụng và dịch vụ SaaS từ bất kỳ đâu trên máy tính hay thiết bị  
di động chỉ cần có kết nối internet. Một trong những ứng dụng Saas phổ biến là  
Microsoft Office 365 với dịch vụ email và nhiều dịch vụ đa dạng khác.Những  
lợi ích cơ bản của Cloud computing  
2.4. Mô hình triển khai đám mây  
Cloud Computing có 4 mô hình dịch vụ (mô hình sản phẩm ):  
• Public Cloud: Đám mây công cộng (là các dịch vụ trên nền tảng Cloud  
Computing để cho các cá nhân và tổ chức thuê, họ dùng chung tài nguyên).  
• Private Cloud: Đám mây riêng (dùng trong một doanh nghiệp và không  
chia sẻ với người dùng ngoài doanh nghiệp đó)  
• Hybrid Cloud: Là mô hình kết hợp (lai) giữa các mô hình Public Cloud  
và Private Cloud.  
• Community Cloud: Đám mây cộng đồng (là các dịch vụ trên nền tảng  
Cloud computing do các công ty cùng hợp tác xây dựng và cung cấp các dịch  
vụ cho cộng đồng).  
2.4.1. Public Cloud (Đám mây “công cộng”)  
Định nghĩa: Là các dịch vụ được bên thứ 3 (người bán) cung cấp. Chúng  
tồn tại ngoài tường lửa của công ty và được nhà cung cấp đám mây quản lý. Nó  
được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng công cộng, người dùng sẽ  
đăng ký với nhà cung cấp và trả phí sử dụng dựa theo chính sách giá của nhà  
cung cấp. Public cloud là mô hình triển khai được sử dụng phổ biến nhất hiện  
nay của cloud computing.  
Đối tượng sử dụng: Bao gồm người dùng bên ngoài internet. Đối  
tượng quản lý là nhà cung cấp dịch vụ.  
Ưu điểm:  
Phục vụ được nhiều người dùng hơn, không bị giới hạn bởi không  
gian và thời gian.  
Tiết kiệm hệ thống máy chủ, điện năng và nhân công cho doanh nghiệp.  
Nhược điểm:  
Các doanh nghiệp phụ thuộc vào nhà cung cấp không có toàn quyền quản lý.  
Gặp khó khăn trong việc lưu trữ các văn bản, thông tin nội bộ.  
Tuy nhiên Public Cloud có một trở ngại, đó là vấn đề mất kiểm soát về dữ  
liệu và vấn đề an toàn dữ liệu. Trong mô hình này mọi dữ liệu đều nằm trên  
dịch vụ Cloud, do nhà cung cấp dịch vụ Cloud đó bảo vệ và quản lý. Chính điều  
này khiến cho khách hàng, nhất là các công ty lớn cảm thấy không an toàn đối  
với những dữ liệu quan trọng của mình khi sử dụng dịch vụ Cloud.  
2.4.2. Private Cloud (Đám mây “doanh nghiệp”)  
Định nghĩa: Private cloud là các dịch vụ điện toán đám mây được cung cấp  
trong các doanh nghiệp. Những “đám mây” này tồn tại bên trong tường lửa  
của công ty và được các doanh nghiệp trực tiếp quản lý. Đây là xu hướng tất  
yếu cho các doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa hạ tầng công nghệ thông tin.  
Đối tượng sử dụng: Nội bộ doanh nghiệp sử dụng và quản lý  
Ưu điểm: Chủ động sử dụng, nâng cấp, quản lý, giảm chi phí, bảo mật tốt,…  
Nhược điểm:  
Khó khăn về công nghệ khi triển khai và chi phí xây dựng, duy trì hệ thống.  
Hạn chế sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, người dùng ở ngoài không thể  
sử dụng.  
2.4.3.Hybrid Cloud (Đám mây “lai”)  
Định nghĩa: Là sự kết hợp của private cloud và public cloud. Cho phép ta khai  
thác điểm mạnh của từng mô hình cũng như đưa ra phương thức sử dụng tối ưu  
cho người sử dụng. Những “đám mây” này thường do doanh nghiệp tạo ra và  
việc quản lý sẽ được phân chia giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp điện toán  
đám mây công cộng.  
Đối tượng sử dụng: Doang nghiệp và nhà cung cấp quản lý theo sự thỏa thuận.  
Người sử dụng có thể sử dụng các dịch vụ của nhà cung cấp và dịch vụ riêng  
của doanh nghiệp.  
