Giảng dạy chuyên ngành kiến trúc trong kỷ nguyên công nghệ – thực trạng và giải pháp

Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
GIAÛNG DAÏY CHUYEÂN NGAØNH KIEÁN TRUÙC TRONG KYÛ  
NGUYEÂN COÂNG NGHEÄ – THÖÏC TRAÏNG & GIAÛI PHAÙP  
TS. VOÕ THÒ THU THUÛY  
ThS. BAÏCH VUÕ HOAØNG LAN  
TS. TRAÀN HÖÕU ANH TUAÁN  
TS. NGUYEÃN THÒ HAÏNH NGUYEÂN  
ThS. PHAN ÑÌNH XUAÂN VINH  
TS. VOÕ ANH TUAÁN  
ThS. NGUYEÃN HUY VAÊN  
ThS. LEÂ HOÀNG QUANG  
ThS. HUYØNH THÒ HOAØNG DUNG  
Tröôøng ÑH Kieán truùc TP. HCM  
1. Đặt vấn đề  
Giới thiệu  
Kỷ nguyên công nghệ và đặc biệt là công nghệ thông tin bắt đầu từ sự ra đời  
của máy tính cá nhân PC - IBM năm 1980 và sự bùng nổ của internet vào những năm  
1990 đã tác động to lớn đến mọi lĩnh vực hoạt động của con người, tạo nên những thay  
đổi to lớn hầu hết các mặt trong xã hội. Hoạt động dạy và học được xem như là một  
quá trình tương tác giữa người dạy và người học trong đó người dạy có vai trò phối  
hợp, điều phối và cùng người học tìm hiểu những kỹ năng mới, để khám phá kho tàng  
kiến thức phong phú của nhân loại, vì vậy công nghệ thông tin góp phần đổi mới và  
thúc đẩy mạnh mẽ việc dạy và học. Giáo dục Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập  
với thế giới, do vậy đòi hỏi sự đổi mới sâu rộng và toàn diện về nội dung lẫn phương  
pháp dạy học.  
Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh là một trong những trường đại học  
có bề dày lịch sử lâu đời và uy tín của cả nước trong đào tạo các ngành chuyên môn về  
lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, quy hoạch, kỹ thuật hạ tầng đô thị và mỹ thuật công  
nghiệp. Đặc thù của nhiều ngành đào tạo trong trường thiên về mỹ thuật, do vậy công  
nghệ thông tin được xem công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho việc dạy và học trong thời gian  
vừa qua. Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, chúng tôi cố gắng đánh giá lại những mặt  
tích cực và hạn chế của việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học chuyên ngành  
kiến trúc; từ đó đưa ra những đề xuất có liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin  
vào quá trình dạy và học tại trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể  
là làm rõ một số vấn đề sau đây:  
103  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Vai trò của công nghệ thông tin (CNTT) đối với quá trình dạy học.  
Sơ lược việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học chuyên ngành  
kiến trúc  
Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học chuyên ngành kiến  
trúc tại trường Đại học Kiến Trúc thành phố Hồ Chí Minh  
Một số giải pháp kiến nghị.  
Công nghệ thông tin là gì?  
Công nghệ thông tin được hiểu như là một sự tích hợp của các phương tiện xử  
lý dữ liệu, lưu giữ, truyền và phản ánh các sản phẩm thông tin, được cấu thành từ ba  
bộ phận chính:  
Bộ phận công nghiệp truyền thông: mạng điện thoại, mạng vệ tinh, di  
dộng, internet…  
Bộ phận công nghiệp máy tính, thiết bị điện tử, công nghệ phần mềm  
Công nghiệp nội dung, thông tin: chuyên cung cấp thông tin đa phương tiện  
cho công nghiệp truyền thông.  
Việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học là quá trình sử dụng các phương  
tiện để hỗ trợ người dạy và học khả năng nghe nhìn, các công cụ hỗ trợ tính toán xử lý  
số liệu, các mô hình ảo, phòng thí nghiệm ảo… đặc biệt là giúp họ khả năng tiếp cận  
một khối lượng lớn thông tin và kiến thức phong phú và đa dạng trên internet.  
