Đánh giá hiệu năng mạng chuyển tiếp đa chặng trong truyền thông gói tin ngắn

Huỳnh Văn Hóa, Ngô Hoàng Tú, Võ Nguyễn Quốc Bảo  
________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________  
ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN  
TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG  
GÓ I TIN NGẮN  
Huỳnh Văn Hóa*, Ngô Hoàng Tú+ Võ Nguyễn Quốc Bảo*  
,
* Học Viện Cô ng Nghệ Bưu Chính Viễn Thô ng  
+ Khoa Cô ng nghệ thô ng tin, Trường Đại học Giao Thô ng Vận Tải thành phố Hồ Chí Minh  
1Tóm tắt: Trong bài báo này, chúng tôi phân tích tỉ lệ  
lỗi khối của mạng truyền thông gói tin ngắn nhằm mở rộng  
vùng phủ sóng và giảm tỉ lệ lỗi khối dưới tác động của  
kênh truyền fading Rayleigh. Trong mô hình đề xuất, nút  
đích sẽ nhận được dữ liệu thông qua các nút chuyển tiếp.  
Tỉ lệ lỗi khối ở kênh truyền này được chứng minh dưới cả  
hai dạng là chính xác và xấp xỉ bằng biểu thức dạng tường  
minh (closed-form expression). Cuối cùng, chúng tôi thực  
hiện mô phỏng Monte-Carlo để kiểm chứng lại các kết quả  
đã phân tích được.  
các thiết bị đồng bộ hóa thời gian. Để kết nối các thiết bị  
theo thời gian thực, đồng nghĩa với việc các thiết bị cần  
phải truyền các gói tin đáp ứng được các yêu cầu chất  
lượng với sự ràng buộc về độ trễ phải cực thấp và độ tin  
cậy cao. Chính vì vậy, truyền thông gói tin ngắn (short  
packet) [5, 6] hiện đang là ứng viên hàng đầu để đáp ứng  
được các yêu cầu như trên và cũng đã và đang nhận được  
nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học trên  
thế giới.  
Hơn nữa, truyền thông chuyển tiếp đang được xem là giải  
pháp hiệu quả để cải thiện vùng phủ sóng nhằm nâng cao  
hiệu năng của hệ thống [7]. Cụ thể, trong [8], các tác giả  
đã đề xuất mạng chuyển tiếp từng phần, truyền thông đa  
chặng và truyền thông chuyển tiếp tăng cường được khảo  
sát lần lượt trong [9] và [10]. Hơn nữa, truyền thông  
chuyển tiếp cũng đã kết hợp hiệu quả với các kỹ thuật  
khác, chẳng hạn như kỹ thuật đa truy nhập không trực giao  
[2], kỹ thuật thu thập năng lượng [11, 12], vô tuyến nhận  
thức [13] và bảo mật lớp vật lý [14]. Rõ ràng, truyền thông  
chuyển tiếp là một kỹ thuật đầy tiềm năng với việc sử dụng  
các nút trung gian để chuyển tiếp dữ liệu từ thiết bị phát  
đến thiết bị thu với các mục đích chính như sau: Một là;  
làm giảm sự ảnh hưởng của hiệu ứng bóng mờ trong thông  
tin vô tuyến [15] gây cản trở trên đường truyền, ví dụ như  
các tòa nhà cao tầng, cây cối, … giúp cho việc kết nối dữ  
liệu hoặc trao đổi thông tin giữa các thiết bị với nhau luôn  
được liên tục theo thời gian. Hai là; mở rộng vùng phủ  
sóng để truyền dữ liệu tới được những thiết bị có khoảng  
cách kết nối xa hơn để đảm bảo sự kết nối liên tục giữa các  
thiết bị lẫn nhau khi có sự thay đổi khoảng cách truyền. Ba  
là; việc mở rộng vùng phủ sóng sẽ giúp kết nối các thiết bị  
giao tiếp lẫn nhau được nhiều hơn. Có hai kỹ thuật chuyển  
tiếp được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây, đó là kỹ  
thuật khuếch đại chuyển tiếp (AF) [16-18] và giải mã và  
chuyển tiếp (DF) [19-21]. Ngoài ra, trong mạng bảo mật ở  
lớp vật lý như trong bài báo của tác giả Nguyen Thi Yen  
Linh và các đồng tác giả [22] cũng đã nghiên cứu và cho  
thấy được hiệu năng của mạng chuyển tiếp đa chặng trong  
mạng vô tuyến.  
Từ khóa- fading Rayleigh, giải mã và chuyển tiếp, tỉ lệ  
lỗi khối, truyền thông gói tin ngắn.  
I.  
GIỚI THIỆU  
Trong những năm gần đây, thế giới chúng ta đang hướng  
đến nền công nghiệp tiên tiến nhằm phục vụ nhu cầu ngày  
càng tăng cao của con người trong hầu hết các lĩnh vực  
nhằm mục đích chính là cải thiện tính linh hoạt trong quy  
trình sản xuất và tạo ra nhiều sản phẩm hơn, tiết kiệm tài  
nguyên và tăng tính tiện dụng hơn bằng cách sử dụng kết  
nối các cảm biến và dữ liệu với quy mô lớn, chẳng hạn như  
nhà máy thông minh, nông nghiệp thông minh hay y tế  
thông minh, … nói chung cũng như trong lĩnh vực thông  
tin di động nói riêng nhằm tập trung và tăng cường khả  
năng giao tiếp, kết nối giữa con người và máy móc, và giữa  
máy móc với máy móc lẫn nhau sử dụng cảm biến [1]. Để  
đáp ứng được những tiêu chí trên, các nhà khoa học trong  
nước cũng như trên thế giới đã và đang tích cực nghiên  
cứu phát triển các kỹ thuật mới, chẳng hạn như kỹ thuật đa  
truy nhập không trực giao NOMA [2], kỹ thuật truyền dẫn  
song công [3] và kỹ thuật MIMO [4]. Với sự phát triển của  
các kỹ thuật mới này sẽ hứa hẹn tạo ra thế hệ mạng di động  
mới, đó là mạng di động thế hệ thứ 5 (5G) với khả năng  
truyền tín hiệu có tốc độ nhanh hơn và có băng thông lớn  
hơn.  
Với những tiềm năng to lớn từ các kỹ thuật mới mang lại  
hứa hẹn sẽ tháo gỡ được những hạn chế còn tồn đọng trong  
mạng di động hiện tại. Thứ nhất là hỗ trợ truyền thông tin  
với dung lượng lớn hơn giúp tiết kiệm được thời gian  
truyền nhận dữ liệu giữa các thiết bị. Bên cạnh đó, chính  
là khả năng truyền thông tin với thời gian thực khi mà các  
thiết bị và con người giao tiếp với nhau qua khoảng cách  
xa, với độ chính xác lên đến mức micro giây và cho phép  
Với những tính năng và lợi ích to lớn như trên sẽ hứa hẹn  
việc kết hợp kỹ thuật chuyển tiếp với công nghệ truyền  
thông gói tin ngắn sẽ nâng cao hiệu năng của mạng hơn  
nữa. Cụ thể, trong bài báo [23], các tác giả đã đề xuất mô  
Tác giả liên hệ: Võ Nguyễn Quốc Bảo  
Đến tòa soạn:10/2020, chỉnh sửa: 11/2020, chấp nhận đăng: 12/2020.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
43  
ĐÁ NH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG SỬ DỤNG GÓ I TIN NGẮN  
hình mạng truyền thông gói tin ngắn kết hợp với kỹ thuật  
chuyển tiếp theo phương thức đa truy nhập không trực giao  
(NOMA). Trong bài báo [24], Yifan Gu và các cộng sự đã  
nghiên cứu mô hình mạng truyền thông gói tin ngắn sử  
dụng kỹ thuật khuếch đại chuyển tiếp (AF). Các nghiên cứu  
này đều chứng minh được hiệu năng vượt trội của mạng  
chuyển tiếp trong truyền thông gói tin ngắn. Theo chúng  
tôi được biết, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công  
trình nghiên cứu nào cho thấy sự ảnh hưởng đầy đủ các  
thông số của nút chuyển tiếp, khi mà số nút chuyển tiếp lớn  
hơn hai.  
P
Rk−1 nk  
,
với  
là công suất phát của  
là nhiễu Gauss  
với giá trị  
k−1  
trắng cộng AWGN tại nút chuyển tiếp thứ  
k
trung bình bằng 0 và phương sai bằng k2 , và là thông  
E x 2 =1  
x
tin của nút nguồn có năng lượng chuẩn hóa  
,
E .  
với  
là toán tử kỳ vọng thống kê. Để công suất nhiễu  
  