Ưu điểm: Doanh nghiệp 1 lúc có thể sử dụng được nhiều dịch vụ mà không bị  
giới hạn.  
Nhược điểm: Khó khăn trong việc triển khai và quản lý. Tốn nhiều chi phí.  
Doanh nghiệp có thể chọn để triển khai các ứng dụng trên Public, Private  
hay Hybrid Cloud tùy theo nhu cầu cụ thể. Mỗi mô hình đều có điểm mạnh và  
yếu của nó. Các doanh nghiệp phải cân nhắc đối với các mô hình Cloud  
Computing mà họ chọn. Và họ có thể sử dụng nhiều mô hình để giải quyết các  
vấn đề khác nhau. Nhu cầu về một ứng dụng có tính tạm thời có thể triển khai  
trên Public Cloud bởi vì nó giúp tránh việc phải mua thêm thiết bị để giải quyết  
một nhu cầu tạm thời. Tương tự, nhu cầu về một ứng dụng thường trú hoặc một  
ứng dụng có những yêu cầu cụ thể về chất lượng dịch vụ hay vị trí của dữ liệu  
thì nên triển khai trên Private hoặc Hybrid Cloud.  
2.4.4. Community Cloud: Đám mây cộng đồng (là các dịch vụ trên nền tảng  
Cloud computing do các công ty cùng hợp tác xây dựng và cung cấp các dịch  
vụ cho cộng đồng).  
Chương 3. Các công nghệ nền tảng  
3.1. Kiến trúc mạng băng thông rộng và Internet  
Mạng bang thông rộng  
Các mạng truyền thông hiện nay thường chỉ cung cấp một vài loại dịch vụ  
thông tin. Trong khi đó, nhu cầu trao đổi thông tin của người sử dụng ngày càng  
gia tăng và đa dạng, đòi hỏi khả năng kết nối mọi nơi mọi lúc và tốc độ truy cập  
cao. Mạng băng thông rộng (broadband network) là một hướng phát triển có  
nhiều tiềm năng để đáp ứng nhu cầu này.  
Người ta rất mong muốn có một mạng đơn lẻ cung cấp tất cả các dịch vụ  
thông tin liên lạc như điện thoại, e-mail, truy cập Internet, xem phim, nghe  
nhạc… để tận dụng hiệu quả của việc chia sẻ tài nguyên mạng. Yếu tố kinh tế  
này đã là động cơ thúc đẩy việc phát triển một mạng dịch vụ tích hợp. Sự tích  
hợp sẽ giúp đơn giản hóa việc quản lý mạng, tăng tính linh hoạt trong việc cải  
tiến các dịch vụ hiện hữu cũng như giới thiệu các dịch vụ mới. Với những tiến  
bộ trong công nghệ băng thông rộng và xử lý thông tin với tốc độ cao, việc triển  
khai một mạng tích hợp như thế không còn là một ước mơ nữa.  
Các dự án mạng băng thông rộng  
Một mạng viễn thông lý tưởng cần có các đặc tính : băng thông rộng, truyền  
thông đa phương tiện, truy cập đa điểm, tốc độ truyền tải ở nhiều cấp độ, và  
dịch vụ đa dạng. Nó có thể chuyển tải thông tin ở dạng dữ liệu, âm thanh, hình  
ảnh tĩnh, video hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa các dạng thông tin này. Trong  
khi đó, mỗi dạng thông tin lại có những yêu cầu riêng về băng thông, độ trễ và  
độ chuẩn xác khi được phân phối trên mạng. Vì vậy, một mạng băng thông rộng  
có thành phần và cấu trúc rất phức tạp.  
Hiện nay, mạng băng thông rộng thường được triển khai rộng rãi là hệ thống  
B-ISDN (Broadband Integrated Services Digital Network – Mạng tích hợp các  
dịch vụ kỹ thuật số trên nền băng thông rộng) có tốc độ truyền tải dữ liệu từ 2  
Mbps đến hàng trăm Mbps. Hệ thống này chủ yếu sử dụng phương thức truyền  
tải không đồng bộ (Asynchronous Transfer Mode – ATM), cho phép lưu chuyển  
cùng một lúc dịch vụ thoại đồng bộ và dịch vụ dữ liệu không đồng bộ. B-ISDN  
được Ủy ban Tư vấn quốc tế về điện thoại và điện báo (CCITT) thuộc Hiệp hội  
Viễn thông quốc tế (ITU) phát triển từ năm 1988 để cung cấp một kế hoạch chi  
tiết cho việc tích hợp các dịch vụ thoại, video và dữ liệu (triple play) trong thế  
kỷ 21. Kiến trúc B-ISDN sử dụng ATM ở tầng liên kết dữ liệu (data link layer)  
để chuyển mạch và SONET (Synchronous Optical Network – mạng cáp quang  
đồng bộ) ở tầng vật lý (physical layer) để cung cấp những kết nối tốc độ cao.  
