Đề kiểm tra Học kì 2 môn Ngữ văn Lớp 12 - Bài số 7 - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Bác Ái (Có đáp án)

I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:  
Thu thập thông tin để đánh giá mức độ chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình Ngữ  
văn lớp 12.  
Khảo sát bao quát một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình Ngữ  
văn 12 theo 3 nội dung Văn học, Tiếng Việt, Làm văn; với mục đích đánh giá năng lực  
đọc – hiểu và tạo lập văn bản của HS thông qua hình thức kiểm tra tự luận.  
Cụ thể, đề kiểm tra nhằm đánh giá trình độ học sinh theo các chuẩn sau:  
- Nắm được cách đọc – hiểu một văn bản hay một tác phẩm văn học và rút ra ý nghĩa từ  
thực tế cuộc sống.  
- Phân tích được phẩm chất anh hùng cách mạng trong “Rừng xà nu” của Nguyễn  
Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyên Thi.  
- Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội, nghị luận văn học.  
II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA:  
Hình thức: Tự luận  
Cách tổ chức kiểm tra: Cho học sinh làm bài kiểm tra tự luận trong 90 phút.  
III. THIẾT LẬP MA TRẬN:  
- Liệt kê tất cả các chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn Ngữ văn lớp 12, học  
kì II.  
- Chọn các nội dung cần đánh giá và thực hiện các bước thiết lập ma trận đề kiểm tra  
(theo các bước như minh hoạ ở trên).  
- Xác định khung ma trận.  
KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II LỚP 12 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN  
Tên chủ  
đề  
(nội dung,  
chương)  
Chủ đề 1  
Vận dụng  
Cộng  
Thông  
hiểu  
Nhận biết  
Cấp độ  
Cấp độ  
thấp  
cao  
Nắm được Rút ra ý  
Đọc hiểu cách đọc – nghĩa từ  
văn học  
hiểu một thực  
tế  
văn  
bản cuộc sống  
hay một  
tác phẩm  
văn học  
Số câu  
Số câu  
Số câu: 1  
Số điểm: Số điểm  
3,0  
Số câu  
Số câu  
Số điểm  
Số câu: 1  
Số điểm:  
3,0  
Số điểm Tỉ Số điểm  
lệ %  
(30%)  
Chủ đề 2  
Tiếng Việt  
Số câu  
Số câu  
Số câu  
Số câu  
Số câu  
Số câu  
Số điểm Tỉ Số điểm  
Số điểm  
Số điểm  
Số điểm  
Số điểm  
lệ %  
Chủ đề 3  
Làm văn  
Biết cách Phân tích  
làm  
bài được  
phẩm chất  
văn  
NLXH  
anh hùng  
cách mạng  
trong  
“Rừng xà  
nu” của  
Nguyễn  
Trung  
Thành và  
“Những  
đứa con  
trong gia  
đình” của  
Nguyên  
Thi  
Số câu  
Số câu  
Số câu  
Số câu: 1 Số câu: 1 Số câu: 1  
Số điểm Tỉ Số điểm  
Số điểm  
Số điểm: Số điểm: Số điểm:  
lệ %  
3,0  
4,0  
7,0 (70%)  
Tổng  
câu  
Tổng  
điểm  
Tỉ lệ %  
số Số câu  
Số điểm  
số  
Số câu: 1  
Số câu: 1 Số câu: 1 Số câu: 2  
Số điểm: Số điểm: Số điểm: Số điểm:  
3,0  
30%  
3,0  
4,0  
10  
30%  
40%  
100%  
IV. BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA:  
SỞ GD – ĐT NINH THUẬN  
TRƯỜNG THPT BÁC ÁI  
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II (BÀI SỐ 7) – LỚP 12  
NĂM HỌC: 2015-2016  
Môn: Ngữ văn – Chương trình Chuẩn  
Thời gian làm bài: 90 phút  
(Không kể thời gian phát đề)  
Đề:  
(Đề gồm có 02 trang)  
Phần I: Đọc – hiểu văn học (3,0 điểm)  
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới  
Như nước Đại Việt ta từ trước,  
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.  
Núi sông bờ cõi đã chia,  
Phong tục Bắc Nam cũng khác.  
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,  
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.  
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,  
Song hào kiệt đời nào cũng có.  