Vai trò của công nghệ trong hoạt động dạy  
Ngày nay, CNTT giúp người dạy có thêm nhiều phương tiện, công cụ để mở  
rộng khả năng nghe, nhìn và tiếp thu cho bài giảng. Các phần mềm như: MS  
Powerpoint, MS. Excel, Hot Potatoes, Violet… là công cụ hỗ trợ cho người dạy thiết  
kế các bài giảng trực quan, sinh động hơn và điều này tác dụng trực tiếp tới người học,  
giúp nâng cao hiệu quả và đem lại sự thay đổi đáng kể về phương pháp truyền đạt  
trong dạy học.  
CNTT và mạng internet giúp người dạy có thể tìm kiếm, cập nhật thông tin một  
cách nhanh chóng, dễ dàng, điều này đóng góp một phần không nhỏ vào việc đổi mới  
nội dung giảng dạy, nâng cao tiềm lực cho người dạy. Bên cạnh đó, giáo viên còn dễ  
dàng tiếp cận với đề cương, bài giảng của các chương trình giáo dục tiên tiến trên thế  
giới, tạo điều kiện cho việc cập nhật và khai thác để nâng cao hiệu quả giảng dạy.  
CNTT và mạng internet còn là phương tiện, cầu nối giúp người dạy dễ dàng  
tiếp cận, tương tác với người học. Những thông tin, phản hồi nhanh chóng từ người  
học sẽ hỗ trợ tích cực cho người dạy điều chỉnh và cải tiến chương trình, phương pháp  
truyền đạt… một cách hiệu quả hơn.  
Tuy nhiên, CNTT làm cho người dạy phải đối mặt với một số các thử thách và  
khó khăn mới, như : giáo viên phải tự trau dồi khả năng sử dụng máy tính, các phần  
104  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
mềm… để vận dụng CNTT một cách thành thạo, có hiệu quả trong việc khai thác  
thông tin, thiết kế và trình bày bài giảng; các kiến thức về luật bản quyền cũng cần  
được người dạy nắm vững để có thể sử dụng, khai thác nguồn tri thức to lớn của nhân  
loại thông qua mạng internet một cách hợp lệ.  
Vai trò của công nghệ trong hoạt động học  
Công nghệ thông tin góp phần nâng cao khả năng học độc lập, chủ động và hiệu  
quả đổi với người học. Giao tiếp qua thư điện tử (email) giúp người học chủ động liên  
lạc với người dạy và các bạn học một cách hiệu quả. Thông qua email, người học có  
thể có nhiều thời gian để trình bày một cách cụ thể và thấu đáo câu hỏi của mình trước  
khi gửi đi để tìm kiếm thông tin chia sẽ hay sự giúp đỡ.  
Công nghệ thông tin giúp người học có thể tìm hiểu và lựa chọn nội dung,  
phương pháp học phù hợp với bản thân mình. Việc tiếp cận được với thông tin sớm  
giúp người học có thể tránh việc chọn các môn học, ngành học không phù hợp với khả  
năng hay hoàn cảnh của mình. Người học có thể chủ động trong việc xây dựng chương  
trình học phù hợp với mình dưới sự giúp đỡ của người dạy hay nhà trường.  
