Giáo trình nghề Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính - Quản trị mạng máy tính (Phần 1)

TRÌNH ĐỘ : CAO ĐẲNG  
(Ban hành theo Quyết định số 171 /QĐ - CĐNVL ngày 14 tháng 8 năm 2017  
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Vĩnh Long)  
1
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
  
Những năm qua chúng ta đã và đang sống trong thời kỳ phát triển rất nhanh  
chóng và sôi động của công nghệ thông tin. Chiếc máy vi tính đa năng, tiện lợi và  
hiệu quả mà chúng ta đang dùng, giờ đây đã trở nên chật hẹp và bất tiện so với các  
máy vi tính nối mạng.  
Từ khi xuất hiện mạng máy tính, tính hiệu quả tiện lợi của mạng đã làm thay  
đổi phương thức khai thác máy tính cổ điển. Mạng và công nghệ về mạng mặc dù  
ra đời cách đây không lâu nhưng nó đã được triễn khai ứng dụng ở hầu hết khắp  
mọi nơi trên hành tinh chúng ta.  
Chính vì vậy, chẳng bao lâu nữa những kiến thức về tin học viễn thông nói  
chung và về mạng nói riêng sẽ trở nên kiến thức phổ thông không thể thiếu được  
cho những người khai thác máy vi tính, ở nước ta việc lắp đặt và khai thác mạng  
máy tính trong vòng mấy năm trở lại đây, đến nay số các cơ quan, trường học, đơn  
vị có nhu cầu khai thác các thông tin trên mạng ngày càng gia tăng. Đồng thời  
cùng với việc khai thác các thông tin mạng, người dùng cũng cần phải quản lý  
mạng nhằm khai thác mạng hiệu quả và an toàn.  
Quản lý mạng là một công việc rất phức tạp, có liên quan đến hàng loạt vấn  
đề như:  
* Quản lý lỗi.  
* Quản lý cấu hình.  
* Quản lý an ninh mạng  
* Quản lý hiệu quả.  
* Quản lý tài khoản.  
Để làm được điều này một cách có hiệu quả phải theo dõi một cách toàn  
diện tình trạng hoạt động của mạng bằng cách sử dụng các nghi thức quản trị  
mạng.  
Các nghi thức quản trị mạng chuẩn hoá chủ yếu là tạo những giao tiếp chuẩn  
giữa các phần mềm quản trị với các nguồn tin liên quan đến hoạt động của mạng từ  
các nút mạng chuyển tới. Thông tin từ các thiết bị thực ra chỉ cung cấp được các  
thông tin liên quan đến quản trị cấu hình, quản trị lỗi, quản trị hiệu quả, một chút  
về quản trị an ninh và tài khoản. Vì vậy, trong năm khía cạnh quản trị mạng nêu  
trên, các nghi thức quản trị mạng đáp ứng trực tiếp hơn cho hai khía cạnh là quản  
2
trị lỗi và quản trị cấu hình. Vì vậy, để làm rõ hơn ý nghĩa của các nghi thức quản  
trị mạng, các bài sau sẽ trình bày chi tiết hơn về các khía cạnh được nêu ở trên.  
Mô đun Quản trị mạng là một mô đun chuyên môn của người học ngành  
quản trị mạng. Mô đun này nhằm trang bị cho người học các trường nghề những  
kiến thức về kỹ thuật truyền số liệu. Với các kiến thức này người học có thể áp  
dụng trực tiếp vào lĩnh vực sản xuất cũng như đời sống. Mô đun này cũng có thể  
làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật, các người học của các ngành khác  
quan tâm đến lĩnh vực này.  