trắng ở các máy thu là như nhau, chúng tôi giả sử k2 = 2  
.
Chúng tôi cũng giả sử rằng thông tin trạng thái kênh  
truyền (CSI) là hoàn hảo tại nút nguồn và các nút nhận tín  
hiệu và kênh truyền là kênh fading Rayleigh. Do đó, tỉ số  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành thiết kế và  
phân tích một hệ thống mạng với số nút chuyển tiếp lớn  
hơn hai trong truyền thông gói tin ngắn, hoạt động dựa trên  
việc chuyển tiếp dữ liệu từ nguồn đến đích thông qua các  
nút chuyển tiếp. Để đánh giá chất lượng của hệ thống,  
chúng tôi đưa ra và phân tích biểu thức tính tỉ lệ lỗi khối  
dạng đóng trên kênh truyền fading Rayleigh.  
Rk  
tín hiệu trên nhiễu (SNR) nhận được tại  
(được ký hiệu  
là k ) sẽ tuân theo phân bố mũ với giá trị trung bình được  
biểu diễn như sau  
P k  
k−1  
k =  
,
(2)  
2  
Phần tiếp theo của bài báo được trình bày như sau. Phần  
II sẽ trình bày mô hình của hệ thống cũng như cách thức  
truyền dữ liệu từ nút nguồn đến nút đích thông qua các nút  
chuyển tiếp. Phần III sẽ trình bày phương pháp phân tích  
theo mô hình đề xuất để đánh giá chất lượng của hệ thống  
với thông số tỉ lệ lỗi khối với cả hai dạng chính xác và xấp  
xỉ. Phần IV là các kết quả tính toán sẽ được kiểm chứng lại  
bằng phần mềm Matlab. Cuối cùng là phần kết luận của bài  
báo.  
k  
với  
là độ lợi kênh trung bình tương ứng của đường  
Rk−1 → Rk  
truyền  
.
Áp dụng lý thuyết về phân bố mũ trong [25], ta có hàm  
phân bố tích lũy (CDF) và hàm mật độ xác suất (PDF) của  
k  
được tính như sau  
k  
F
=1−exp −  
( )  
k  
.
(3)  
II. MÔ HÌ NH HỆ THỐNG  
1
k  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất mô hình mạng  
chuyển tiếp đa chặng trong truyền thông gói tin ngắn để  
truyền thông tin từ nút nguồn đến nút đích như Hꢀnh 1.  
f= exp −  
( )  
k
k  
m
Theo như trong [26], mỗi giá trị của  
nên lớn hơn 100,  
vì kênh truyền được giả sử hoạt động ở chế độ fading bán  
tĩnh (quasi-static fading) [27], nghĩa là hệ số kênh truyền  
không đổi trong suốt quá trình truyền tín hiệu từ nút nguồn  
đến nút đích và có thể sẽ thay đổi trong chu kỳ truyền tín  
RK  
R
1
h2  
hK+1  
h
1
R0  
RK+1  
R2  
Hꢀnh 1. Mô hì nh mạng chuyển tiếp đa chặng trong truyền  
thô ng gó i tin ngắn  
R0  
Rk+1  
truyền bit thông tin đến  
hiệu tiếp theo. Khi  
qua chặng trong suốt một chu kỳ truyền. Ta có tỉ lệ  
mã hóa của mỗi chặng là  
K +1  
Các thành phần chính của hệ thống gồm một nút nguồn  
R
R
K +1  
, một nút đích  
và các nút chuyển tiếp, lần lượt  
(
)
(
)
0
K +1  
(
)
r =  
.
(4)  
R , R2 ,..., RK  
được ký hiệu là  
tiếp sẽ sử dụng kỹ thuật DF để giải mã và chuyển tiếp tín  
hk  
như Hꢀnh 1. Tại nút chuyển  
1
m
Công thức số (4) biểu diễn tốc độ mã hóa của mỗi chặng  
K +1  
hiệu vừa nhận được đến nút chuyển tiếp kế tiếp. Gọi  
Rk−1  
là  
trong  
chặng sẽ bằng số bit thông tin chia cho thời  
(
)
Rk  
.
hệ số kênh truyền giữa  
và  
gian truyền của mỗi chặng.  
Hoạt động truyền tín hiệu của hệ thống thông qua các  
III. ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG HỆ THỐNG  
m
khe thời gian với tổng chiều dài gói tin là , và gói tin  
này sẽ được chia thành các khối tin (blocklength) có chiều  
A. Tỉ lệ lỗi khối dạng chính xác  
m
R0  
R
dài bằng nhau  
và được truyền từ  
đến K+1 , với  
Trong truyền thông gói tin ngắn, khi chiều dài khối tin  
K +1  
BLER  
đủ lớn, tỉ lệ lỗi khối  
trung bình được xấp xỉ như  
(
)
là số chặng trong mạng. Ta có tín hiệu nhận được tại  
K
trong [27, Eq. (59)] và [28, Eq. (4)] theo từng chặng là  
2 là  
Rk  
k =1, K +1  
(
)
C −r  
(
)
k
,
(1)  
yk = P h x+nk  
BLERk E  
Q
,
(5)  
k−1  
k
k
V / m  
(
)
k
2 Giá trị k =1,K +1 sẽ được sử dụng xuyên suốt bài báo này.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
44  
 