Công nghệ thông tin cho phép người học có thể học ở mọi lúc mọi nơi, không  
phụ thuộc vào giảng đường như phương pháp học truyền thống. Online learning hay  
e-learning là một dạng học trực tuyến giúp người học có thể nâng cao trình độ trong  
khi họ không thể tham gia học tập trung. Với công nghệ thông tin, người học có thể  
tìm kiếm các thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả. Những thông tin trên  
internet thường là dạng đa phương tiện bao gồm hình ảnh, âm thanh, mô hình 3D…  
cho phép sự chuyển tải thông tin hết sức sống động và ấn tượng. Công nghệ thông tin  
giúp trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết để họ có thể làm việc một cách  
hiệu quả trong tương lai như: đánh máy, thuyết trình…  
2. Sơ lược việc ứng dụng công nghệ thông tin với việc giảng dạy chuyên ngành  
kiến trúc tại trường Đại học Kiến trúc TP. HCM  
CNTT hôm nay đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng  
động mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin. ĐH Kiến  
trúc TP.HCM là một đơn vị đào tạo chuyên ngành kiến trúc cho ra những KTS, Kỹ sư,  
Cử nhân nghệ thuật… đã sớm tiếp cận, khai thác triệt để và không thể tách khỏi những  
thành tựu của CNTT để đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học.  
Ngoài các trang thiết bị và phần mềm thông dụng đang được ứng dụng trong  
việc dạy và học như những trường đại học cao đẳng khác, với đặc thù đào tạo giảng  
dạy các môn chuyên ngành, trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh đã đưa  
vào giảng dạy các công cụ  
+ Phần mềm AutoCAD: là phần mềm hỗ trợ vẽ kỹ thuật trên máy tính. Nói  
một cách khác, AutoCAD là một công cụ hỗ trợ hình thành, thiết kế, trình bày, xử lý  
105  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
bản vẽ kỹ thuật trên máy tính. Cho đến nay, AutoCAD là phần mềm được ứng dụng  
phổ biến nhất (khoảng trên 90%) trong việc thiết kế bản vẽ kiến trúc.  
+ Revit Architecture: Đây là phần mềm rất mạnh cho thiết kế 3D phục vụ cho  
thiết kế kiến trúc, xây dựng. Nó cho phép quá trình thiết kế để trở thành bán tự động;  
có nghĩa là trong khi thực hiện kế hoạch 2D, nó sẽ tự động tạo ra xem 3D, độ cao, các  
phần và lịch trình - tiết kiệm thời gian. Đó là một cách mạnh mẽ, chính xác và hiệu  
quả để thiết kế, rất phù hợp với các SV kiến trúc, xây dựng  
Hình 1. Giao diện autocad  
Hình 2. Revit Architecture  
Autodesk 3ds Max: đã từng được biết đến với tên 3DStudio MAX là một phần  
mềm đồ họa vi tính ba chiều (3D graphics application). Trong xây dựng và kiến trúc  
phần mềm 3D Max là một trong những phần mềm phổ biển và đắc lực cho các kiến  
trúc sư và các nhà thiết kế nội thất. Phần mềm này được sử dụng để trình bày ý tưởng  
thiết kế kiến trúc dưới dạng 3D của các dự án xây dựng, thiết kế nội thất của khoa  
Kiến trúc nội thất cùng các phần mềm Vray, Scketchup…  
Hình 4. Phần mềm xử lý hình ảnh  
Hình 3. Phần mềm  
Photoshop  
3DStudio MAX  
106  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Adobe Photoshop (thường được gọi là Photoshop) là một phần mềm chỉnh sửa  
đồ họa được phát triển và phát hành bởi hãng Adobe Systems ra đời vào năm 1988  
trên hệ máy Macintosh. Photoshop được đánh giá là phần mềm dẫn đầu thị trường về  
sửa ảnh bitmap và được coi là chuẩn cho các ngành liên quan tới chỉnh sửa ảnh, đồ  
họa. Được dùng cho dạy và học khoa MTCN cùng các phần mềm đồ họa Inlustrator,  
Corel drow, In design, After Effect…  
Đội ngũ giảng viên của trường phần lớn trẻ trung, năng động hầu như nắm bắt,  
đón đầu CNTT sử dụng thành thạo và khai thác tốt vào trong việc sọan giáo án giảng  
dạy, nghiên cứu khoa học cũng sửa bài, đánh giá kết quả đồ án sinh viên. Tuy nhiên,  
không tránh khỏi những hạn chế tồn tại như do sự thay đổi quá nhanh của thiết bị cũng  
như phần mềm CNTN mà việc nâng cấp, cập nhật chưa kịp thời, đầu tư trang bị CNTT  
chưa khai thác, tận dụng hết công suất. Việc ỷ lại vào các giáo án điện tử, các phần  
mềm trình chiếu cũng khiến giảng viên dần hạn chế kỹ năng nói và vẽ liền tay truyền  
thống vốn truyền nhiều cảm hứng và lý thú cho người học, điều này cần có sự điều tiết  
đan xen hợp lý.  
