Estimation of transmission range of a dual - hop lora network under interference effects

Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
Transport and Communications Science Journal  
ESTIMATION OF TRANSMISSION RANGE OF A DUAL-HOP  
LoRa NETWORK UNDER INTERFERENCE EFFECTS  
Co Nhu Van, Do Viet Ha, Nguyen Thanh Hai  
University of Transport and Communications, No 3 Cau Giay Street, Hanoi, Vietnam  
ARTICLE INFO  
TYPE: Research Article  
Received: 27/11/2020  
Revised: 28/01/2021  
Accepted: 17/02/2021  
Published online: 15/04/2021  
* Corresponding author  
Email: [email protected]; Tel: 0987959637  
Abstract. LoRaWan (long range wide area networks) have been rapidly developed and  
implemented in recent years. By providing outstanding advantages such as low cost, low power  
consumption, high reliability, large number of connected devices, and wide coverage,  
LoRaWan is especially suitable for IoT (Internet-of-things) applications. This paper focuses on  
estimating the maximal transmission range and relay location of a dual-hop LoRa network.  
Unlike other studies that only consider the path-loss and AWGN in the range estimation, this  
work takes into account the effects of both co-SF (Spreading Factor) and inter-SF interference  
when evaluating the system performance. The SNRs (Signal-to-Noise Ratio) and SIRs (Signal-  
to-Interference Ratio) of each transmission hop are derived by using Rayleigh fading channel  
model that represents the path-loss, shadowing effect, and multipath fading. The maximal  
transmission range and the relay location are estimated in order to meet the SIR and SNR  
threshold requirements of LoRa networks. The numerical results of this paper can be used as a  
guideline for planning and designing LoRa networks.  
Keywords: Dual-hop LoRa, SIR, co-SF, inter-SF.  
©2021 University of Transport and Communications  
264  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 264-276  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải  
ƯỚC LƯỢNG CỰ LY TRUYỀN DẪN TRONG MẠNG LoRa HAI  
CHẶNG DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỄU GIỮA CÁC THIẾT BỊ  
ĐẦU CUỐI  
Cồ Như Văn*, Đỗ Việt Hà, Nguyễn Thanh Hải  
Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
CHUYÊN MỤC: Công trình khoa học  
Ngày nhận bài: 27/11/2020  
Ngày nhận bài sửa: 28/01/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 17/02/2021  
Ngày xuất bản Online: 15/04/2021  
* Tác giả liên hệ  
Email: [email protected]; Tel: 0987959637  
Tóm tắt. Mạng diện rộng công suất thấp truyền cự ly dài LoRaWan (long range wide area  
networks) được triển khai và phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Với các ưu  
điểm nổi bật như giá thành thấp, tiết kiệm năng lượng, độ tin cậy cao, số lượng các thiết bị kết  
nối đến mạng lớn và phạm vi mạng rộng, LoRaWan đặc biệt phù hợp cho các ứng dụng IoT  
(Internet-of-things). Bài báo thực hiện ước lượng khoảng cách truyền dẫn lớn nhất và vị trí đặt  
trạm lặp của mạng LoRa hai chặng. Không giống như các nghiên cứu khác chỉ xét đến suy hao  
và nhiễu tạp âm khi ước lượng cự ly truyền, bài báo phân tích các loại nhiễu trong mạng LoRa  
gồm nhiễu giữa các thiết bị trong cùng một vùng SF (Spreading Factor) và giữa các vùng SF  
khác nhau đều được tính đến khi đánh giá chất lượng hệ thống. Các chỉ tiêu kỹ thuật của mạng  
gồm tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu SNR (Singal-to-Noise Ratio) và SIR (Singal-to-Interference Ratio)  
được tính toán dùng mô hình kênh Rayleigh có xét đến suy hao truyền dẫn, hiệu ứng che khuất  
và hiệu ứng đa đường. Dựa vào ngưỡng yêu cầu của các chỉ số này trong quy hoạch mạng  
LoRa, cự ly truyền tối đa và vị trí trạm lặp được tính toán. Kết quả của bài báo có thể được áp  
dụng trong quy hoạch và thiết kế mạng LoRa.  
Từ khóa: Mạng LoRa hai chặng, SIR, nhiễu nội vùng, nhiễu liên vùng.  