Giáo trình Quản trị mạng máy tính được chia làm 11 bài:  
Bài mở đầu: Giới thiệu tổng quan  
Bài 01 : Cài đặt và cấu hình Windows Server  
Bài 02 : Xây dựng dịch vụ DNS  
Bài 03 : Xây dựng dịch vụ DHCP  
Bài 04: Xây dựng và quản trị Active Directory  
Bài 05: Quản lý tài khoản người dùng và nhóm  
Bài 06: Quản lý tài nguyên dùng chung  
Bài 07: Quản trị môi trường mạng Group Policy  
Bài 08: Giám sát hoạt động Server  
Bài 09: Quản trị lưu trữ và bảo mật dữ liệu  
Bài 10: Quản trị sự cố MS Windows Server  
Mục tiêu cần đạt được về kiến thức và kỹ năng sau khi học:  
Kiến thức: Được đánh giá qua bài kiểm tra viết, trắc nghiệm đạt được các yêu  
cầu sau:  
+ Trình bày được các vai trò, chức năng của các dịch vụ trong hệ thống mạng.  
+ Trình bày được kiến thức về giao thức TCP/IP, địa chỉ IP V4.  
+ Trình bày được vai trò và chức năng của định tuyến mạng trong một hệ  
thống mạng công ty, doanh nghiệp.  
+ Trình bày được vai trò của dịch vụ DNS trong vấn đề phân giải tên miền.  
+ Trình bày được vai trò của dịch vụ DHCP trong việc cung cấp giải pháp cấp  
địa chỉ IP động đến tất cả các máy tính, thiết bị mạng trong hệ thống.  
+ Trình bày được vai trò, chức năng của các dịch vụ thông dụng như Web, Mail,  
FTP.  
3
+ Trình bày được mô hình và nguyên tắc hoạt động của mạng riêng ảo VPN  
để từ đó ứng dụng vào các nhu cầu đòi hỏi kết nối thực tế của các công ty, doanh  
nghiệp  
+ Trình bày được nguyên tắc bảo mật ứng dụng vào trong các dịch vụ mạng  
Kỹ năng: Đánh giá kỹ năng thực hành của sinh viên trong bài thực hành mô  
đun quản trị mạng và thiết bị mạng đạt được các yêu cầu sau:  
+ Triển khai được kế hoạch phân bổ địa chỉ IP hoàn chỉnh cho hệ thống mạng.  
+ Xây dựng được sơ đồ định tuyến hệ thống mạng và cấu hình các thiết bị  
Router nhằm đảm bảo cho việc liên lạc trong hệ thống mạng được thông suốt  
+ Triển khai được dịch vụ DHCP cấp địa chỉ IP động cho tất cả các máy tính  
và thiết bị trong hệ thống mạng.  
+ Xây dựng được dịch vụ DNS Server, đảm bảo cho việc phân giải tên miền  
nội bộ được thông suốt, làm nền tảng cơ bản hỗ trợ cho các dịch khác trong hệ  
thống mạng  
+ Xây dựng kế hoạch quản ly người dùng, thư mục dùng chung, chia sẻ, giám  
sát, sửa lỗi máy chủ khi vận hành  
+ Triển khai được các giải pháp truyền thông bảo mật với IPSec và Certificate  
cũng như đưa ra được các mô hình kết nối dữ liệu cho các hệ thống mạng nội bộ ở  
xa nhau thông qua kỹ thuật kết nối mạng riêng ảo VPN.  
Năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Có ý thức tự giác, tính kỷ luật cao, tinh thần trách nhiệm trong công việc  
+ Có tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau;  
+ Có năng lực dẫn dắt về chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo;  
+ Có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao  
+ Tính kiên trì, cẩn thận, chính xác trong công việc.  
Mặc dù đã có những cố gắng biên soạn lại theo giáo trình của Tổng cục dạy  
nghề ban hành để hoàn thành theo kế hoạch, nhưng do hạn chế về thời gian và kinh  
nghiệm soạn thảo giáo trình, nên tài liệu chắc chắn còn những khiếm khuyết. Rất  
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và những ai sử dụng tài liệu  
này.  
Tác giả biên soạn  
4
MỤC LỤC  
  
Trang  
5
6
7
8
BAI MỞ ĐẦU: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN  
Mục tiêu :  
Trình bày được các dịch vụ mạng;  
Trình bày được kiến trúc TCP/IP;  
Trình bày ý nghĩa, chức năng, đặc điểm của Windows Sever;  
Thiết lập được địa chỉ IP;  
Tính cẩn thận, tỉ mỉ trong công việc.  