Huỳnh Văn Hóa, Ngô Hoàng Tú, Võ Nguyễn Quốc Bảo  
___________________________________________________________________________________________________________________________________________  
H  
k  
BLERk m 1−exp −  
d  
  
L  
(9)  
H  
k  
L  
k  
=m − +exp −  
−exp −  
.
k   
H
L
BLERe2e =BLER + 1−BLER BLER +...+ 1−BLER ... 1−BLER  
BLER  
K
(
)
(
1 ) (  
)
1
1
2
K−1  
k
K+1  
(10)  
=BLER +  
BLER   
1−BLER  
(
m−1  
.
)
  
1
k
k=2  
m=2  
Kỹ thuật giải mã và chuyển tiếp có lựa chọn (SDF) là  
BLERk  
với  
từ  
là tỉ lệ lỗi khối của một chu kỳ truyền tín hiệu  
một kỹ thuật được áp dụng tại nút chuyển tiếp với cơ chế  
là nếu nút chuyển tiếp không giải mã đúng được dữ liệu  
nhận được thì sẽ không tiếp tục chuyển tiếp dữ liệu đến  
nút tiếp theo [29].  
Rk−1  
Rk  
đến  
và được định nghĩa là  
.
xfX x dx  
X =   
( )  
( )  
−  
Giả sử các nút chuyển tiếp sử dụng kỹ thuật SDF nên  
tỉ lệ lỗi khối toàn trình được tính theo công thức (10)  
(Chứng minh: Xem phụ lục A).  
Viết lại biểu thức (5) ở dạng tường minh, ta có tỉ lệ lỗi  
k
khối trung bình tại chặng thứ  
được tính như sau  
C −r  
(
)
k
B. Tỉ lệ lỗi khối dạng xấp xỉ  
BLER Q  
fd,  
(6)  
( )  
k
k
V / m  
(
)
0
Tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày dạng xấp xỉ của tỉ lệ  
lỗi khối để có đánh giá khách quan hơn về hiệu năng của  
hệ thống ở mức công suất nguồn phát cao. Dạng xấp xỉ  
này được xem như là một đường giới hạn trên (upper  
bound) cho các giá trị của tỉ lệ lỗi khối khi càng tăng mức  
công suất nguồn phát tiến ra vô cùng. Điều này có nghĩa  
là tỉ lệ lỗi khối toàn trình của hệ thống luôn đạt giá trị  
nhỏ hơn hoặc bằng giá trị đường giới hạn trên này cho  
dù có tăng công suất phát lớn thế nào đi chăng nữa. Mặt  
khác, đây cũng là điều mà chúng ta mong muốn vì tỉ lệ  
lỗi khối càng nhỏ thì hiệu năng hệ thống càng được cải  
thiện.  
k
fX  
x
là hàm mật độ xác suất của biến ngẫu nhiên  
với  
( )  
.
X
C −r  
(
)
k
Q
Bởi vì biểu thức  
rất phức tạp nên sẽ  
V / m  
(
)
k
rất khó để tìm ra biểu thức dạng tường minh (closed-form  
expression) cho công thức (6). Áp dụng [26, Eq. (4)],  
chúng tôi triển khai hàm xấp xỉ đối với hàm  
Q .  
( )  
, cụ thể  
C −r  
(
)
k
Sử dụng vô cùng bé tương đương của hàm  
Q
là  
, với  
(
)
1−exp −x  
khi  
, kết quả tiệm cận của  
x →0  
(
)
V / m  
(
)
k
BLERk  
được tính như sau  
1,  
k L  
−m −, L k H , (7)  
H  
L  
1
Z   
(
=
BLERk,tc m  
d  
)
(
)
k
k
  