©2021 Trường Đại học Giao thông vận tải  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong những năm gần đây, IoT (Internet-of-things) được triển khai trong nhiều lĩnh vực và  
phát triển rất nhanh chóng. Các ứng dụng IoT đòi hỏi mạng có giá thành thấp, tiết kiệm năng  
265  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
lượng, có độ tin cậy cao, số lượng các thiết bị kết nối đến mạng và phạm vi mạng tăng lên. Hiện  
nay, các công nghệ có khả năng hỗ trợ cho các ứng dụng IoT gồm Zigbee, Bluetooth và Wifi  
cho cự ly ngắn, các mạng di động tế bào (3G, LTE, 5G) cho cự ly truyền dài. Để đáp ứng yêu  
cầu hiệu quả công suất như các công nghệ tầm ngắn cũng như đáp ứng cự ly truyền dài như  
mạng di động, công nghệ mạng diện rộng công suất thấp LPWAN (low-power wide-area  
networks) đang là điểm sáng cho các ứng dụng IoT do có khả năng kết nối cự ly xa với tốc độ  
không lớn [1]. Có nhiều công nghệ LPWAN được nghiên cứu như LoRa, Sigfox, NB-IoT…  
nhưng LoRaWAN (truyền dẫn cự ly dài) là công nghệ được nghiên cứu và ứng dụng nhiều hơn  
cả [2].  
Một trong những thông số quan trọng để tối ưu chỉ tiêu chất lượng mạng trước khi triển  
khai trong thực tế chính là dự đoán được phạm vi phủ sóng của mạng [2]. Các thông số quan  
trọng trong tính toán cự ly truyền của mạng LoRa gồm [1]: i) suy hao đường truyền phụ thuộc  
vào cự ly, dải tần và các điều kiện địa hình, môi trường truyền sóng, ii) co-SF nhiễu giữa các  
kênh truyền trong cùng một vùng SF (Spreading Factor) sẽ hạn chế tầm truyền nếu mật độ đầu  
cuối mạng (ED) triển khai cao dẫn đến tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu SIR giảm dưới ngưỡng cho  
phép, iii) nhiễu giữa các ED trong các vùng SF khác nhau (inter-SF) do tính trực giao không  
hoàn hảo giữa các SF mà đa phần các nghiên cứu bỏ qua [3, 4] trong khi nghiên cứu trong [5]  
cho thấy nhiễu inter-SF ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng đường truyền, đặc biệt khi nguồn  
nhiễu ở gần máy thu.  
Các nghiên cứu về phạm vi phủ sóng của mạng LoRa gần đây đa phần được xét cho cấu  
hình mạng một chặng, nghĩa là chỉ có 1 chặng kết nối giữa đầu cuối LoRa và Gateway [2, 6, 7,  
8, 9]. Bên cạnh đó, mặc dù nhiễu co-SF và inter-SF đã được phân tích trong các nghiên cứu về  
đánh giá chỉ tiêu chất lượng mạng LoRa một chặng [1] và hai chặng có trạm lặp [10] nhưng  
chưa được áp dụng trong các nghiên cứu tính toán cự ly truyền dẫn. Ứng dụng ước lượng cự ly  
truyền trong [6] áp dụng cho mạng LoRa một chặng với các thông số đầu vào gồm tần số sóng  
mang, hệ số suy hao, hệ số SF và nhiễu nền AWGN [6]. Tuy nhiên cự ly truyền dẫn này không  
được xem xét trong một mạng LoRa cấu hình cụ thể với phân bố các vùng SF khác nhau và ảnh  
hưởng của các ED trong mạng. Trong [9, 11] mô hình suy hao và chỉ số SNR được xem xét để  
tính toán cự ly truyền dẫn của mạng LoRa trong điều kiện truyền dẫn trong rừng khác nhau.  
Suy hao được mô hình hóa và đo đạc xác nhận tham số cho các môi trường truyền dẫn khác  
nhau để tính toán quỹ công suất và cự ly truyền của mạng LoRa [2, 8]. Như vậy chỉ số SIR và  
nhiễu nhiễu co- SF và inter-SF không được tính đến trong các nghiên cứu này khi tính toán cự  
ly truyền.  
Bài báo tập trung giải quyết bài toán ước lượng cự ly truyền tối đa và vị trí trạm lặp cho  
mạng LoRa với nhiều thiết bị đầu cuối. Nhiễu giữa các ED trong cùng SF và giữa các SF được  
xem xét đầy đủ trong phân tích tính toán các chỉ tiêu chất lượng hệ thống. Mô hình kênh pha  
đinh Rayleigh được dùng để tính các tham số của mạng gồm SNR và SIR. Từ các điều kiện  
ngưỡng SNR và SIR của các ED trong mạng LoRa, cự ly truyền giữa ED xa mạng nhất tới  
Gateway được tính toán với cấu hình mạng LoRa hai chặng có sử dụng trạm lặp. Các kết quả  
khảo sát cho thấy nếu xét đến nhiễu co-SF và inter-SF nghĩa là dùng tham số ngưỡng SIR để  
266  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 264-276  
tính toán cự ly truyền sẽ ảnh hưởng đáng kể đến cự ly truyền của mạng.  