(Nguyễn Trãi, Đại cáo bình Ngô )  
Câu 1: Chỉ ra thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn trích? (0,5)  
Câu 2: Vấn đề bàn đến thuộc lĩnh vực nào giữa hai miền? (0,5)  
Câu 3: Phong cách ngôn ngữ sử dụng trong đoạn trích? (0,25)  
Câu 4: Viết cảm nhận 5-7 dòng về nội dung, ý nghĩa đoạn trích. (0,5)  
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới  
Văn hóa – đó có phải là sự phát triển nội tại bên trong một con người hay không?  
Tất nhiên rồi. Đó có phải là cách ứng xử của anh ta với người khác không? Nhất định là  
phải. Đó có phải là khả năng hiểu người khác không? Tôi cho là thế. Đó có phải là khả  
năng làm cho người khác hiểu mình không? Tôi cho là như vậy. Văn hóa nghĩa là tất cả  
những cái đó. Một người không hiểu được quan điểm của người khác tức là trong chừng  
mực nào đó anh ta có hạn chế về trí tuệ và văn hóa.  
Một trí tuệ có văn hóa, có cội nguồn từ chính nó, cần phải có những cánh cửa mở  
rộng. Nó cần có khả năng hiểu được đầy đủ quan điểm của người khác, mặc dù không  
phải bây giờ cũng đồng ý với quan điểm đó. Vấn đề đồng ý chỉ nảy sinh khi anh đã hiểu  
được sự việc. Nếu không, đó chỉ là sự cự tuyệt mù quáng, quyết không thể là cách tiếp  
cận có văn hóa đối với bất cứ vấn đề gì.  
Đến đây, tôi sẽ để các bạn quyết định lấy văn hóa và sự khôn ngoan thật sự là gì.  
Chúng ta tiến bộ nhờ học tập, nhờ kiến thức và kinh nghiệm. Đến lúc tích lũy được một  
lượng khổng lồ các thứ đó, chúng ta lại trở nên không tài nào biết được mình đang ở  
đâu! Chúng ta bị tràn ngập bởi mọi thứ và không hiểu sao, chúng ta lại có cảm giác rằng  
tất cả mọi thứ đó cộng lại chưa hẳn đã nhất thiết đại diện cho sự phát triển của trí khôn  
con người… Trong tương lai sắp tới, liệu chúng ta có thể kết hợp được tất cả sự phát  
triển của khoa học, của trí thức và những tiến bộ của con người với sự khôn ngoan thật  
sự hay không? Tôi không biết. Đó là một cuộc chạy đua giữa các lực lượng khác nhau.  
Tôi nhớ đến một người rất thông thái – một nhà thơ Hi Lạp nổi tiếng, đã nói:  
“Sự khôn ngoan là gì,  
Chính là sự cố gắng của con người,  
Vượt lên sợ hãi,  
Vượt lên hận thù,  
Sống tự do,  
Thở hít khí trời và biết chờ đợi,  
Dành trọn tình yêu cho những gì tươi đẹp”.  
(Gi. Nê-ru, theo Nhân dân chủ nhật, tháng 12 – 1997)  
Câu 5: Vấn đề mà Gi. Nê-ru đưa ra nghị luận là gì? Căn cứ vào nội dung cơ bản của vấn  
đề ấy, hãy đặt tên cho văn bản. (0,5)  
Câu 6: Để nghị luận, tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào? Nêu ví dụ. (0,5)  
Câu 7: Cách diễn đạt trong văn bản trên có gì đặc sắc? (0,25)  
Phần II: Làm văn (7,0 điểm)  
Câu 1: 3,0 điểm  
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình  
Phải biết gắn bó và san sẻ  
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở  
Làm nên Đất Nước muôn đời...  
(Đất Nước, trích Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm)  
Dựa vào những câu thơ trên, anh (chị) hãy phát biểu trong một bài văn ngắn (không quá  
300 từ) ý kiến cá nhân về trách nhiệm của thế hệ thanh niên hiện nay với đất nước.  
Câu 2: 4,0 điểm  
Cảm nhận về chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành  
và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.  
---------Hết---------  
SỞ GD – ĐT NINH THUẬN  
TRƯỜNG THPT BÁC ÁI  
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II (BÀI SỐ 7) – LỚP 12  
NĂM HỌC: 2015-2016  
Môn: Ngữ văn – Chương trình Chuẩn  
ĐÁP ÁN, HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ BIỂU ĐIỂM  
(Đáp án có 06 trang)  
PHẦN/  
CÂU  
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM  
BIỂU  
ĐIỂM  
3,0  
I
Câu 1 So sánh  
0,5  
Câu 2 Vấn đề bàn đến: Nền văn hiến lâu đời, ranh giới quốc gia, văn  
hóa, phong tục, chính trị, quân sự (anh hùng hào kiệt) của miền  
Bắc (Trung Quốc), miền Nam (Việt Nam).  