2
k
(11)  
0,  
k H  
2
2   
H − L  
m  
=
.
k  
2
1
1
=  
H =+  
với  
,
= 2r −1  
,
và  
222r−1  
2m  
Dễ thấy rằng giá trị của tỉ lệ lỗi khối từng chặng  
1
BLERk  
thì rất nhỏ khi công suất nguồn phát càng lớn.  
L =−  
.
2m  
BLERk,tc  
Khi đó, ta có  
1−BLERk,tc 1  
, điều này đồng nghĩa là  
. Tỉ lệ lỗi khối toàn trình dạng xấp xỉ có  
BLERk  
Thay (7) vào (6),  
được tính như sau  
thể được viết lại như công thức (12).  
H  
f
d=m  
( )  
F
k  
d.  
( )  
BLER = Z   
(
)
(8)  
k
k
k  
0
L
BLERk  
Thay (3) vào (8), ta tính được  
như công thức (9).  
của mỗi chặng  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
45  
ĐÁ NH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG SỬ DỤNG GÓ I TIN NGẮN  
BLERe2e,tc = BLER1,tc + 1−BLER BLER +...+ 1−BLER ... 1−BLER  
BLER  
K,tc  
(
)
(
1,tc ) (  
)
1,tc  
2,tc  
K−1,tc  
K+1  
(12)  
BLER  
.
k,tc  
k=1  
đường mô phỏng (Simulations). Từ Hình 2, ta dễ dàng thấy  
được các giá trị của tỉ lệ lỗi khối toàn trình càng  
IV. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG  
BLER  
Trong phần này, chúng tôi sử dụng phương pháp mô  
phỏng Monte-Carlo trên phần mềm Matlab cũng như trong  
sách mô phỏng [30] cho mô hình đề xuất để kiểm chứng  
lại các kết quả lý thuyết đã được trình bày ở phần trước.  
giảm khi công suất phát tăng. Cụ thể, khi ta tăng công suất  
phát lần lượt là 10, 15 và 20 dBm, giá trị của tỉ lệ lỗi khối  
10−1,  
−2  
toàn trình  
tương ứng là vào khoảng  
2.510  
BLER  
và 0.110−2. Điều này có nghĩa là khi ta càng tăng công  
suất phát của nguồn phát thì hiệu năng hệ thống sẽ càng  
được cải thiện như mong đợi. Đặc biệt, quan sát riêng lẻ  
trên cùng một giá trị công suất phát thì tỉ lệ lỗi khối đạt giá  
Để đơn giản và không mất tính tổng quát, chúng tôi xem  
xét mô hình tuyến tính đơn giản là nút nguồn, nút đích và  
các nút chuyển tiếp được đặt trên cùng một đường thẳng.  
2
Xem xét kênh chuẩn hóa với công suất nhiễu là  
 = 0  
trị nhỏ nhất khi  
trong tất cả các trường hợp khảo sát  
K =1  
dBm. Một vài thông số để thực hiện mô phỏng như sau: số  
bit thông tin là = 256 và chiều dài khối  
P
của S . Điều này có thể kết luận rằng đối với mô hình đề  
.
m= 256  
xuất này thì sử dụng một nút chuyển tiếp để truyền dữ liệu  
Tương tự như các thông số trong [15], độ lợi kênh trung  
là hiệu quả nhất. Do đó, chúng tôi sẽ sử dụng giá trị  
cho các khảo sát tiếp theo.  
K =1  
bình được tính theo mô hình suy hao trong không gian tự  
do là k = dk−, với  
là hệ số suy hao của kênh truyền  
(giá trị điển hình của là từ 2 đến 6). Trong nghiên cứu  
này, chúng tôi sử dụng = 3 . Chúng tôi giả sử rằng  
R0  
RK+1  
được chuẩn hóa với  
khoảng cách giữa nút  
và  
dk  
, xem xét kênh truyền đối xứng với  
là khoảng  
D =1  
1
cách bằng nhau giữa các nút và  
. Ngoài ra,  
dk =  
K +1  
chúng tôi cũng xem xét mô hình với giả sử phân bổ công  
P
S
\suất đều cho từng nút chuyển tiếp, nghĩa là  
.
P =  
k
K +1  
P
Tổng công suất truyền của nguồn phát năng lượng  
S
0dBm 30dBm  
được khảo sát từ  
đến  
.
Hì nh 3. Ảnh hưởng của chiều dài khối tin, với  
K =1  
là một  
Tiếp theo, chúng tôi khảo sát tỉ lệ lỗi khối  
BLER  
m
hàm theo độ dài khối  
như Hình 3 với mục tiêu tương tự  
m
như Hình 2 đó là tìm ra  
tối ưu cho mô hình hệ thống.  
m
Cụ thể, giá trị của  
càng tăng thì ở tất cả các  
BLER  
trường hợp giảm. Hơn nữa, chúng ta cũng thấy rằng tỉ lệ  
m
lỗi khối toàn chặng sẽ bằng không nếu  
tiến tới vô cùng  
hay lim BLERe2e m = 0 (Chứng minh: Xem phụ lục B).  
( )  
Điều này có nghĩa là chúng ta chỉ có thể kết luận  
lớn càng tốt mà không có một giá trị cụ thể nào, miễn là  
như đã đề cập thì hiệu năng hệ thống sẽ càng  
m→+  
m
càng  
m100  
được cải thiện. Tuy nhiên, cũng phải cân nhắc rằng mục  
tiêu của truyền thông gói ngắn đó là độ dài khối càng ngắn  
thì độ trễ truyền sẽ được giảm. Do đó, cân nhắc trong cả  
Hꢀnh 2. Ảnh hưởng của số nút chuyển tiếp lên hiệu năng  
hệ thống  
m
hai tình huống ưu nhược điểm của việc tăng hoặc giảm  
m
chúng ta sẽ ràng buộc được giá trị  
cụ thể nhằm mục tiêu  
Đầu tiên, chúng tôi sẽ khảo sát sự ảnh hưởng của số nút  
chuyển tiếp lên hiệu năng hệ thống như Hình 2 để tìm ra  
số lượng nút chuyển tiếp tối ưu cho mô hình. Mục tiêu là  
càng ít số lượng nút chuyển tiếp càng tốt mà hiệu năng hệ  
thống vẫn được cải thiện vì như vậy chúng ta sẽ tiết kiệm  
được chi phí triển khai và thậm chí là giảm thiểu được tổng  
độ trễ truyền khi truyền qua các nút chuyển tiếp.  
đảm bảo chất lượng của một dịch vụ cụ thể. Ví dụ, giả sử  
mức tỷ lệ lỗi khối có thể chấp nhận được của một dịch vụ  
mà chúng ta muốn cung cấp là 210−2 chẳng hạn, thì giá  
m
trị của  
ứng với từng trường hợp công suất phát 10, 15  
và 20 dBm là khoảng 1000, 400 và 250. Mặt khác, khi  
công suất phát của các nút nguồn và các nút chuyển tiếp  
tăng thì hiệu năng của hệ thống cũng được cải thiện đáng  
kể. Quan trọng hơn hết vẫn là các kết quả lý thuyết của  
chúng tôi hoàn toàn trùng khớp với các kết quả mô phỏng  
Hình 2 cho chúng ta thấy được các kết quả đường lý  
thuyết (Analysis) hoàn toàn trùng khớp với các kết quả  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
46  
   