Cấu trúc phần còn lại của bài báo gồm: Mô hình hệ thống mạng LoRa hai chặng được khảo  
sát từ đó đưa ra công thức tính các chỉ số SIR và SNR của mỗi chặng được trình bày trong phần  
2. Phần 3 đề xuất các thuật toán tính toán cự ly truyền dẫn tối đa của mạng khi có và không có  
trạm lặp. Phần 4 là các kết quả và đánh giá. Kết luận của bài được trình bày trong phần 5.  
2. MÔ HÌNH HỆ THỐNG  
2.1. Kiến trúc mạng  
Xét mạng LoRa đường lên lên như Hình 1 [10], trong đó S là thiết bị đầu cuối xa nhất kết  
nối đến Gatway G thông qua trặm lặp R. Trong mạng LoRa, tùy thuộc vào khoảng cách từ thiết  
bị đầu cuối đến Gateway mà chọn các thông số như hệ số SF, công suất phát đế đảm bảo kết  
nối giữa các ED ở các vị trí khác nhau. Xét mạng LoRa được chia thành 6 vùng không trùng  
k 7,...,12  
lặp có phạm vi như nhau SFk với  
. Mỗi vùng được ấn định công suất phát và hệ  
số SF theo quy luật vùng càng gần Gateway thì SF và công suất phát càng nhỏ.  
(VX, VY)  
SF9  
SF8  
SF12  
SF11  
SF10  
SF7  
Intended link  
Interference link  
Interference  
Direct link  
Hình 1. Mạng LoRa đường lên.  
Ngoài các thành phần S, R và G, mạng còn gồm N các thiết bị đầu cuối ( N =  
12  
Nk  
)
k=7  
với Nk là số lượng các đầu cuối đóng vai trò nhiễu trong vùng SFk. Giả thiết vị trí của trạm  
o7,...,12  
lặp R V = v ,v đặt tại vị trí SFo với  
và có thể thay đổi. Giả thiết G được cố  
(
)
R
x
y
định và S là điểm xa nhất kết nối đến G với cự ly R và có hệ số SF12 như trên Hình 1.  
2.2. Tín hiệu và kênh truyền  
Để ước lượng cự ly truyền đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật của mạng LoRa, ta phân tích tín  
267  
 
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
hiệu từ thiết bị đầu cuối xa nhất S đến Gateway dưới tác động của cả nhiễu bên trong chính SF  
(gọi là co-SF) và nhiễu giữa các vùng SF (inter-SF). Tín hiệu từ S đến G được phân làm hai  
chặng, chặng tứ nhất là tín hiệu từ S đến R, tín hiệu thu được tại R được tính theo công thức [1,  
10]:  
Nk  
12  
y = P l d h x +  
k P l d hk xk + n  
(1)  
(
)
(
)
  
R
S
s,R  
S,R  
S
i,R  
k
i,R  
i,R i,R  
R
k=7 i=1  
hik,R  
trong đó hS,R  
,
là hệ số fading nhanh không bao gồm suy hao theo khoảng cách từ S và  
2   
từ nhiễu của ED trong miền SFk đến trạm lặp R tuân theo phân bố Rayleigh, nghĩa là h =1  
. Hàm suy hao theo khoảng cách l d  
,
l d với dX ,Y là khoảng cách Euclidean từ X đến Y.  
(
)
(
)
s,R  
i,R  
−  
Theo [1], suy hao l(dX ,Y ) = max dX ,Y ,dC  
với là hệ số mũ suy hao đường truyền,  
(
)
dc 0 là khoảng cách tối thiểu để tránh trường hợp l(dX ,Y  
) tiến tới vô cùng (nghĩa là dX ,Y → 0  
), = / 42 với c là bước sóng của sóng mang. xS  
,
xk  
i,R là các tín hiệu được điều chế CSS  
(
)
c
(chirp spread spectrum) của S và các nguồn nhiễu i của vùng SFk được giả thiết có công suất  
2   
2   
ik,R = 0,1  
k
đơn vị, nghĩa là  
. Hàm kích hoạt  
của nguồn nhiễu ED thứ  
xS =  xi,R =1  
i
trong miền SFk và tuân theo phân bố Bernoulli với xác suất  
Lpac  
pAk =  
;Rk = SF .CR.BW / (2SFk )  
là tốc độ bít của ED trong vùng SFk như trong Bảng I. Các  
b
k
RbkT  
in  
ký hiệu Lpac  
,
T ,CR và BW lần lượt là chiều dài gói dữ liệu, thời gian trung bình giữa 2 gói  
in  
đến, tỷ lệ mã hóa và băng thông truyền dẫn. P ,P là công suất phát của S và của các ED trong  
S
k
vùng SFk tuân theo Bảng I. Ký hiệu  
n
R là nhiễu tại trạm lặp.  