Câu 3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật  
Câu 4 Khẳng định chủ quyền độc lập, nền văn hiến lâu đời của dân tộc  
ta trước sự xâm lăng của giặc phương Bắc.  
Câu 5 Vấn đề mà Nê-ru cố tổng thống Ấn Độ nêu ra là văn hoá và  
những biểu hiện ở con người. Dựa vào đây ta đặt tên cho văn bản  
là:  
0,5  
0,25  
0,5  
0,5  
Văn hoá con người  
Câu 6 Tác giả sử dụng các thao tác lập luận  
+ Giải thích + chứng minh  
0,5  
+ Phân tích + bình luận  
+ Đoạn từ đầu đến “hạn chế về trí tuệ và văn hoá” giải thích +  
khẳng định vấn đề (chứng minh).  
+ Những đoạn còn lại là thao tác bình luận  
0,25  
Câu 7  
II  
Cách diễn đạt rõ ràng, văn giàu hình ảnh.  
* Yêu cầu về kĩ năng:  
7,0  
Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Bài làm có kết  
cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng  
từ, ngữ pháp.  
* Yêu cầu về kiến thức:  
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng lí lẽ  
và dẫn chứng cần phải hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:  
Câu 1  
3,0  
- Đất nước kết tinh, hóa thân trong mỗi con người; con người  
phải có tinh thần cống hiến, có trách nhiệm đối với sự trường tồn  
của quê hương, xứ sở.  
1,5  
1,5  
- Suy nghĩ của cá nhân về lời nhắn nhủ trong những câu thơ trên.  
Cần nêu ý kiến riêng của bản thân, có sự lí giải khác nhau nhưng  
cần phải lôgic, thuyết phục.  
II  
* Yêu cầu về kĩ năng:  
7,0  
Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận, vận dụng khả năng đọc  
hiểu để phân tích chất liệu nghệ thuật trong văn học. Bài làm có  
kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, lỗi  
dùng từ, ngữ pháp.  
* Yêu cầu về kiến thức:  
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng lí lẽ  
và dẫn chứng cần phải hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:  
Câu 2  
4,0  
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là sự thể hiện của lòng yêu  
nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tinh thần chiến đấu bất  
khuất chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ tổ quốc của con người  
Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là sự  
trung thành với lí tưởng cách mạng được thử thách trong những  
hoàn cảnh khốc liệt, qua đó bộc lộ được vẻ đẹp của phẩm chất  
anh hùng có tính chất tiêu biểu cho cả dân tộc.  
- Cả hai tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đều gắn bó  
với cuộc chiến đấu chống Mĩ, là những nhà văn chiến sĩ ở tuyến  
đầu máu lửa. Chính từ những năm tháng tham gia chiến đấu đó,  
hai truyện ngắn “Rừng xà nu” (1965), “Những đứa con trong gia  
đình” (1966) đều ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng  
chiến chống Mỹ cứu nước, khi đế quốc Mĩ đổ quân vào miền  
Nam nước ta, dân tộc ta đứng trước trận chiến một mất một còn  
để bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ quyền sống. Đó là bối cảnh lịch  
sử để từ đó hai tác phẩm ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng,  
với chất sử thi đậm đà.  
1,0  
1,5  
1,5  
- Những nhân vật chính trong hai câu chuyện đều là những người  
con được sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê  
hương, của dân tộc. Làng Xô Man- quê hương Tnú ở trong tầm  
đại bác của giặc, nơi mà từng người dân đều hướng về cách  
mạng, bảo vệ cán bộ “Đảng còn thì núi nước này còn”. Còn  
Chiến và Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước,  
căm thù giặc: Cha là cán bộ cách mạng, má là người phụ nữ Nam  
bộ kiên cường trong đấu tranh, hai người con tiếp nối lí tưởng  
của cha mẹ.  