Do phải phục vụ cho các nhu cầu dịch vụ hết sức đa dạng nên mạng B-ISDN  
phải có cấu trúc phân tầng, gồm mạng của người sử dụng, mạng truy cập, mạng  
trung kế (trunk network) và mạng đường dài. Ngoài ra còn có mạng quản lý  
(Telecommunication Management Network – TMN) và mạng thông minh  
(Intelligent Network – IN) là hai mạng giám sát, điều hành, báo hiệu và cung  
cấp các dịch vụ thông minh cho B-ISDN.  
Một trong những công nghệ cáp quang đang được nhiều nước trên thế giới  
triển khai là mạng cáp quang đến tận nhà (Fiber To The Home – FTTH), một  
công nghệ băng thông rộng có tốc độ nhanh hơn DSL. Tháng 9-2005, hãng  
Verizon ở Bắc Mỹ cũng đã giới thiệu dự án FiOS (Fiber Optic Service), một  
dịch vụ viễn thông sử dụng một đường cáp quang chạy thẳng đến nhà người tiêu  
dùng, cung cấp mọi dịch vụ từ thoại, dữ liệu Internet đến ti-vi có độ phân giải  
cao. Hãng này hy vọng đến năm 2010 sẽ có khoảng 3-4 triệu người đăng ký sử  
dụng dịch vụ này.  
Trong khi đó, từ tháng 12-2003, Liên minh châu Âu (EU) đã thực hiện dự án  
Broadwan với mục đích phát triển công nghệ và kiến trúc mạng băng thông  
rộng, trong đó tập trung vào phương thức truy cập không dây. Dự án này sẽ  
cung cấp các dịch vụ băng thông rộng cho tất cả mọi người ở châu Âu.  
Broadwan có 25 đối tác tham gia, gồm các nhà điều hành mạng, các công ty  
viễn thông, các học viện và các hãng tư vấn trong ngành đến từ mười quốc gia  
Âu châu.  
Tương lai đầy hứa hẹn  
Các nhà phân tích dự đoán sẽ có hơn 100 tỷ đô-la Mỹ được đầu tư vào việc  
nâng cấp các cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ di động và video băng thông rộng  
từ nay đến năm 2011. Theo công ty Redback Networks thuộc tập đoàn viễn  
thông Ericsson, video và các chương trình theo yêu cầu đang chiếm hơn phân  
nửa lưu lượng truyền tải trên Internet, và số lượng này có khả năng tăng gấp đôi  
trong mỗi 18-24 tháng.  
Công ty Redback nhận định trong khoảng thời gian này sẽ có ba làn sóng cơ  
hội phát triển cho mạng băng thông rộng. Làn sóng thứ nhất là sự gia tăng triển  
khai các dịch vụ triple play. Làn sóng thứ hai là kết hợp các mạng dành cho  
doanh nghiệp với mạng của người sử dụng để hợp nhất việc thông tin liên lạc và  
cải thiện các hoạt động của doanh nghiệp. Làn sóng thứ ba là giới thiệu những  
mạng điện thoại di động nhanh hơn (với tốc độ truyền tải từ 14 Mbps đến 144  
Mbps) để cơ động hóa khả năng sản xuất của doanh nghiệp và các dịch vụ triple  
play cho người sử dụng.  
Cả ba làn sóng này sẽ mở rộng thị trường băng thông rộng với hơn 250 triệu  
người sử dụng. Công ty Redback tin rằng sẽ có khoảng hai tỷ người sử dụng các  
phương tiện truyền thông có dây và không dây chuyển sang dùng các mạng  
băng thông rộng đa dịch vụ trong vòng năm năm nữa. Vì thế, các nhà điều hành  
mạng viễn thông cần phải tích hợp các hệ thống liên lạc có dây và không dây  
của họ để có thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh gay gắt này. Hai lợi ích  
hàng đầu của việc cung cấp các dịch vụ hội tụ cố định và di động (fixed-mobile  
convergence – FMC) là gia tăng doanh thu bình quân tính trên đầu người sử  
dụng (Average Revenue Per User – ARPU) và duy trì dòng thông tin lưu  
chuyển trong mạng.  