Nk  
12  
k P l d hk xk  
Cần chú ý rằng trong công thức (1), số hạng  
thể hiện cả nhiễu  
i,R i,R  
(
)
  
i,R  
k
i,R  
k=7 i=1  
trong cùng một SF (co-SF) và giữa các SF khác nhau (inter-SF).  
Bảng 1. Đặc tính mạng LoRa ở BW= 250 kHz và CR=4.5.  
SF  
Tốc độ bít  
[kbps]  
Vùng cự ly  
(Network Zone)  
qo[dBm] P [dBm]  
tx  
7
8
10.9  
6.25  
3.52  
1.96  
1.1  
-6  
-9  
2
5
0 → R / 6  
R / 6 → 2R / 6  
2R / 6 →3R / 6  
3R / 6 → 4R / 6  
4R / 6 →5R / 6  
9
-12  
-15  
-17.7  
8
10  
11  
11  
14  
268  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 264-276  
12 0.6 -20 17  
5R / 6 →6R / 6  
Chặng thứ 2 là tín hiệu truyền từ trạm lặp R đến G, tín hiệu thu được tại Gateway được tính  
như sau:  
Nk  
12  
k P l d hk xk + n  
(2)  
y = P l d  
h x +  
(
)
(
)
  
G
R
R,G  
R,G  
R
i,G  
k
i,G  
i,G i,G  
G
k=7 i=0  
P = P ,o7,...,12  
với  
là công suất phát của trạm lặp R, giá trị của P được cho trong  
o
R
o
hk  
bảng 1; hR,G  
,
là hệ số fading nhanh từ R và từ nguồn nhiễu thứ i của SFk đến Gateway;  
i,G  
xk  
xR , i,G là tín hiệu giải điều chế của S tại R và tín hiệu của ED thứ i trong miền SFk; nG là nhiễu  
ik,G  
AWGN tại G;  
là hàm kích hoạt.  
Từ phân tích tín hiệu trong mạng LoRa ta tính được các chỉ số SNR của tín hiệu truyền từ  
X đến Y theo công thức  
2
P l d  
h
X ,Y  
(
)
X
X ,Y  
SNRX Y  
=
(3)  
Y2  
2
trong đó PX là công suất phát của nút X; Y2 là nhiễu tại máy thu Y, l d  
là suy hao và hX ,Y  
(
)
X ,Y  
là độ lợi kênh truyền từ X đến Y.  
o7,...,12  
Hệ số SIR của các gói gửi từ nút X của vùng SFo,  
đến nút Y chịu ảnh hưởng  
o7,...,12  
các nhiễu từ SFk,  
được tính như sau:  
2
P l d  
Nk  
h
X ,Y  
(
)
X
X ,Y  
SIRX Y  
=
(4)  
%
2
P l d  
h
(
)
k
i,Y  
i,Y  
i=1  
với Nk = pA Nk là số lượng ED kích hoạt trong vùng SFk; P ,l d , h 2 lần lượt là công  
k
%
(
)
k
i,Y  
i,Y  
suất phát, hệ số suy hao và độ lợi kênh truyền của nguồn nhiễu ED thứ i từ SFk đến máy thu Y.  
Trong phần 3, khoảng cách truyền dẫn từ S đến G và vị trí trạm lặp sẽ được tính toán dựa  
trên điều kiện ngưỡng của các chỉ số SNR và SIR.  
3. TÍNH CỰ LY TRUYỀN VÀ VỊ TRÍ TRẠM LẶP  
o7,...,12  
Trong mạng LoRa, một gói hoạt động trong vùng SFo,  
được xem là giải mã  
chính xác nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:  
i) SNR lớn hơn giá trị ngưỡng qo với qo cho trên bảng 1.  
ii) SIR của các gói khác nhau từ cùng một SF hoặc từ các SF khác phải lớn hơn giá trị  
{
}
ngưỡng ∆표,푘 (dB) với 표, 푘 ∈ 7, … ,12 [12]. Giá trị ∆표,푘 là phần tử thuộc hàng o và cột k được  
269  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
lấy trong ma trận sau:  
SF  
SF  
SF  
SF  
10  
SF  
11  
SF  
12  
7
8
9
SF  
1
−8 −9 −9 −9 −9  
7
SF  
−11  
1
−11 −12 −13 −13  
8
SF  
−15  
−15  
−18  
−20  
−13  
1
−13 −14  
9
(5)  
dB  
=
SF  
10  
−19 −18 −17  
1
−17  
−22  
−25  
−22 −21 −20  
1
SF  
11  
−25 −25 −24 −23  
1
SF  
12   
3.1. Tính cự ly truyền tối đa khi có trạm lặp  
Để tính cự ly truyền tối đa khi có trạm lặp thì vị trí trạm lặp, S và G phải thỏa mãn các  
điều kiện sau:  
• Điều kiện đảm bảo SNR ngưỡng  
SNRS,R qS,R và SNRRG qo  
(6)  
do S luôn ở vị trí xa nhất của mạng nên qS,R luôn là  
q
12 , vị trí R đang xét có thể thay đổi  
q
ở một trong các vùng SF đặt nên o thay đổi.  