3. Thực trạng công tác dạy và học trong kỷ nguyên công nghệ tại trường ĐH  
Kiến trúc TPHCM  
Sau 6 năm triển khai thực hiện giảng dạy chuyên ngành Kiến trúc theo học chế  
Tín chỉ, từ các cấp quản lý cho đến mỗi giảng viên trường ĐH Kiến trúc TP. HCM  
luôn đánh giá, hiệu chỉnh, bổ sung bài giảng, nội dung môn học mình phụ trách trong  
từng năm học. Các Hội thảo và bộ phận đánh giá ngoài cũng đã và đang xúc tiến nhiều  
hoạt động đánh giá, nhằm có được những cơ sở dữ liệu trung thực để điều chỉnh, bổ  
sung chương trình học hiệu quả, tích cực và đáp úng “chuẩn đầu ra”, đáp ứng đòi hỏi  
của xã hội và yêu cầu của thời đại với sản phẩm đào tạo. Chúng tôi nhận thức rõ: kỷ  
nguyên công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến “người học” và quá trình giảng dạy,  
những giá trị và phương thức truyền thống trong giảng dạy đang đứng trước thách  
thức, đòi hỏi sự chuyển biến của người dạy.  
Một trong những tác nhân chính có ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy chuyên  
ngành Kiến trúc tại Việt Nam cũng như trên thế giới là Công nghệ thông tin và các  
phương tiện truyền thông, thể hiện cụ thể ở hai hoạt động sau :  
Khả năng tìm kiếm trên internet về các xu hướng kiến trúc mới, công nghệ  
mới và vật liệu mới, các công trình tiêu biểu và các tác giả nổi bật thời gian gần đây  
Sử dụng các phần mềm hỗ trợ cho việc nghiên cứu ý tưởng và thể hiện đồ án  
như: Auto CAD ( Computer Aided Design ), Autodesk Revit Building, Sketchup Pro,  
3D Max Studio, Photoshop,..v…v.  
Thuận lợi  
107  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Giúp các kiến trúc sư và sinh viên kiến trúc nâng cao kiến thức, cập nhật nhanh  
chóng các nhân tố mới từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Máy tính và các phần  
mềm đồ họa hỗ trợ hiệu quả cho các học phần thực hành đồ án kiến trúc: nghiên cứu  
phác thảo ý tưởng, thể hiện đồ án, quản lý đồ án, in ấn nộp bài và lưu trữ. Khuyến  
khích sinh viên sử dụng công nghệ mới, vật liệu mới vào đồ án.  
Hỗ trợ khai thác các yếu tố văn hóa Việt Nam và phương Đông vào thiết kế.  
Nâng cao kiến thức thiết kế các thể loại công trình mới theo xu hướng phát triển bền  
vững, tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là công trình cao tầng. Kỹ năng sử dụng thành  
thạo các phần mềm hỗ trợ thiết kế giúp sinh viên dễ dàng xin việc ở các công ty tư vấn  
thiết kế sau khi tốt nghiệp.  
Hạn chế  
Đa số sinh viên bị lệ thuộc quá nhiều vào các phần mềm, xem đó là mục tiêu  
cần phải đạt được để xin việc làm, trong khi về bản chất phần mềm chỉ là công cụ hổ  
trợ thiết kế. Một số lượng không ít sinh viên chỉ mới làm quen và biết sử dụng phần  
mềm ở trình độ cơ bản, chưa thuần thục các kỹ năng đồ họa vi tính nhưng đã nóng vội  
vận dụng vào đồ án của mình dẫn đến kết quả học tập chưa tốt.  