Công ty Alcatel cũng nhận định tương lai của ngành viễn thông quốc tế phụ  
thuộc vào việc cung cấp cho người sử dụng sự tiện dụng của các dịch vụ tích  
hợp trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Theo công ty này, khả năng cung cấp các dịch  
vụ triple play cùng với sự hội tụ về mạng và các dịch vụ là những tài sản mới  
nhất của các nhà cung cấp dịch vụ. Những yếu tố quan trọng góp phần cho sự  
thành công trong tương lai của một nhà điều hành mạng là đóng gói và tích hợp  
các dịch vụ để phân phối chúng trên Internet nhanh hơn, an toàn hơn, chất  
lượng hơn với chi phí ít hơn.  
Mạng Internet  
Về mặt kiến trúc kết nối Internet là một siêu mạng dựa trên sự liên nối trên  
nhiều lớp mạng khác nhau:  
• Mạng liên lục địa: Sử dụng trục cable qua các đại dương, hoặc sử dụng  
các vệ tinh. Mục đích là nối thông tin giữa các lục địa. Một số hãng điều tiết  
chính (Operaters) trên thế giới: MCInet, SPRINTlink, ANSnet AOL, CERFnet,  
Ebone, Eurpanet,…  
• Mạng lục địa: Gồm các hãng điều tiết quốc gia hay liên quốc gia, cung  
cấp phương tiện truyền tin cho các khách hàng trên một vùng nhất định của một  
lục địa: VIETPAC (Việt Nam), TRANSPAC (Pháp), AUSPAC (Australia),  
TELEPAC (Singapore),…  
• Mạng truy nhập địa phương: Gồm các hãng bán dịch vụ cổng vào cho  
khách hàng qua mạng lưới điện thoại hay mạng riêng, và nối vào các mạng lục  
địa bởi các đường truyền đặc biệt (Specialized links): TRANSPAC France  
Télécom, FranceNet, World Net, Imaginet,…  
• Mạng biệt lập: Các mạng được xây dựng riêng để bán dịch vụ cho khách  
và có cổng nối với siêu mạng Internet (Computer Serve, IBM, Micronet,  
Microsoft Network,…)  
Các nhà cung cấp dịch vụ, bao gồm:  
• Các hãng điều tiết Internet: Các hãng này, có khả năng cung cấp đường  
kết nối và liên tục vào siêu mạng (on line services), họ tham gia vào việc quản  
lý hệ Internet trên phạm vi một địa phương hay một quốc gia: VIETPAC  
(VDC Việt Nam), AUSPAC, TRANSPAC, FPT, VIETEL, SPT…  
• Các hãng cung cấp dịch vụ dial up: cho thuê bao cổng vào qua hệ thống  
điện thoại. Các dịch vụ này không phải là dịch vụ liên tục (off line services). Tại  
Việt Nam: Varenet và Netnam Viện Công nghệ Thông tin, Vietnet Bưu điện  
Khánh Hoà, Trí tuệ Việt Nam Công ty FPT, Phương Nam Trung tâm Hội chợ  
Triển lãm,…  
• Các hãng cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng Internet: tài liệu trực  
tuyến, thanh toán điện tử, ngân hàng, lưu trữ dữ liệu, thư viện phim ảnh, trường  
học online, video conference, Ip phone, tìm kiếm nội dung…  
• Các hãng thuê bao cổng vào thường kết hợp với việc làm các dịch vụ  
Internet như: thuê làm trang chủ (Home Page), thiết kế và xây dựng các website  
và cho thuê dung lượng lưu trữ, quản lý các nhóm hội thảo (NEWGROUPS),  
dịch vụ INTRANET,…  
Về mặt thiết bị ba thành phần chính tạo nên Internet là:  
• Các trạm máy chủ (Hosts), các trạm làm việc (Workstation), các thiết bị  
xử lý thông tin thông minh cầm tay,… trên đó chạy các chương trình ứng dụng.  
Các máy tính có thể thuộc các loại khác nhau, chỉ cần hiểu được TCP/IP và có  
phần cứng, phần mềm tương ứng để truy cập và sử dụng các dịch vụ Internet.  
• Các mạng diện rộng, mạng cục bộ, đường thuê bao điểm điểm (Point to  
Point), liên kết Dial Up (điện thoại, ISDN, X.25, ADSL) v.v… mang tải thông  
tin trao đổi giữa các máy tính.  