• Điều kiện đảm bảo ngưỡng SIR  
✓ Ngưỡng SIR do nhiễu trong cùng SF co-SF  
co−SF  
S,R  
co−SF  
S,R  
co−SF  
R,G  
co−SF  
R,G  
SIR  
   
SIR  
   
và  
(7)  
co−SF X S, R Y R,G  
SIR của 2 chặng đều phải lớn hơn ngưỡng, giá trị  
,
,
tùy thuộc  
X ,Y  
co−SF  
vào vùng gói dữ liệu được gửi đi; hơn nữa  
cũng là thành phần đường chéo trong ma trận  
X ,Y  
co−SF  
S,R  
=   
12,12 , tương tự với chặng thứ hai có  
. Ví dụ nếu gói gửi từ S ở vùng SF12 thì  
co−SF  
R,G  
=   
o7,K ,12  
.
o,o với  
✓ Ngưỡng SIR do nhiễu từ các SF khác inter-SF  
inter−SF và  
(8)  
inter−SF  
inter−SF  
R,G  
inter−SF  
R,G  
SIR  
 S,R  
SIR  
   
S,R  
các giá trị inter−SF tùy thuộc vào SF của gói muốn nhận và gói nhiễu, ta có  
X ,Y  
inter−SF  
S,R  
= 12,k ,k 7,...,11  
inter−SF =  ,k o;o,k 7,...,12  
và  
R,G  
o,k  
✓ Ngưỡng SIR do cả nhiễu co-SF khác inter-SF  
both  
both  
both  
R,G  
both  
R,G  
SIR    
SIR    
và  
(9)  
S,R  
S,R  
các giá trị SIR cần đảm bảo cả ngưỡng co-SF và inter-SF từ S đến R và từ R đến G, các giá  
both  
S,R  
= 12,k ,k 7,...,12  
inter−SF =  ,k 7,...,12  
trị ngưỡng  
và  
R,G  
o,k  
Chương trình findDmaxWithRelay thực hiện tìm cự ly truyền tối đa DSG(max) giữa S và G  
và vị trí trạm lặp tương ứng xR_ k(max) được mô tả theo đoạn mã giả dưới đây với các tham số  
270  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 264-276  
được mô tả trong Bảng 2.  
Bảng 2. Tham số trong chương trình findDmaxWithRelay.  
Ký hiệu  
tham số  
Ý nghĩa  
xR_ k  
dc  
xR _ k d , x  
Vị trí trạm lặp với k chạy để  
c
R(max)  
,
x và D  
Lần lượt là vị trí ngắn nhất, bước tăng của  
x
R và  
trong vòng for  
DSG  
R
SG  
DSG,k(max)  
DSG(max)  
Cự ly truyền tối đa tại vị trí trạm lặp xR_ k  
Cự ly truyền lớn nhất trong các DSG,k(max) và vị trí trạm lặp tương ứng xR_ k(max)  
PROCEDURE findDmaxWithRelay  
Begin  
xR = dc; x = 200m  
;
D = 200m  
;
DSG(x )max =10xR;  
R
SG  
R
DSG =[]; % ma trận rỗng  
for xR_k = dc to xR (max)  
DSG,k  
=
; % ma trận rỗng  
   
for  
D
= dc to D  
SG(xR )max  
SG(xR _k)_m  
SIRboth  both  
SIRboth  both  
)
if (SNRS,R qS,R and SNRRG qo and  
and  
S,R  
S,R  
R,G  
R,G  
DSG _ k,m  
=
DSG(x  
;
R _k)_m  
else if  
DSG _ k,m  
=
0;  
endif  
DSG,k = DSG,k , DSG,k,m  
; % ghép ma trận  
endfor  
DSG,k(max) = max (DSG_k );  
% cự ly lớn nhất với vị trí trạm lặp  
x
R _ k  
; % ghép ma trận  
DSG = DSG , DSG,k(max)  
endfor  
DSG(max) = max(DSG )  
;
end  
3.2. Tính vị trí trạm lặp để đảm bảo cự ly truyền nhất định  
Để quy hoạch mạng thuận tiện hơn, bài báo xây dựng chương trình findRelayLocation thực  
hiện các vị trí đặt trạm lặp với một cự ly truyền xác định DSG, tập kết quả trả về là các vị trí  
trạm lặp xR thỏa mãn các điều kiện về SNR và SIR như trong công thức (7) và (9). Thuật toán  
như sau:  
PROCEDURE findRelayLocation  
Begin  
x = 200m ; xR (max) = DSG – dc  
R
xR = []; % ma trận rỗng  
271  
 
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
for xR_k = dc to xR (max)  
if (SNRS,R qS,R and SNRRG qo and  
xR =[xR , xR_k ];% ghép ma trận  
SIRboth  both  
SIRboth  both  
)
and  
S,R  
S,R  
R,G  
R,G  
endif  
endfor  
End  
3.3. Tính cự ly truyền tối đa khi không có trạm lặp  
Để so sánh hiệu quả của việc sử dụng trạm lặp trong việc mở rộng phạm vi truyền của  
mạng LoRa phần này sẽ tính cự lý truyền tối đa khi không dùng trạm lặp. Cự ly truyền tối đa  
khi không có trạm lặp DSG(max) là cự ly lớn nhất mà tại đó thỏa mãn các điều kiện sau:  
• Điều kiện đảm bảo SNR ngưỡng:  
SNRS,G qS,G  
(10)  
do S luôn ở vị trí xa nhất của mạng nên qS,G luôn là q12  
.