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia nước ngoài thì sinh viên trường đại học  
Kiến trúc TP.HCM hiện đang có thế mạnh về phác thảo ý tưởng bằng vẽ tay trong quá  
trình tìm ý. Kỹ năng phác thảo là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo Kiến  
trúc sư vì nó giúp tôi luyện và xây dựng cho người học ý thức về tỷ lệ - hình khối –  
dây chuyền là những khái niệm căn bản cần thiết của một người làm thiết kế. Nếu  
đánh mất kỹ năng này, các kiến trúc sư tương lai sẽ gặp khó khăn trong quá trình làm  
nghề do bị phụ thuộc vào máy tính và phần mểm, từ đó sẽ tự hạn chế khả năng sáng  
tạo của mình.  
Đánh giá những tác động, ảnh hưởng của kỷ nguyên công nghệ đến hoạt  
động học tập & giảng dạy chuyên ngành Kiến trúc  
Như đã trình bày ở trên, kỷ nguyên công nghệ có những tác động to lớn, làm  
thay đổi mạnh mẽ nhân tố “người học” trên cả 3 phương diện: Kiến thức – Kỹ năng –  
Thái độ trong học tập. Đó chính là thách thức với hoạt động giảng dạy, nhất là trong  
chuyên ngành đặc thù như Kiến trúc. Chính vì vậy, vai trò “người dạy” trong bối cảnh  
đó cũng cần phải có những biến chuyển tích cực, hiệu quả, những thay đổi cơ bản  
mang tính thời đại để đáp ứng yêu cầu của “người học” trong kỷ nguyên công nghệ.  
- Đối với sinh viên và hoạt động học tập  
Theo đánh giá của chúng tôi, mặc có đặc thù riêng, mục tiêu đào tạo chuyên  
ngành Kiến trúc cũng xây dựng trên 3 tiêu chí và xét trên 3 tiêu chí này, kỷ nguyên  
công nghệ đã và đang tác động, ảnh hưởng như sau:  
108  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Yêu cầu  
Tích cực  
Hạn chế  
Nguyên nhân  
Kiến thức mở rộng đa Thiếu định hướng trong Hạn chế của chương  
chiều, không phụ thuộc chọn lọc thông tin và tính trình: phát triển bài  
giáo trình, bài giảng của khoa học, chuẩn xác của giảng – tài liệu tham  
thầy cô  
thông tin, kiến thức trên khảo,  
xây  
dựng  
các nguồn mở  
nguồn tài nguyên học  
tập bằng CNTT  
Kiến thức  
(Nhận thức)  
Lĩnh hội nguồn tài  
nguyên vô tận từ internet  
và thế giới rộng lớn do  
công nghệ mang lại  
Định hướng của  
người dạy với việc  
tiếp cận kiến thức từ  
CNTT  
Sử dụng hiệu quả các Bị chi phối bởi công nghệ, Chưa được trang bị  
phần mềm trong trình phụ thuộc và các phần tốt phương pháp  
bày thảo luận, seminar  
mềm thiết kế, hạn chế nghiên cứu và phát  
trong khả năng vận dụng triển kỹ năng thực  
kiến thức lý thuyết vào hành  
Ứng dụng công nghệ  
thông tin (phần mềm  
chuyên ngành) trong học  
thực hành  
Thiếu hiểu biết về  
Kỹ năng  
tập, thiết kế và trình bày Vấn đề bản quyền trong bản quyền, hạn chế  
đồ án  
sử dụng, khai thác CNTT khả năng tài chính  
Khai thác và vận dụng  
các công nghệ mới trong  
nghiên cứu và thiết kế  
Tích cực trong tiếp cận Còn tồn tại hiện tượng sao Chưa xác định rõ mối  
cái mới, cập nhật thông chép, ăn cắp ý tưởng quan hệ và nội hàm  