Nội dung  
1. Giới thiệu  
1.1. Tổng quan về các dịch vụ mạng  
Các dịch vụ mạng phổ biến nhất là:  
- Dịch vụ tập tin.  
- Dịch vụ in ấn.  
- Dịch vụ thông điệp.  
- Dịch vụ thư mục.  
- Dịch vụ ứng dụng.  
- Dịch vụ cơ sở dữ liệu.  
- Dịch vụ Web.  
1.1.1. Dịch vụ tập tin (Files Services)  
Dịch vụ tập tin cho phép các máy tính chia sẻ các tập tin, thao tác trên các  
tập tin chia sẻ này như: lưu  
trữ, tìm kiếm, di chuyển...  
Truyền tập tin: không có mạng, các khả năng truyền tải tập tin giữa các máy  
tính bị hạn chế. Ví dụ như chúng ta muốn sao chép một tập tin từ máy tính cục  
bộ ở Việt Nam sang một máy tính server đặt tại Pháp thì chúng ta dùng dịch vụ  
FTP để sao chép. Dịch vụ này rất phổ biến và đơn giản.  
Lưu trữ tập tin: phần lớn các dữ liệu quan trọng trên mạng đều được lưu trữ  
tập trung theo nhiều cách khác nhau:  
Lưu trữ trực tuyến (online storage): dữ liệu được lưu trữ trên đĩa cứng nên  
truy xuất dễ dàng, nhanh chóng, bất kể thời gian. Nhưng phương pháp này có một  
khuyết điểm là chúng không thể tháo rời để trao đổi hoặc lưu trữ tách rời, đồng  
thời chi phí lưu trữ một MB dữ liệu tương đối cao.  
Lưu trữ ngoại tuyến (offline storage): thường áp dụng cho dữ liệu ít  
khi cần truy xuất (lưu trữ, backup). Các thiết bị phổ biến dùng cho phương pháp  
này là băng từ, đĩa quang.  
9
Lưu trữ cận tuyến (near- line storage): phương pháp này giúp ta khắc phục  
được tình trạng truy xuất chậm của phương pháp lưu trữ ngoại tuyến nhưng chi  
phí lại không cao đó là chúng ta dùng thiết bị Jukebox để tđộng quản lý các băng  
từ và đĩa quang.  
Di trú dữ liệu (data migration) là công nghệ tự động dời các dữ liệu ít  
dùng từ kho lưu trữ trực tuyến sang kho lưu trữ cận tuyến hay ngoại tuyến. Nói  
cách khác đây là quá trình chuyển các tập tin từ dạng lưu trữ này sang dạng lưu trữ  
khác.  
Đồng bộ hóa việc cập nhật tập tin: dịch vụ này theo dõi các thay đổi khác  
nhau lên cùng một tập tin để đảm bảo rằng tất cả mọi người dùng đều có bản sao  
mới nhất của tập tin và tập tin không bị hỏng.  
Sao lưu dự phòng (backup) là quá trình sao chép và lưu trữ một bản sao  
dữ liệu từ thiết bị lưu trữ chính. Khi thiết bị lưu trữ chính có sự cố thì chúng ta  
dùng bản sao này để phục hồi dữ liệu.  
1.1.2. Dịch vụ in ấn (Print Services)  
Dịch vụ in ấn là một ứng dụng mạng điều khiển và quản lý việc truy cập  
các máy in, máy fax mạng.  
Các lợi ích của dịch vụ in ấn:  
Giảm chi phí cho nhiều người có thể chia nhau dùng chung các thiết bị đắt  
tiền như máy in màu, máy vẽ, máy in khổ giấy lớn.  
Tăng độ linh hoạt vì các máy tính có thể đặt bất kỳ nơi nào, chứ không chỉ  
đặt cạnh PC của người dùng.  
Dùng cơ chế hàng đợi in để ấn định mức độ ưu tiên nội dung nào được in  
trước, nội dung nào được in sau.  