• Điều kiện đảm bảo ngưỡng SIR cho cả nhiễu co-SF và inter-SF:  
both  
S,G  
both  
S,G  
SIR    
(11)  
both  
S,G  
= 12,k ,k 7,...,12  
với  
Chương trình findDmaxWithoutRelay thực hiện tìm DSG(max) được mô tả theo đoạn mã giả  
dưới đây với c là cự lý tối thiểu xét, SG là bước tăng dần DSG khi thỏa mãn các điều kiện về  
d
SNR và SIR, cờ flag=0 khi các điều kiện SNR và SIR không còn thỏa mãn và cự ly đã đạt tối  
đa.  
PROCEDURE findDmaxWithoutRelay  
Begin  
DSG = dc ; flag =1; SG = 200m  
while (flag)  
;
SIRboth    
both  
S,G  
if (SNRS,G qS,G and  
) then  
S,G  
DSG = DSG + SG  
;
else  
DSG (max) = DSG ; flag =0;  
end if  
end while  
End  
4. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG  
Phần này đưa ra các kết quả mô phỏng tính toán cự ly truyền tối đa và vị trí trạm lặp cho  
mạng LoRa với mô hình mạng như hình 1 và kịch bản có trạm lặp và không có trạm lặp thông  
qua mô phỏng Monte Carlo. Các thông số mô phỏng được thực hiện với  
BW = 250 KHz,  
fc =868 MHz, Lpac =10 byte, T = 60s, ED=103 vàCR = 4/ 5.  
= 3,  
in  
Hình 2 thể hiện kết quả khảo sát SNR giữa S và G khi không sử dụng trạm lặp. Căn cứ vào  
kết quả trên ta thấy nếu không xét đến nhiễu SIR mà chỉ xét đến điều kiện SNR thì cự ly tối đa  
272  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 264-276  
đạt được giữa S và G là 9.8 km. Để xét ảnh hưởng của SIR lên cự ly truyền tối đa, chạy chương  
trình findDmaxWithoutRelay đề xuất trong phần 3.3 cho kết quả cự ly truyền tối đa đạt được là  
8.2 km. Để minh họa cho kết quả, hình 3(a) trình bày kết quả SIRSG khi cự ly truyền là 8.2 km,  
ta nhận thấy SIRSG đảm bảo điều kiện ngưỡng SIR như thể hiện trong ma trận công thức (5).  
Với cự ly truyền 8.4 km vượt quá cự ly truyền tối đa đạt được, điều kiện ngưỡng SIR này không  
được đảm bảo thể hiện ở vùng (zone) 6 có SIRSG = -10 dB < 1 dB theo giá trị ngưỡng như kết  
quả thể hiện trên hình 3 (b).  
Nếu xét đến điều kiện SIR thì cự ly tối đa đạt được là 8.2 km, thấp hơn đáng kể so với chỉ  
xét chỉ tiêu SNR. Như vậy khi tăng cự ly vượt quá 8.2 km, điều kiện về ngưỡng SIR trong công  
thức (11) sẽ không được đảm bảo. Kết quả trên Hình 3 (b) của SIR cho thấy khi tăng cự ly lên  
both  
S,G  
both  
12,12  
SIR    
=1dB  
trong miền SF12 (nghĩa là  
8.4 km sẽ dẫn đến điều kiện về ngưỡng SIR  
vùng cự ly 5R/6 → R xa Gateway nhất) không được đảm bảo. Lý do là do suy hao truyền dẫn  
tăng khi tăng cự ly truyền dẫn đến công suất tín hiệu nhận được tại G giảm, làm giảm tỷ lệ SIR  
như công thức (4).  