Huỳnh Văn Hóa, Ngô Hoàng Tú, Võ Nguyễn Quốc Bảo  
___________________________________________________________________________________________________________________________________________  
và một lần nữa xác thực tính chính xác từ các kết quả tính  
độ trễ truyền sẽ được giảm. Do đó, cân nhắc trong cả hai  
m
toán trong các phần trước.  
tình huống ưu nhược điểm của việc tăng hoặc giảm  
m
chúng ta sẽ ràng buộc được giá trị  
cụ thể nhằm mục tiêu  
P
đảm bảo chất lượng của một dịch vụ cụ thể. Và đối với  
S
, mặc dù tăng công suất phát làm cho hiệu năng hệ thống  
được cải thiện nhưng chúng ta cũng không nên lạm dụng  
tăng công suất phát quá lớn sẽ có thể ảnh hưởng can nhiễu  
lớn lên các người dùng khác của hệ thống. Đặc biệt, chúng  
tôi cũng chỉ ra được giá trị  
mạng hai chặng (dual-hop) là tối ưu trong trường hợp mô  
hay nói cách khác là  
K =1  
hình đề xuất này.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Học Viện Công Nghệ  
Bưu Chính Viễn Thông trong đề tài có mã số 14-HV-  
2020-RD_VT2.  
Hì nh 4. Ảnh hưởng của giá trị cô ng suất phá t lên hiệu  
năng hệ thống với  
PHỤ LỤC A  
K =1  
Cuối cùng, chúng tôi sẽ khảo sát tỉ lệ lỗi khối toàn trình  
là hàm theo công suất phát như Hình 4. Trong Hình 4,  
chúng ta có thể thấy rằng các đường phân tích lý thuyết  
dạng chính xác hoàn toàn trùng khớp với các kết quả mô  
phỏng. Điều này chứng minh rằng các phân tích lý thuyết  
của chúng tôi là chính xác. Hơn nữa, đường xấp xỉ hội tụ  
với đường chính xác và đường mô phỏng ở dải công suất  
phát cao cũng cho thấy rằng các giá trị của tỉ lệ lỗi khối  
luôn nhỏ hơn hoặc bằng các giá trị đường xấp xỉ này. Mặt  
Trong phần này chúng tôi sẽ thực hiện chứng minh công  
thức (10).  
Giả sử trong trường hợp hệ thống truyền dữ liệu 2 chặng  
bao gồm 1 nút nguồn, 1 nút chuyển tiếp và 1 nút đích. Khi  
hệ thống sử dụng kỹ thuật SDF tại nút chuyển tiếp, tỉ lệ lỗi  
khối toàn trình là tổng tỉ lệ lỗi khối của hai trường hợp  
được phân tích cụ thể như sau:  
i) Nếu nút chuyển tiếp không giải mã đúng được dữ liệu  
nhận được từ nút nguồn thì sẽ không tiếp tục chuyển  
tiếp dữ liệu đến nút đích, khi đó tỉ lệ lỗi khối của chặng  
m
khác, khi so sánh với cùng một giá trị  
xác định thì tỉ lệ  
lỗi khối của hệ thống càng giảm khi càng tăng công suất  
nguồn phát. Từ đó, ta có thể kết luận rằng, với dải công  
suất phát càng lớn thì hiệu năng hệ thống càng được cải  
thiện và luôn không vượt quá giá trị của đường giới hạn  
trên (đường tỉ lệ lỗi khối xấp xỉ) và điều này đúng như  
chúng ta mong đợi. Mặc dù tăng công suất phát làm cho  
hiệu năng hệ thống được cải thiện nhưng chúng ta cũng  
không nên lạm dụng tăng công suất phát quá lớn sẽ có thể  
ảnh hưởng can nhiễu lớn lên các người dùng khác của hệ  
thống.  
BLER =1  
hai sẽ bằng 1, hay  
trường hợp này là  
. Ta có tỉ lệ lỗi khối trong  
2
BLER1BLER2 = BLER1  
.
ii) Nút chuyển tiếp có thể giải mã đúng tín hiệu nhận được  
và tiếp tục truyền dữ liệu đến đích. Ta có tỉ lệ lỗi khối  
1− BLER BLER  
trong trường hợp này là  
.
2
(
)
1
Như vậy, tỉ lệ lỗi khối toàn trình trong trường hợp hệ  
thống truyền dữ liệu 2 chặng là  
V. KẾT LUẬN  
BLERe2e = BLER + 1− BLER BLER .  
(A.1)  
(
)
1
1
2
Trong bài báo này, chúng tôi đã đề xuất mạng chuyển  
tiếp đa chặng trong truyền thông gói tin ngắn sử dụng kỹ  
thuật giải mã và chuyển tiếp. Theo kênh truyền fading  
Rayleigh, chúng tôi đã đưa ra biểu thức dạng đóng cho tỉ  
lệ lỗi khối của mô hình đề xuất. Bên cạnh đó, chúng tôi  
cũng đã đưa ra được biểu thức tính tiệm cận của hệ thống  
ở dải công suất phát cao. Ngoài ra, chúng tôi cũng xét sự  
Tương tự, với trường hợp tổng quát, chúng ta xem xét kỹ  
thuật SDF trên chặng. Nếu tại nút chuyển tiếp thứ  
K +1  
k
không giải mã đúng được dữ liệu nhận được  
k =1, K  
(
)
BLER =1  
thì  
với n k . Phân tích tương tự chúng ta sẽ  
n
có tỉ lệ lỗi khối toàn trình như sau  
m
ảnh hưởng của số chặng chuyển tiếp và độ dài khối  
lên  
BLERe2e =BLER + 1−BLER BLER +...  
(
)
1
1
2
hiệu năng hệ thống. Các kết quả phân tích số trong mô hình  
đề xuất đều trùng khớp với kết quả mô phỏng Monte-  
Carlo. Thông qua mô hình đề xuất, ta thấy rằng khi tăng  
+ 1−BLER ... 1−BLER  
1 ) (  
BLER .  
K
(
)
K−1  
(A.2)  
P
m
đều  
lần lượt các giá trị công suất phát  
và độ dài khối  
S
Quy công thức (A.2) về dạng lấy tổng, chúng tôi thu  
được tỉ lệ lỗi khối toàn trình như trong công thức (10).  
làm cho hiệu năng hệ thống được cải thiện một cách đáng  
kể.  
m
Tuy nhiên đối với , cũng phải cân nhắc rằng mục tiêu  
PHỤ LỤC B  
của truyền thông gói ngắn đó là độ dài khối càng ngắn thì  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
47  
 