tin, tư liệu, nguồn dữ liệu trong thiết kế từ nhiều các khái niệm “kế  
mở  
nguồn, nhiều mức độ khác thừa” và “sao chép”  
nhau  
trong môi trường học  
sáng tạo. Sự “quyến  
rũ” của công nghệ  
mới và các thiết kế  
sáng tạo có ảnh  
hưởng lớn khi tiếp  
cận. Vai trò của  
người dạy trong triển  
khai công tác sư  
phạm và quản lý  
người học  
Chủ động trong tìm kiếm  
thông tin, tài liệu gắn với Còn chịu tác động bởi  
học phần / chương trình mạng xã hội và các tiện  
Thái độ  
học  
ích giải trí do công nghệ  
mang lại  
Có ý thức bám sát thực  
tiễn thông qua việc tiếp  
nhận cái mới, có tư duy  
phản biện trước thông tin  
một chiều  
- Đối với giảng viên và hoạt động giảng dạy  
109  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Như đã trình bày ở mục 3.1.2., trong đào tạo chuyên ngành Kiến trúc tại trường  
ĐH Kiến trúc TP. HCM, 3 tố chất quan trọng đòi hỏi với người dạy: bên cạnh tố chất  
của một “nhà sư phạm”, đòi hỏi tố chất của “chuyên gia” và “nhà khoa học”. Kỷ  
nguyên công nghệ có những tác động, ảnh hưởng như sau:  
Yêu cầu  
Tích cực  
Hạn chế  
Nguyên nhân  
Có nền tảng kiến thức cơ Việc ứng dụng CNTT vào Cơ sở vật chất, tài  
bản, hàn lâm; thường hoạt động giảng dạy chưa nguyên CNTT ứng  
xuyên cập nhật nội dung, đồng đều, toàn diện trong dụng cho giảng dạy  
bổ sung kiến thức cho bài đội ngũ giảng viên  
giảng trong môn học phụ  
trách (thông qua CNTT)  
còn hạn chế  
Hàm lượng khai thác Chương trình học và  
CNTT trong từng giờ phân bố thời gian, sĩ  
Nhà sư  
phạm  
Tiếp cận nhanh với công giảng chưa cao và hiệu số lớp học chưa hợp  
nghệ, có phương pháp quả, trong từng môn học lý  
thích hợp ứng dụng trong và toàn bộ chương trình  
giảng dạy và mở rộng học  
phạm vi kiến thức bài  
giảng  
Vững vàng trong hoạt Các giảng viên trẻ còn Chính sách hỗ trợ và  
động thực tiễn nghề hạn chế trong hoạt động bồi dưỡng cho đội  
nghiệp, khai thác công nghề nghiệp thực tiễn, ngũ giảng viên trẻ,  
nghệ mới và ứng dụng mặc dù có khả năng tiếp phát huy tính tích cực  
công nghệ thông tin trong cận và sử dụng công nghệ về mặt CNTT để hình  
Chuyên gia  
vai trò chuyên gia trong nhanh chóng  
từng lĩnh vực  
thành tố chất chuyên  
gia, đảm bảo tính kế  
thừa  
Có tư duy phản biện do Trong một vài trường Cái “tôi” trong nghề  
được tiếp cận thông tin hợp, người dạy còn hạn nghiệp và hạn chế khi  
sâu, rộng, đa chiều để chế trong việc thể hiện tư tiếp cận công nghệ  
truyền đạt cho người học duy khoa học, phản biện mới, bao gồm CNTT  
Nhà khoa  
với các kết quả nghiên  
cứu của sinh viên do thiếu  
nghiên cứu tiên tiến khi  
Tiếp cận phương pháp  
học  
tương tác với công nghệ  
mới  
giải quyết những vấn đề  
khoa học và hướng dẫn  
sinh viên  
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi sẽ đề xuất giải pháp phát huy hiệu quả và  
khắc phục hạn chế của công tác giảng dạy trong kỷ nguyên công nghệ ở phần sau.  