20  
15  
10  
5
0
-5  
-10  
-15  
-20  
2
4
6
8
10  
D (km)  
Hình 2. SNR giữa S và G theo cự ly truyền.  
25  
20  
15  
10  
5
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
-5  
0
-10  
1
2
3
4
5
6
1
2
3
4
5
6
Network zone  
Network Zone  
(a)  
(b)  
Hình 3. (a) Kết quả SIR tại cự ly truyền tối đa 8.2 km.  
(b) Kết quả SIR tại cự ly 8.4km (xa hơn cư ly truyền tối đa).  
Hình 4 là kết quả tính cự ly truyền dẫn tối đa với các vị trí trạm lặp có thể đặt để thỏa mãn  
cả điều kiện và SIR và SNR trông công thức (6) và (9). Theo kết quả cự ly truyền tối đa đạt  
được khi không có trạm lặp là 8.2 km thì vị trí của trạm lặp không thể đặt xa hơn 8.2 km. Dó  
đó, hình 4 chỉ khảo sát với vị trí trạm lặp nhỏ hơn 8.2km. Thuật toán trong phần 3.1 sẽ tìm tất  
cả các cự ly truyền tối đa ứng với các vị trí trạm lặp trong khoảng 8.2 km. Từ kết quả cho thấy  
273  
   
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
cự ly tối đa của mạng LoRa đạt 12.72 km tại ví trí trạm lặp xR = 6.6 km. Kết quả này tăng lên  
đáng kể so với cự ly 8.2 km không dùng trạm lặp. Tại vị trí xR = 7 km, khi ta khảo sát đến  
DSG > 10 km thì điều kiện ngưỡng (cho chặng RG, lúc này có dRG > 3 km) không thỏa  
mãn nữa nên cự ly truyền lớn nhất DSG là 10 km. Cần lưu ý rằng tại bất kỳ khoảng cách  
nào thì mô hình mạng vẫn tuân theo hình 1, nên các kết quả không chỉ xét đến cự ly mà  
còn xét đến vị trí trạm lặp đang thuộc SF nào ứng với cự ly đó như trong bảng 1. Vị trí  
của trạm lặp càng gần G thì công suất phát càng thấp và mức ngưỡng qo càng cao. Phân  
tích cụ thể hơn kết quả trên Hình 4 ta nhận thấy, khi tăng vị trí đặt trạm lặp quá xa S ( nghĩa là  
xR > 6.6 km) thì suy hao truyền dẫn từ S đến R sẽ lớn làm giảm công suất tín hiệu hiệu có ích  
dẫn đến ảnh hưởng của co-SF và inter-SF nghiêm trọng hơn nên giảm cự ly truyền tối đa đạt  
được, và khi xR > 7.8 km thì điều kiện ngưỡng SIR không còn thỏa mãn.  
Để làm rõ ảnh hưởng của nhiễu co-SF và inter-SF, Hình 5 là kết quả cự ly truyền tối đa  
nếu chỉ xét điều kiện về SNR như trong công thức (6), nghĩa là không xét đến nhiễu co-SF và  
inter-SF. Kết quả cho thấy nhiễu co-SF và inter-SF không gây ảnh hưởng nhiều đến cự ly truyền  
tối đa nhưng ảnh hưởng đến vị trí đặt trạm lặp do khi tăng vị trí đặt trạm lặp quá xa S thì suy  
hao truyền dẫn từ S đến R lớn làm giảm công suất thu được tại R dẫn đến ảnh hưởng của co-  
SF và inter-SF nghiêm trọng hơn. Nếu chỉ xét đến điều kiện ngưỡng SNR, có thể đặt vị trí trạm  
lặp lên tới 9.8 km so với 7.8 km khi xét đến ảnh hưởng của cả nhiễu co-SF và inter-SF.  
Hình 4. Cự ly truyền dẫn tối đa với các vị trí đặt trạm lặp khác nhau xét cả điều kiện SIR và SNR.  
274  
 
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 3 (04/2021), 264-276  
Hình 5. Cự ly truyền dẫn tối đa với các vị trí đặt trạm lặp khác nhau chỉ xét điều kiện ngưỡng SNR.  
Hình 6. Kết quả SNR với các vị trí đặt trạm lặp khác nhau ở cự ly truyền 10 km.  