1.1.3. Dịch vụ thông điệp (Message Services)  
Là dịch vụ cho phép gởi/nhận các thư điện tử (e-mail). Công nghệ  
thư điện tử này rẻ tiền, nhanh chóng, phong phú cho phép đính kèm nhiều  
loại file khác nhau như: phim ảnh, âm thanh... Ngoài ra dịch vụ này còn cung  
cấp các ứng dụng khác như: thư thoại (voice mail), các ứng dụng nhóm làm việc  
(workgroup application).  
1.1.4. Dịch vụ thư mục (Directory Services)  
Dịch vụ này cho phép tích hợp mọi thông tin về các đối tượng trên mạng  
thành một cấu trúc thư mục dùng chung nhờ đó mà quá trình quản lý và chia sẻ tài  
nguyên trở nên hiệu quả hơn.  
10  
1.1.5. Dịch vụ ứng dụng (Application Services)  
Dịch vụ này cung cấp kết quả cho các chương trình ở client bằng cách  
thực hiện các chương trình trên server. Dịch vụ này cho phép các ứng dụng huy  
động năng lực của các máy tính chuyên dụng khác trên mạng.  
1.1.6. Dịch vụ cơ sở dữ liệu (Database Services)  
Dịch vụ cơ sở dữ liệu thực hiện các chức năng sau:  
- Bảo mật cơ sở dữ liệu.  
- Tối ưu hóa tiến trình thực hiện các tác vụ cơ sở dữ liệu.  
- Phục vụ số lượng người dùng lớn, truy cập nhanh vào các cơ sở dữ liệu.  
- Phân phối dữ liệu qua nhiều hệ phục vụ CSDL.  
1.1.7. Dịch vụ Web  
Dịch vụ này cho phép tất cả mọi người trên mạng có thể trao đổi các siêu  
văn bản với nhau. Các siêu bản này có thể chứa hình ảnh, âm thanh giúp các người  
dùng có thể trao đổi nhanh thông tin và sống động hơn.  
1.2. Địa chỉ TCP/IP, subnet mask  
1.2.1. Địa chỉ TCP/IP và các lớp  
Sơ đồ địa chỉ hoá để định danh các trạm (host) trong liên mạng được gọi là  
địa chỉ IP. Mỗi địa chỉ IP có độ dài 32 bits (đối với IP4) được tách thành 4 vùng  
(mỗi vùng 1 byte), có thể được biểu thị dưới dạng thập phân, bát phân, thập lục  
phân hoặc nhị phân. Cách viết phổ biến nhất là dùng ký pháp thập phân có dấu  
chấm để tách giữa các vùng. Mục đích của địa chỉ IP là để định danh duy nhất cho  
một host bất kỳ trên liên mạng.  
Có hai cách cấp phát địa chỉ IP, nó phụ thuộc vào cách ta kết nối mạng.  
Nếu mạng của ta kết nối vào mạng Internet, địa mạng chỉ được xác nhận bởi  
NIC (Network Information Center). Nếu mạng của ta không kết nối Internet,  
người quản trị mạng sẽ cấp phát địa chỉ IP cho mạng này. Còn các host ID được  
cấp phát bởi người quản trị mạng.  
Khuôn dạng địa chỉ IP: mỗi host trên mạng TCP/IP được định danh duy nhất  
bởi một địa chỉ có khuôn dạng <Network Number, Host number>  
- Phần định danh địa chỉ mạng Network Number.  
- Phần định danh địa chỉ các trạm làm việc trên mạng đó Host Number.  
Ví dụ 128.4.70.9 là một địa chỉ IP  
Do tổ chức và độ lớn của các mạng con của liên mạng có thể khác nhau,  
người ta chia các địa chỉ IP thành 5 lớp ký hiệu A,B,C, D, E với cấu trúc được xác  
định trên hình 2.2.  
11  
Các bit đầu tiên của byte đầu tiên được dùng để định danh lớp địa chỉ (0-lớp  
A; 10 lớp B; 110 lớp C; 1110 lớp D; 11110 lớp E).  