ĐÁ NH GIÁ HIỆU NĂNG MẠNG CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG TRONG TRUYỀN THÔ NG SỬ DỤNG GÓ I TIN NGẮN  
H  
k  
L  
k  
A== lim m − +exp −  
−exp −  
  
H
L
k
m→+  
   
(B.2)  
K +1  
K +1   
(
)
(
)
   
1
1
1
1
  
   
  
m
m
= lim 1+  m exp −  
2
−1+  
−1 − exp −  
2
−1−  
−1  
.
  
   
  
k
m→+   
  
   
   
  
k  
k  
2m  
2m  
K+1  
m
K+1   
m
(
)
(
)
1
1
1
1
  
A = lim 1+  m  
2
−1−  
−
2
−1+  
  
k
m→+   
  
k  
k  
2m  
2m  
(B.3)  
1
1
= lim 1+  m −  
= lim 0 = 0.  
m→+  
  
k
m→+   
k  
m  
[7] M. O. Hasna and M.-S. Alouini, "End-to-end performance  
of transmission system with relays over Rayleigh-fading  
channels," IEEE Transactions on Wireless Communications,  
vol. 2, no. 6, pp. 1126–1131, 2003.  
[8] V. N. Q. Bao and H. Y. Kong, "Diversity order analysis of  
dual-hop relaying with partial relay selection," IEICE Trans  
Commun, vol. E92B, no. 12, pp. 3942–3946, 2009.  
[9] V. N. Q. Bao, T. T. Thanh, N. T. Duc, and V. D. Thanh,  
"Spectrum sharing-based multihop decode-and-forward relay  
networks under interference constraints: Performance analysis  
and relay position optimization," Journal of Communications  
and Networks, vol. 15, no. 3, pp. 266–275, 2013.  
Trong phần này, chúng tôi chứng minh  
.
lim BLERe2e m = 0  
( )  
m→+  
Như chúng ta đã biết, giới hạn của các tổng bằng tổng  
các giới hạn hội tụ, nghĩa là  
(B.1)với  
lim f x + g x  = 0 lim f x + lim g x = 0,  
( ) ( ) ( ) ( )  
x→+   
x→+  
x→+  
và  
.
lim f x    
lim g x    
( )  
( )  
x→+  
x→+  
Do đó,  
nếu  
lim BLERe2e m = 0  
( )  
lim BLER m = 0  
k ( )  
m→+  
m→+  
[10] V. N. Q. Bao and H. Y. Kong, "Incremental relaying with  
.
k =1, K +1  
partial relay selection,"  
IEICE Transactions on  
(
)
Communications, vol. E93.B, no. 5, pp. 1317–1321, 2010.  
[11] T. M. Hoang, T. T. Duy, and V. N. Q. Bao, "On the  
performance of non-linear wirelessly powered partial relay  
selection networks over Rayleigh fading channels," in 2016 3rd  
National Foundation for Science and Technology Development  
Conference on Information and Computer Science (NICS),  
Sep. 2016, pp. 6–11.  
[12] N. T. Van, T. N. Do, V. N. Q. Bao, and B. An,  
"Performance analysis of wireless energy harvesting multihop  
cluster-based networks over Nakagami-m fading channels,"  
IEEE Access, vol. 6, pp. 3068–3084, 2018.  
[13] P. T. D. Ngoc, T. T. Duy, V. N. Q. Bao, and K. Ho-Van,  
"Performance enhancement for underlay cognitive radio with  
partial relay selection methods under impact of hardware  
impairment," in 2015 International Conference on Advanced  
Technologies for Communications (ATC), Oct 2015, pp. 645–  
650.  
[14] C. T. Dung, N. T. Van, T. T. Duy, V. N. Q. Bao, and N. L.  
Nhat, "Security enhancement for dual-hop RF protocols with  
Nth-best partial relay and EH-based jammer," in 2015  
International Conference on Communications, Management  
and Telecommunications (ComManTel), Dec 2015, pp. 111–  
115.  
m → +  
Thật vậy, đặt A := lim BLER m . Khi  
k ( )  
,
A
m→+  
có thể được viết lại như trong (B.2).  
K+1  
(
)
1
m
m → +  
Khi  
thì  
và  
2
−1+  
→0  
2m  
K+1   
(
)
1
m
. Áp dụng vô cùng bé tương  
2
−1−  
→0  
2m  
exp x −1  
khi  
đương dạng  
cho (B.2), khi đó  
x →0  
( )  
A
có thể được tính như trong (B.3).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] T. Van Nguyen, T.-N. Do, V. N. Q. Bao, D. B. da Costa,  
and B. An, "On the Performance of Multihop Cognitive  
Wireless Powered D2D Communications in WSNs," IEEE  
Transactions on Vehicular Technology, vol. 69, no. 3, pp.  
2684-2699, 2020.  
[2] H. Van Hoa, N. X. Quynh, and V. N. Q. Bao, "On the  
Performance of Non-Orthogonal Multiple Access schemes in  
Coordinated Direct with Partial Relay Selection," in 2018  
International Conference on Advanced Technologies for  
Communications (ATC), 2018: IEEE, pp. 337-343.  