Hình 6 là kết quả SNR với các vị trí đặt trạm lặp khác nhau ở cự ly truyền 10 km. Để đảm  
bảo điều kiện ngưỡng SNR trong (6) thì vị trí trạm lặp có thể đặt trong khoảng từ 5 km đến  
9.8km. Tuy nhiên, nếu xét đến điều kiện SIR trong công thức (6) thì vị trí trạm lặp có thể đặt  
trong khoảng từ 5 km đến 6.17 km so với S. Tương tự, áp dụng với cự ly truyền 12 km thì vị  
trí trạm lặp có thể đặt ở vị trí từ 6 km đến 8 km so với S.  
5. KẾT LUẬN  
Bài báo đã sử dụng cấu hình mạng LoRa gồm 6 vùng SFk và mô hình kênh truyền Rayleigh  
để phân tích tín hiệu cũng như tính toán các chỉ số chất lượng hệ thống gồm SNR, SIR. Căn cứ  
vào các điều kiện ngưỡng SNR và SIR của mạng LoRa xét trong cùng một vùng SF (co-SF) và  
giữa các vùng SF (inter-SF), cự ly truyền dẫn tối đa và vị trí trạm lặp được tính toán. Các kết  
quả cho thấy việc đặt thêm trạm lặp ở vị trí phù hợp có thể mở rộng phạm vi truyền của mạng  
LoRa. Các kết quả và thuật toán đề xuất trong bài báo có thể áp dụng trong quá trình quy hoạch  
và thiết kế mạng LoRa ban đầu trước khi triển khai thực tế.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường đại học Giao thông vận tải trong đề tài mã số  
T2020-DT-004.  
Tác giả xin chân thành cảm ơn Công ty cổ phần thiết bị quan trắc địa kỹ thuật và môi trường  
Việt Nam đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện nghiên cứu thực nghiệm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. A. Mahmood et al., Scalability Analysis of a LoRa Network Under Imperfect Orthogonality, IEEE  
Transactions on Industrial Informatics, 15 (2019) 1425-1436. https://doi.org/10.1109/TII.2018.2864681  
[2]. R. El Chall, S. Lahoud, M. El Helou, LoRaWAN Network: Radio Propagation Models and  
Performance Evaluation in Various Environments in Lebanon, IEEE Internet of Things Journal, 6  
[3]. Orestis Georgiou, Usman Raza, Low Power Wide Area Network Analysis: Can LoRa Scale?, IEEE  
Wireless Communications Letters, 6 (2017) 162-165. https://doi.org/10.1109/LWC.2016.2647247  
275  
 
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 3 (04/2021), 264-276  
[4]. D. Bankov, E. Khorov, A. Lyakhov, Mathematical model of LoRaWAN channel access with capture  
effect, 2017 IEEE 28th Annual International Symposium on Personal, Indoor, and Mobile Radio  
Communications (PIMRC), 2017, pp. 1-5. https://doi.org/10.1109/PIMRC.2017.8292748  
[5]. D. Croce et al., Impact of LoRa Imperfect Orthogonality: Analysis of Link-Level Performance,  
IEEE Communications Letters, 22 (2018) 796-799. https://doi.org/10.1109/LCOMM.2018.2797057  
[6]. Lain-Chyr Hwang et al., A bridge between the smart grid and the Internet of Things: Theoretical  
and practical roles of LoRa, International Journal of Electrical Power & Energy Systems, 113 (2019)  
[7]. H. Lee, K. Ke, Monitoring of Large-Area IoT Sensors Using a LoRa Wireless Mesh Network  
System: Design and Evaluation, IEEE Transactions on Instrumentation and Measurement, 67 (2018)  
[8]. J. Petajajarvi et al., On the coverage of LPWANs: range evaluation and channel attenuation model  
for LoRa technology, 14th International Conference on ITS Telecommunications (ITST), 2015, pp. 55-  
[9]. P. A. Campos et al., Evaluation of LoRaWAN Transmission Range for Wireless Sensor Networks  
in Riparian Forests, 22nd International ACM Conference on Modeling, 2019, pp. 199-206.  
[10]. T. H. Nguyen et al., Performance Analysis and Optimization of the Coverage Probability in Dual  
Hop LoRa Networks With Different Fading Channels, IEEE Access, 8 (2020) 107087-107102.  
[11]. L. Parri et al., Offshore LoRaWAN Networking: Transmission Performances Analysis Under  
Different Environmental Conditions, IEEE Transactions on Instrumentation and Measurement. Early  
[12]. A. Hoeller et al., Analysis and Performance Optimization of LoRa Networks With Time and  
Antenna  
Diversity,  
IEEE  
Access,  
6
(2018)  
32820-32829.  
276  
pdf 13 trang Thùy Anh 16280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Estimation of transmission range of a dual - hop lora network under interference effects", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfestimation_of_transmission_range_of_a_dual_hop_lora_network.pdf