- Lớp A cho phép định danh tới 126 mạng (sử dụng byte đầu tiên), với tối  
đa 16 triệu host (3 byte còn lại, 24 bits) cho mỗi mạng. Lớp này được dùng cho các  
mạng có số trạm cực lớn. Tại sao lại có 126 mạng trong khi dùng 8 bits? Lí do đầu  
tiên, 127.x (01111111) dùng cho địa chỉ loopback, thứ 2 là bit đầu tiên của byte  
đầu tiên bao giờ cũng là 0, 1111111(127). Dạng địa chỉ lớp A (network number.  
host.host.host). Nếu dùng ký pháp thập phân cho phép 1 đến 126 cho vùng đầu, 1  
đến 255 cho các vùng còn lại.  
- Lớp B cho phép định danh tới 16384 mạng  
(10111111.11111111.host.host), với tối đa 65535 host trên mỗi mạng. Dạng  
của lớp B (network number. Network number.host.host). Nếu dùng ký pháp thập  
phân cho phép 128 đến 191 cho vùng đầu, 1 đến 255 cho các vùng còn lại.  
- Lớp C cho phép định danh tới 2.097.150 mạng và tối đa 254 host cho mỗi  
mạng. Lớp này được dùng cho các mạng có ít trạm. Lớp C sử dụng 3 bytes đầu  
định danh địa chỉ mạng (110xxxxx). Dạng của lớp C (network number. Network  
number.Network number.host). Nếu dùng dạng ký pháp thập phân cho phép 129  
đến 233 cho vùng đầu và từ 1 đến 255 cho các vùng còn lại.  
- Lớp D dùng để gửi IP datagram tới một nhóm các host trên một mạng.  
Tất cả các số lớn hơn 233 trong trường đầu là thuộc lớp D  
- Lớp E dự phòng để dùng trong tương lai  
Như vậy địa chỉ mạng cho lớp: A: từ 1 đến 126 cho vùng đầu tiên, 127 dùng  
cho địa chỉ loopback, B từ 128.1.0.0 đến 191.255.0.0, C từ 192.1.0.0 đến  
233.255.255.0  
Ví dụ:  
192.1.1.1 địa chỉ lớp C có địa chỉ mạng 192.1.1.0, địa chỉ host là 1  
200.6.5.4 địa chỉ lớp C có địa chỉ mạng 200.6.5, địa chỉ mạng là 4  
12  
150.150.5.6 địa chỉ lớp B có địa chỉ mạng 150.150.0.0, địa chỉ host là 5.6  
9.6.7.8 địa chỉ lớp A có địa chỉ mạng 9.0.0.0, địa chỉ host là 6.7.8  
128.1.0.1 địa chỉ lớp B có địa chỉ mạng 128.1.0.0, địa chỉ host là 0.1  
Subneting  
Trong nhiều trường hợp, một mạng có thể được chia thành nhiều mạng con  
(subnet), lúc đó có thể đưa thêm các vùng subnetid để định danh các mạng con.  
Vùng subnetid được lấy từ vùng hostid, cụ thể đối với 3 lớp A, B, C như sau:  
Ví dụ:  
17.1.1.1 địa chỉ lớp A có địa chỉ mạng 17, địa chỉ subnet 1, địa chỉ host 1.1  
129.1.1.1 địa chỉ lớp B có địa chỉ mạng 129.1, địa chỉ subnet 1, địa chỉ host 1.  
1.2.2. Chia mạng con (subnetting)  
Giả sử ta phải tiến hành đặt địa chỉ IP cho hệ thống có cấu trúc như sau:  
Theo hình trên, ta bắt buộc phải dùng đến tất cả là sáu đường mạng riêng  
biệt để đặt cho hệ thống mạng của mình, mặc dù trong mỗi mạng chỉ dùng đến vài  
địa chỉ trong tổng số 65534 địa chỉ hợp lệ, đó là một sự phí phạm to lớn. Thay vì  
13  
vậy, khi sử dụng kỹ thuật chia mạng con, ta chỉ cần sử dụng một đường mạng  
150.150.0.0 và chia đường mạng này thành sáu mạng con theo hình bên dưới:  
Rõ ràng khi tiến hành cấp phát địa chỉ cho các hệ thống mạng lớn, người ta  
phải sử dụng kỹ thuật chia mạng con trong tình hình địa chỉ IP ngày càng khan  
hiếm. Ví dụ trong hình trên hoàn toàn chưa phải là chiến lược chia mạng con tối  
ưu. Thật sự người ta còn có thể chia mạng con nhỏ hơn nữa, đến một mức độ  
không bỏ phí một địa chỉ IP nào khác.  