110  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
4. GIẢI PHÁP  
Đối với ngành Kiến trúc, một dạng của trường nghề có trình độ cao, người học  
chủ yếu tiếp cận thông tin thông qua các giác quan. Vì thế, định hướng để sinh viên  
tiếp cận với hình ảnh (các công trình kiến trúc, cảnh quan…) phù hợp với từng phần  
của môn học là vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng.  
Công cụ, thiết bị cần thiết  
Để quá trình dạy và học diễn ra thuận lợi. Sinh viên và giảng viên đều phải  
thống nhất với nhau về các phần mềm được chọn để ứng dụng và máy móc thiết bị cần  
thiết như laptop và các thiết bị dụng cụ khác như bút vẽ…  
Một số phương pháp giúp sinh viên hoạt động chủ động với sự hỗ trợ của  
công nghệ thông tin  
- Phương pháp động não (Brainstorming)  
Phương pháp Động não được định nghĩa là cách thức vận dụng kinh nghiệm và  
sáng kiến mỗi người trong thời gian tối thiểu tùy vấn đề đưa ra để có được tối đa  
những dữ kiện tốt nhất (Osborn, 1963). Động não là phương pháp giúp sinh viên  
trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn  
đề nào đó, trong đó có nhiều ý tưởng sáng tạo. Thực hiện phương pháp này, giảng  
viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận. Phương  
pháp này có thể đáp ứng được chuẩn đầu ra theo đề cương CDIO như: Tư duy sáng  
tạo, Giải pháp và đề xuất.  
- Phương pháp Suy nghĩ - Từng cặp - Chia sẻ (Think-pair-share)  
Phương pháp này được thực hiện bằng cách cho các sinh viên cùng đọc tài liệu  
hoặc suy nghĩ về một chủ đề, sau đó các sinh viên ngồi bên cạnh nhau có thể trao đổi  
với nhau về ý kiến và kinh nghiệm của mỗi người một khoảng thời gian nhất định  
(khoảng vài phút), sau đó chia sẻ với cả lớp (Lyman, 1987). Phương pháp này có ưu  
điểm là rất dễ dàng thực hiện mọi cấu trúc lớp học, ai cũng có thể tham gia được vào  
việc chia sẻ ý kiến của mình, tạo được sự tự tin cho người học dám nói ra những suy  
nghĩ của mình (đây là điểm yếu đối với đa số các sinh viên Việt Nam), giúp các sinh  
viên tập trung vào chủ đề đang học, biết mình đang học gì và đã hiểu vấn đề đến  
đâu, thậm chí nêu lên cả những vấn đề mới cho bài học. Phương pháp này có thể giúp  
đạt được chuẩn đầu ra theo đề cương CDIO như: Cấu trúc giao tiếp; Tư duy suy xét,  
phản biện (critical thinking).  
- Phương pháp học dựa trên vấn đề (Problem based learning)  
Mục tiêu của học dựa trên vấn đề (được định nghĩa là việc nghiên cứu có  
chiều sâu về một chủ đề học tập) là để học nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải là  
chỉ tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra (Hmelo-  
111  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Silver, 2004). Trong phương pháp học dựa trên vấn đề, sinh viên vừa nắm được kiến  
thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội kiến thức đó, phát triển tư duy chủ  
động, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện  
kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh (Hmelo-Silver, 2004). Phương pháp  
này có thể giúp đạt được chuẩn đầu ra theo đề cương CDIO như: Xác định và hình  
thành vấn đề; Đề xuất các giải pháp; Trao đổi, phán xét, cân bằng trong hướng giải  
quyết.  
- Phương pháp hoạt động nhóm (Group based Learning)  
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 5 đến 7 người. Tùy mục đích, yêu  
cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được  
duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của môn học, được giao cùng một nhiệm  
vụ hay những nhiệm vụ khác nhau. Khi làm việc nhóm, các thành viên phải làm việc  
theo qui định do giảng viên đặt ra hoặc do chính nhóm đặt ra. Các thành viên đều phải  
làm việc chủ động, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn.  
Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi  
đua với các nhóm khác. Khi có một nhóm nào lên thuyết trình, các nhóm còn lại  
phải đặt ra các câu hỏi phản biện hoặc câu hỏi đề nghị làm sáng tỏ vấn đề. Phương  
pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh  
nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những  
điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu  
ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn  
nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giảng viên. Phương pháp này có thể  
giúp đạt được chuẩn đầu ra theo đề cương CDIO như: Kỹ năng làm việc theo nhóm,  
kỹ năng giao tiếp.  
5. Kết luận  
Trên đây là những phân tích về sự ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến hoạt  
động dạy – học, đến chất lượng đào tạo của các trường Đại học nói chung và của  
trường Đại học Kiến trúc TP.HCM nói riêng, cũng như một số giải pháp và kiến nghị  
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học trong giai đoạn sắp tới. Nhưng để  
thực hiện được những điều đó đòi hỏi phải có sự quyết tâm, nhiệt tình của đội ngũ  
giảng viên cùng với sự hỗ trợ về cơ sở vật chất từ phía nhà trường. Với sự hình thành,  
phát triển và ngày càng phổ biến của mạng internet đã xóa dần khoảng cách địa lý,  
thời gian, lứa tuổi, giới tính, … giữa giảng viên và sinh viên, giữa sinh viên và sinh  
viên, giữa người với người. Do đó, đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp  
giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục đại học không chỉ là nhiệm vụ của riêng một  
cá nhân, một tập thể mà là nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn thể cán bộ viên chức của  
tất cả các trường đại học.  
112  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM đang nỗ lực, cố gắng để ngày càng hoàn  
thiện vốn tài liệu, cơ sở vật chất, trang thiết bị và xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy  
có trình độ chuyên môn cao và nắm vững các phương pháp giảng dạy trong thời kỳ  
phát triển của công nghệ thông tin, đáp ứng được nhu cầu của người học trong thời kỳ  
phát triển. Giảng viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị tư liệu cần  
thiết cung cấp cho sinh viên. Giảng viên ngày nay là người lựa chọn các hoạt động và  
cung cấp các tài liệu cho sinh viên hoạt động, giới thiệu nội dung hoạt động và giao  
nhiệm vụ cho sinh viên. Tạo điều kiện cho sinh viên tiến hành công việc học tập của  
mình. Giảng viên giúp cho sinh viên hoàn chỉnh kiến thức mà họ tự phát hiện và thu  
nhận được./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. A.W. (Tony) Bates (2015). Teaching in a Digital Age. Website:  
2. Phạm Phú Cường. ( 2013 ). Đào tạo thiết kế kiến trúc Việt nam dưới ảnh hưởng của  
các nhân tố mới. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học trường đại học Kiến trúc TP.HCM lần  
VII.  
3. Phan Tấn Bình. ( 2013 ). Vấn đề đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ  
cho yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học trường đại  
học Kiến trúc TP.HCM lần VII.  
4. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 24 (2008) 237-242  
5. Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy (2010). Giới Thiệu  
Một Số Phương Pháp Giảng Dạy Cải Tiến Giúp Sinh Viên Học Tập Chủ Động Và  
Trải Nghiệm, Đạt Các Chuẩn Đầu Ra Theo CDIO, Trung tâm Nghiên Cứu Cải Tiến  
Phương Pháp Dạy và Học ĐH Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia  
TP.HCM  
6.Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, “Lịch sử hình thành và phát triển”, webpage  
http://www.uah.edu.vn, accessed date 20/06/2016  
113  
pdf 11 trang Thùy Anh 19540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giảng dạy chuyên ngành kiến trúc trong kỷ nguyên công nghệ – thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiang_day_chuyen_nganh_kien_truc_trong_ky_nguyen_cong_nghe_t.pdf