• Các bộ dẫn đường (ROUTER) phục vụ việc kết nối giữa các mạng.  
Về công nghệ mạng  
Nhiều công nghệ mạng khác nhau được kết hợp nhằm đảm bảo ở khắp mọi  
nơi dịch vụ chuyển nhận các gói dữ liệu (IP packet đơn vị cấu thành trao đổi  
thông tin) trên mạng. Vấn đề then chốt là cần có chuẩn truyền thông thống nhất  
và cơ chế dẫn đường trên các mạng phân tán diện rộng. Về mặt truyền thông thì  
Internet dựa trên tập hợp các giao thức có tên chung là TCP/IP được xây dựng  
nhằm cho mục đích trên:  
• Mỗi máy tính trên mạng Internet đều có 1 địa chỉ IP duy nhất.  
• Cơ chế dẫn đường được thực hiện qua các ROUTER. Tại đó có các bảng  
thông tin dẫn đường được cập nhật liên tục chỉ cho biết điểm đến tiếp theo trên  
mạng. Khi có một trạm nào đó bị hỏng thông tin có thể được lái đi qua một số  
trạm khác để đến địa chỉ cuối cùng.  
3.2. Công nghệ trung tâm dữ liệu  
Data center (trung tâm dữ liệu) là một nơi chứa các hệ thống máy tính và  
các thành phần liên quan như hệ thống truyền thông hay hệ thống dữ liệu…  
Thông thường nó bao gồm nguồn điện dự phòng, UPS, lượng băng thông rất  
lớn, môi trường được kiểm soát chặt chẽ (ví dụ điều hòa, bình cứu hỏa…) và  
các thiết bị bảo mật khác.  
Các yêu cầu để có được một data center hiện đại  
Để có được một trung tâm dữ liệu hiện đại thì cần phải đáp ứng đầy đủ các  
yêu cầu về không gian của trung tâm dữ liệu trong mạng viễn thông cũng như  
yêu cầu về môi trường của các thiết bị được lắp đặt. Các tiêu chí này có thể  
được áp dụng trên các thiết bị CNTT, các thiết bị được sử dụng để:  
• Cung cấp một lượng băng thông lớn, ổn định đáp ứng nhu cầu của mọi  
thiết bị  
• Các ứng dụng của trung tâm dữ liệu được cung cấp trực tiếp cho khách  
hàng  
• Có thể cung cấp các ứng dụng cho các đại lí để họ mang các ứng dụng  
đấy đến với người dùng  
Trên thực tế, hoạt động của trung tâm dữ liệu phụ thuộc vốn đầu tư vào cả  
cơ sở của trung tâm lẫn các trang thiết bị. Bước đầu tiên là cần phải xây dựng  
một môi trường cơ sở phù hợp cho việc lắp đặt các trang thiết bị. Việc tiêu  
chuẩn hóa các thiết bị có thể đem lại hiệu quả trong việc thiết kế và xây dựng  
các trung tâm dữ liệu viễn thông.  
Hiệp hội công nghiệp viễn thông (Telecommunications Industry  
Association) là một tổ chức thương mại được công nhận bởi ANSI (American  
National Standards Institute). Vào năm 2005 hiệp hội này đã xuất bản cuốn  
ANSI/TIA-942, trong cuốn này tác giả đã chỉ rõ ra các tầng lớp trong một trung  
tâm dữ liệu, theo đó một trung tâm dữ liệu bao gồm 4 level (4 cấp độ), bảng  
dưới  
đâysẽ  
chỉ  
rõhơn  
cho  
bạn  
4 cấpđộ  
này:  
Tier  
Yêu cầu  
+ Chỉ bao gồm một đường mạng đơn, không hỗ trợ các thiết bị  
IT Tier 1+ Không có các thiết bị dự phòng  
+ Các cơ sở hạ tầng cơ bản sẵn sàng đáp ứng 99.671%  
+ Thỏa mãn hoặc vượt trội hơn các yêu cầu ở level 1  
Tier 2 + Các trang thiết bị, cơ sở hạ tầng dự phòng sẵn sàng đáp ứng  
99.741%  
Tier 3  
+ Thỏa mãn hoặc vượt trội hơn các yêu cầu ở level 2  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 47 trang Thùy Anh 21260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Điện toán đám mây và ứng dụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_dien_toan_dam_may_va_ung_dung.doc