Xét về khía cạnh kỹ thuật, chia mạng con chính là việc mượn một số bit  
trong phần host_id ban đầu để đặt cho các mạng con. Lúc này, cấu trúc của địa chỉ  
IP gồm có ba phần: network_id, subnet_id và host_id. Số bit dùng cho phần  
subnet_id bao nhiêu là tuỳ thuộc vào chiến lược chia mạng con của người quản trị,  
có thể là một con số tròn byte (8 bit) hoặc một số bit lẻ vẫn được. Tuy nhiên  
subnet_id không thể chiếm trọn số bit có trong host_id ban đầu, cụ thể là (số bit  
làm subnet_id) ≤ (số bit làm host_id)-2.  
Số lượng host trong mỗi mạng con được xác định bằng số bit trong phần  
host_id; 2x – 2 là số địa chỉ hợp lệ có thể đặt cho các host trong mạng con.  
14  
Tương tự, số bit trong phần subnet_id xác định số lượng mạng con. Giả sử số bit  
là y ¬ 2y – 2 là số lượng mạng con có được (trường hợp đặc biệt thì có thể sử dụng  
được 2y mạng con).  
Một số khái niệm mới:  
- Địa chỉ mạng con (địa chỉ đường mạng): bao gồm cả phần  
network_id và subnet_id, phần host_id chỉ chứa các bit 0. Theo hình bên trên  
thì ta có các địa chỉ mạng con sau: 150.150.1.0, 150.150.2.0, …  
- Địa chỉ broadcast trong một mạng con: Giữ nguyên các bit dùng làm địa  
chỉ mạng con, đồng thời bật tất cả các bit trong phần host_id lên 1. Ví dụ địa chỉ  
broadcast của mạng con 150.150.1.0 là 150.150.1.255.  
- Mặt nạ mạng con (subnet mask): giúp máy tính xác định được địa chỉ  
mạng con của một địa chỉ host. Để xây dựng mặt nạ mạng con cho một hệ  
thống địa chỉ, ta bật các bit trong phần network_id và subnet_id lên 1, tắt các  
bit trong phần host_id thành 0. Ví dụ mặt nạ mạng con dùng cho hệ thống mạng  
trong hình trên là 255.255.255.0.  
Vấn đề đặt ra là khi xác định được một địa chỉ IP (ví dụ 172.29.8.230) ta  
không thể biết được host này nằm trong mạng nào (không thể biết mạng này có  
chia mạng con hay không, và nếu có chia thì dùng bao nhiêu bit để chia). Chính vì  
vậy khi ghi nhận địa chỉ IP của một host, ta cũng phải cho biết subnet mask là bao  
nhiêu (subnet mask có thể là giá trị thập phân, cũng có thể là số bit dùng làm  
subnet mask).  
+ Ví dụ địa chỉ IP ghi theo giá trị thập phân của subnet mask là  
172.29.8.230/255.255.255.0  
+ Hoặc địa chỉ IP ghi theo số bit dùng làm subnet mask là 172.29.8.230/24.  
2. Hệ điều hành Windows server  
2.1. Các phiên bản của Windows  
Windows NT Server  
Microsoft đã sử dụng thương hiệu “NT” cho hệ điều hành Windows thương  
mại của mình trong suốt những năm 1990. Có một số phiên bản của hệ điều hành  
với tên gọi NT.  
15  
Windows NT Advanced Server 3.1  
Phiên bản đầu tiên của hệ thống là Windows NT Advanced Server 3.1, được  
phát hành vào năm 1993. Đây là hệ thống 32-bit, có phiên bản dành cho thiết bị  
đầu cuối và một phiên bản khác dành cho máy chủ. Phiên bản máy chủ được phát  
triển thành dòng sản phẩm Windows Server. Việc tách ra phiên bản máy chủ  
chuyên dụng của hệ điều hành từ phiên bản NT tiêu chuẩn giải thích lý do tại sao  
không bao giờ có Windows NT Server phiên bản 1.  