[15] A. Goldsmith, Wireless communications. Standford  
University, 2005.  
[16] S. Dang, et al., "OFDM-IM based dual-hop system using  
fixed-gain amplify-and-forward relay with pre-processing  
capability," IEEE Transactions on Wireless Communications,  
vol. 18, no. 4, pp. 2259-2270, 2019.  
[3] C. Zhong and Z. Zhang, "Non-orthogonal multiple access  
with cooperative full-duplex relaying," IEEE Communications  
Letters, vol. 20, no. 12, pp. 2478-2481, 2016.  
[17] Nhu Tri Do, Daniel Benevides da Costa, Trung Q. Duong,  
Vo Nguyen Quoc Bao, and Beongku An, "Opportunistic  
scheduling for fixed-gain amplify-and-forward-based  
multiuser multirelay SWIPT cooperative networks," presented  
at the 2017 International Conference on Recent Advances in  
[4] Do Dung Nguyen, Vo Nguyen Quoc Bao, and Q. Chen,  
"On the Secrecy Performance of Massive MIMO Relay-Aided  
Downlink with Multiuser Transmission."  
[5] Y. Polyanskiy, H. V. Poor, and S. Verdú, "Channel coding  
rate in the finite blocklength regime," IEEE Transactions on  
Information Theory, vol. 56, no. 5, pp. 2307-2359, 2010.  
[6] W. Yang, G. Durisi, T. Koch, and Y. Polyanskiy, "Quasi-  
static multiple-antenna fading channels at finite blocklength,"  
IEEE Transactions on Information Theory, vol. 60, no. 7, pp.  
4232-4265, 2014.  
Signal Processing, Telecommunications  
(SigTelCom), 2017.  
&
Computing  
[18] T. Q. Duong, Daniel Benevides da Costa, Maged  
Elkashlan, and Vo Nguyen Quoc Bao, "Cognitive amplify-and-  
forward relay networks over Nakagami-m fading," IEEE  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
48  
Huỳnh Văn Hóa, Ngô Hoàng Tú, Võ Nguyễn Quốc Bảo  
___________________________________________________________________________________________________________________________________________  
Transactions on Vehicular Technology vol. 61, no. 5, pp. 2368-  
2374, 2012.  
the optimal value of relay numbers for our proposed  
system model.  
[19] Dac-Binh Ha, Tung Thanh Vu, Tran Trung Duy, and Vo  
Nguyen Quoc Bao, "Secure cognitive reactive decode-and-  
forward relay networks: With and without eavesdropper,"  
Wireless Personal Communications vol. 85, no. 4, pp. 2619-  
2641, 2015.  
[20] N. A. Tuan, Vo Nguyen Quoc Bao, and Truong Trung  
Kien, "Performance Analysis of Energy Harvesting Two-Way  
Decode-and-Forward Relay Networks with Power Beacon  
over Nakagami-m Fading Channels," presented at the 2018  
International Conference on Advanced Technologies for  
Communications (ATC), 2018.  
[21] Y. Lu, and Wai Ho Mow, "Low-complexity Detection and  
Performance Analysis for Decode-and-forward Relay  
Networks," presented at the ICASSP 2019-2019 IEEE  
International Conference on Acoustics, Speech and Signal  
Processing (ICASSP), 2019.  
[22] Nguyen Thi Yen Linh, Chan Dai Truyen Thai, Vo Nguyen  
Quoc Bao, and H. V. Hoa, "Physical Layer Security in Multi-  
hop Relay Networks with Modified Dijkstra’s Routing  
Algorithms," in 2020 7th NAFOSTED Conference on  
Information and Computer Science (NICS), 2020.  
Keywords: block error rate, cooperative networks,  
short packet communications, Rayleigh fading.  
Huỳnh Văn Hóa tốt nghiệp Thạc  
sĩ chuyên ngành viễn thông tại Học  
Viên Công Nghệ Bưu Chính Viễn  
Thông Cơ Sở Tại Thành Phố Hồ  
Chí Minh vào năm 2018. Hiện nay,  
Th. S Hóa là giảng viên của bộ môn  
Thông Tin Quang, Khoa Viễn  
Thông 2, Học Viện Công Nghệ Bưu  
Chính Viễn Thông Cơ Sở Tại  
Thành Phố Hồ Chí Minh. Hướng nghiên cứu chính hiện tại  
đang quan tâm gồm: thông tin vô tuyến, truyền thông hợp  
tác, vô tuyến nhận thức, bảo mật vật lý và truyền thông gói  
tin ngắn.  
Ngô Hoàng Tú tốt nghiệp kỹ sư  
chuyên ngành Truyền thông và  
mạng máy tính tại Đại học Giao  
Thông Vận Tải thành phố Hồ Chí  
Minh vào năm 2020. Hiện nay, Ngô  
Hoàng Tú đang là giảng viên của bộ  
môn Kỹ thuật máy tính, Khoa Công  
nghệ thông tin, trường Đại học  
Giao Thông Vận Tải thành phố Hồ  
[23] X. Lai, Q. Zhang, and J. Qin, "Cooperative NOMA Short-  
Packet Communications in Flat Rayleigh Fading Channels,"  
IEEE Transactions on Vehicular Technology, 2019.  
[24] Y. Gu, H. Chen, Y. Li, L. Song, and B. Vucetic, "Short-  
Packet Two-Way Amplify-and-Forward Relaying," IEEE  
Signal Processing Letters, vol. 25, no. 2, pp. 263-267, 2018,  
doi: 10.1109/LSP.2017.2782828.  
[25] A. P. S. U. Pillai, Probability, Random Variables and  
stochastic processes.  
[26] B. Makki, T. Svensson, and M. Zorzi, "Finite Block-Length  
Analysis of the Incremental Redundancy HARQ," IEEE  
Wireless Commun. Lett., vol. 3, pp. 529-532, Oct. 2014.  
[27] W. Yang, G. Durisi, T. Koch, and Y. Polyanskiy, "Quasi-  
static multipleantenna fading channels at finite blocklength,"  
IEEE Transactions on Information Theory, vol. 60, 2014.  
[28] Y. Yu, H. Chen, Y. Li, Z. Ding, and B. Vucetic, "On the  
Performance of Non-Orthogonal Multiple Access in Short-  
Packet Communications," IEEE Communications Letters, vol.  
22, pp. 590-593, 2018.  
[29] M. Khafagy, A. Ismail, M.-S. Alouini, and S. Aissa, "On  
the outage performance of full-duplex selective decode-and-  
forward relaying," IEEE Communications Letters, vol. 17, no.  
6, pp. 1180-1183, 2013.  
[30] V. N. Q. Bảo, Mô phỏng hệ thống truyền thông. Nhà Xuất  
Bản Khoa học và Kỹ thuật, 2020.  
Chí Minh. Hướng nghiên cứu hiện tại đang quan tâm bao  
gồm: vô tuyến nhận thức, truyền thông hợp tác, đa truy  
nhập không trực giao và truyền thông gói tin ngắn.  
Võ Nguyễn Quốc Bảo tốt nghiệp  
Tiến sĩ chuyên ngành vô tuyến tại  
Đại học Ulsan, Hàn Quốc vào năm  
2010. Hiện nay, TS. Bảo là phó  
giáo sư của Bộ Môn Vô Tuyến,  
Khoa Viễn Thông 2, Học Viện  
Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông  
Cơ Sở Thành Phố Hồ Chí Minh và  
đồng thời là giám đốc của phòng thí  
nghiệm nghiên cứu vô tuyến(WCOMM). TS. Bảo hiện là  
thành viên chủ chốt (senior member) của IEEE và là tổng  
biên tập kỹ thuật của tạp chí REV Journal on Electronics  
and Communication. TS. Bảo đồng thời là biên tập viên  
(editor) của nhiều tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín  
trong và ngoài nước, ví dụ: Transactions on Emerging  
Telecommunications Technologies (Wiley ETT), VNU  
Journal of Computer Science and Communication  
Engineering. TS. Bảo đã tham gia tổ chức nhiều hội nghị  
quốc gia và quốc tế, ví dụ: ATC (2013, 2014),  
NAFOSTED-NICS (2014, 2015, 2016), REV-ECIT 2015,  
ComManTel (2014, 2015), và SigComTel 2017. Hướng  
nghiên cứu hiện tại đang quan tâm bao gồm: vô tuyến nhận  
thức, truyền thông hợp tác, truyền song công, bảo mật lớp  
vật lý và thu thập năng lượng vô tuyến.  
ON THE PERFORMANCE OF  
MULTIHOP NETWORKS WITH DECODE  
AND FORWARD RELAYS IN SHORT  
PACKET COMMUNICATIONS  
Abstract: This paper investigates the short packet  
communications for multi-hop networks with DF relays.  
Under Rayleigh fading channels, we obtain the closed-  
form expressions for exact system block error rate (BLER)  
of proposed system model. Besides that, we also derive the  
asymptotic system BLER in high regime of source’s  
transmit power to get more insight about the performance  
which is affected by some system model parameters.  
Eventually, the accuracy of our analytical expressions are  
verified by Monte Carlo simulations and demonstrate the  
advantages of the system model. Especially, we figure out  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
49  
pdf 7 trang Thùy Anh 16680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu năng mạng chuyển tiếp đa chặng trong truyền thông gói tin ngắn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_nang_mang_chuyen_tiep_da_chang_trong_truyen_th.pdf