Windows NT Server 3.5  
Năm 1994, Microsoft đã giới thiệu Windows Server 3.5. Phiên bản này cho  
phép kết nối liên thông với các hệ thống Unix và Novell Netware. Vào thời điểm  
đó, Windows Server là một tên tuổi mới trên thị trường và hầu hết các mạng đều  
chạy trên máy chủ Unix hoặc Novell. Vì vậy, khả năng tương thích với hai hệ  
thống này là điều cần thiết để Windows Server được các doanh nghiệp sử dụng  
mạng chấp nhận.  
Windows NT Server 3.51  
Năm 1995, Microsoft đã cải thiện rất nhiều giao diện PC Windows với  
Windows 95. Hãng này cũng tạo ra Windows NT Server 3.51 để quản lý các máy  
tính chạy Windows 95. Hệ thống máy chủ có được khả năng quản lý giấy phép  
phần mềm cho máy khách, cũng như cài đặt, cập nhật Windows 95 và yếu tố của  
hệ điều hành qua mạng.  
Windows NT Server 4.0  
16  
Đến năm 1996, Windows NT Server đã mang nét đặc trưng trong giao diện  
của Windows 95, thông qua việc phát hành Windows NT Server 4.0. Phiên bản hệ  
điều hành này bao gồm IIS 2.0 miễn phí. Internet Information Server (IIS hay máy  
chủ thông tin Internet) là hệ thống máy chủ Web của Microsoft, ngày nay là phần  
mềm máy chủ Web hàng đầu trên thế giới, cạnh tranh trực tiếp với đối thủ hàng  
đầu Apache HTTP Server. IIS chỉ vượt qua Apache trở thành máy chủ Web được  
cài đặt rộng rãi nhất vào năm 2018. Tức là Microsoft đã phải mất 22 năm (kể từ  
khi bắt đầu tích hợp IIS ) để buộc hệ thống Apache miễn phí nhường vị trí số 1.  
Sự phức tạp ngày càng cao của các mạng được thể hiện qua các cải tiến cho  
Windows NT Server, thông qua các gói dịch vụ bổ sung và việc tạo ra Windows  
NT Server Enterprise vào năm 1997. Những cải tiến này bao gồm tích hợp các dịch  
vụ mã hóa public key (khóa công khai) và quản lý hệ điều hành cho các cụm máy  
chủ. Hai tính năng bổ sung khác có tính đến những tương tác với các mạng bị tắc  
nghẽn là Transaction Server và Message Queue Server.  
Cải tiến cuối cùng cho Windows NT Server là sự ra đời của phiên bản  
Windows NT Server 4.0 Terminal Server vào năm 1998. Phiên bản này đã cải  
thiện khả năng kết nối với các hệ thống không phải Windows và cũng tạo ra một  
cầu nối từ các ứng dụng DOS 16bit để chúng có thể giao tiếp với môi trường  
Desktop 32bit.  
Sự phát triển của Windows Server  
Microsoft đã từ bỏ thương hiệu “NT” vào năm 2000 với việc phát hành  
Windows Server 2000. Từ đó trở đi, tên phiên bản của Windows Server được đặt  
theo năm phát hành.  
Windows Server 2000  
Các cải tiến đi kèm với Windows Server đã cung cấp cho hệ điều hành này  
nhiều tính năng mà mọi người vẫn sử dụng cho đến ngày nay. Các tính năng bao  
gồm hỗ trợ cho XML, tạo Active Server Pages (ASP) và sử dụng Active Directory  
để xác thực người dùng. Hệ điều hành Windows Server 2000 cũng giới thiệu khái  
niệm về các phiên bản phù hợp (tailored version), cũng như Windows Server tiêu  
chuẩn. Microsoft cũng đã phát hành Advanced Server và Datacenter Server.  
17  
Windows Server 2000 được viết lại và phát hành với tên gọi Windows  
Server 2003 nhằm mục đích giảm các sự kiện yêu cầu khởi động lại hệ thống. Tức  
là có thể cài đặt các bản sửa lỗi và cập nhật nhanh chóng mà không phải khởi động  
lại hệ thống. Microsoft cũng tăng cường các tính năng bảo mật cho hệ điều hành và  
đây là lần đầu tiên môi trường .NET được đưa vào hệ điều hành Windows Server.  
Windows Server 2003 bao gồm khái niệm về server role, cho phép hệ điều hành  
được điều chỉnh theo các tác vụ chuyên biệt cụ thể, chẳng hạn như máy chủ DNS.  
Cùng với phiên bản Standard, Advanced và Datacenter, Microsoft đã cung cấp  
phiên bản Windows Server 2003 Web. Một thời gian ngắn sau khi phát hành  
Windows Server 2003, Microsoft đã tạo ra một bản cập nhật chuyển đổi hệ thống  
sang môi trường chương trình 64bit.  
Windows Server 2003 R2  
Windows Server 2003 R2 ra mắt vào năm 2005. Khách hàng đã mua Windows  
Server 2003 được phép truy cập miễn phí phiên bản mới này. Tất cả doanh số của  
Windows Server 2003, từ khi phát hành phiên bản này, thực ra là Windows Server  
2003 R2.  
Những cải tiến cho hệ thống Windows Server R2 tập trung vào các vấn đề bảo mật.  
Xác thực người dùng được dựa trên Active Directory và vẫn được duy trì cho đến  
ngày nay. Tuy nhiên, Microsoft đã phát triển một tính năng bổ sung cho hệ thống  
xác thực này và được tích hợp vào R2. Tính năng mới này là Active Directory  
Federation Services. Mục đích của tiện ích mở rộng AD này là cho phép các dịch  
18  
vụ bên ngoài được bao gồm trong các quyền Single Sign On (xác thực một lần)  
được quản lý trong mạng.  
Một nâng cấp khác của Active Directory là chế độ Active Directory  
Application. Chế độ này cho phép người dùng tiếp cận được với các ứng dụng đã  
được xác minh thông qua AD, mà không bao gồm trực tiếp các quy trình xác thực  
của phần mềm đó vào AD.  
Gói R2 cũng cho phép thiết lập các chính sách bảo mật cho nhóm hệ thống  
thông qua Security Configuration Wizard. Các cải tiến R2 khác bao gồm nén dữ  
liệu tốt hơn để truyền file và quy trình nhân bản cho các mạng WAN multisite.  
Phiên bản tiếp theo của Windows Server mất ba năm để sẵn sàng ra mắt thị  
trường và nó bao gồm một cải tiến khác cho Active Directory. Microsof cũng đã  
thực hiện một số thay đổi cơ bản về cách dịch vụ mạng tương tác với tính năng hỗ  
trợ phần mềm của hệ điều hành.  
Một lợi ích lớn cho người dùng Windows Server trong phiên bản này là nó  
bao gồm hệ thống ảo hóa Hyper-V của Microsoft. Quyết định này có thể đã được  
đưa ra để nâng cao khả năng cạnh tranh của Microsoft trong lĩnh vực ảo hóa. Nhu  
cầu về một hệ thống ảo hóa đang ngày càng tăng trong lĩnh vực quản lý CNTT.  
Các tiện ích mới khác được tích hợp trong Windows Server 2008 là Event Viewer  
và Server Manager. Đây là những công cụ quản trị hệ thống hữu ích, cho phép các  
admin kiểm soát tốt hơn hoạt động của máy chủ.  
Server Core là một sản phẩm ngày càng quan trọng của Microsoft. Đó là  
phiên bản “trần” của phần mềm Windows Server và cho phép truy cập dòng lệnh.  
Nó có thể được chạy mà không cần GUI Desktop quen thuộc của môi trường  
Windows và ngày càng trở nên thu hút hơn đối với các quản trị viên hệ thống  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 103 trang Thùy Anh 12940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình nghề Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính - Quản trị mạng máy tính (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nghe_ky_thuat_sua_chua_lap_rap_may_tinh_quan_tri.pdf