- Những con người đó đã chịu nhiều đau thương, mất mát do kẻ  
thù gây ra, tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc. Tnú  
có một mối tình với Mai đẹp tựa như trong truyện truyền kì, cuộc  
đời còn hứa hẹn biết bao hạnh phúc ở trước mắt nhưng chính  
Tnú lại có một số phận đầy bi kịch. Kẻ thù đã bắt vợ con anh và  
tra tấn họ đến chết. Tnú tận mắt chứng kiến tất cả và lòng căm  
thù, lòng yêu thương đã khiến đôi mắt anh hiện lên như hai hòn  
lửa lớn. Anh lao thẳng vào lũ giặc nhưng vẫn không thể cứu  
được vợ con, vì anh chỉ có hai bàn tay trắng, không vũ khí. Bản  
thân anh cũng bị địch bắt, và thật là đau xót, anh bị chúng đốt cả  
mười đầu ngón tay bằng chính thứ nhựa xà nu vàng óng, thơm  
mát của quê hương mình. Đó là một bi kịch vô lí và đớn đau.  
- Còn Chiến và Việt, những đứa trẻ còn thơ, mới lớn đã phải  
chứng kiến cái chết đầy thương tâm của ông nội và bố, mẹ vừa  
phải vất vả nuôi con, vừa phải đương đầu với những đe doạ, hạch  
sách của bọn giặc, cuối cùng cũng chết vì đạn bom.  
- Và những đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm  
thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam. Biến đau thương thành  
sức mạnh chiến đấu cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa anh  
hùng cách mạng: Tnú lên đường đi “lực lượng” dù mỗi ngón tay  
mất đi một đốt, Chiến và Việt cùng vào bộ đội, coi việc đánh  
giặc trả nợ nước thù nhà là lẽ sống. Họ chiến đấu bởi sức mạnh  
của lòng căm thù giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu  
thương, vì: chỉ có cầm vũ khí đứng lên, ta mới có thể bảo vệ  
được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống.  
Chân lí đó đã được minh chứng qua số phận và con đường cách  
mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên,  
chân lí đó cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó  
càng có giá trị, càng phải khắc sâu vào lòng người.  
- Chịu bao thương đau, mất mát nhưng họ đều mang phẩm chất  
anh hùng, bất khuất, là những con người Việt Nam kiên trung  
trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Tnú là nhân vật  
được kết tinh từ vẻ đẹp tiêu biểu nhất của con người Tây  
Nguyên: gan góc, dũng cảm, mạnh mẽ và rất giàu lòng yêu  
thương. Trước hết, Tnú rất gắn bó với cách mạng. được cụ Mết  
chỉ bảo nên ngay từ lúc nhỏ, Tnú đã tham gia việc nuôi giấu cán  
bộ và hoàn thành xuất sắc công việc giao liên. Nhiều đêm Tnú  
phải ngủ lại trong rừng vì sợ lỡ giặc lùng, ai dắt cán bộ chạy.  
Tnú luôn nghe lời chỉ huy của cán bộ. Được anh Quyết dạy chữ,  
Tnú khắc phục khó khăn, cố gắng học tập. Không có bảng,  
không có phấn, Tnú lấy nứa làm bảng và đi ba ngày đường tới  
núi Ngọc Linh mang về một xà lết đầy đá trắng làm phấn.  
Khi Tnú tỏ ra chán nản vì mình tối dạ, học không nhớ được thì  
một lời động viên của anh Quyết đã truyền thêm sức mạnh tinh  
thần giúp Tnú cố gắng hơn. Tnú vô cùng gan dạ, dũng cảm.  
Ngay từ ngày làm giao liên, Tnú không bao giờ chịu đi đừng  
mòn, cứ xé rừng mà đi, qua sông, Tnú không thích lội chỗ nước  
êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang. Khi bị giặc bắt, Tnú can  
đảm chịu những đòn tra tấn, để sau khi vượt ngục vẫn tiếp tục  
cùng cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô Man mài giáo, mài rựa chống  
lại kẻ thù. Khi bản làng bị càn quét, vợ con Tnú bị giặc hành hạ,  
giết chết một cách giã man, nhất là khi anh bị thằng Dục tẩm  
nhựa xà nu để đốt mười ngón tay thành mười ngọn đuốc. Tnú  
càng thấm thía nỗi đau thương và căm thù giặc, dần dần nhận  
thức sâu sắc về kẻ thù và quyết tâm hành động. Anh ra đi “lực  
lượng” quyết tiêu diệt cho hết kẻ thù tàn ác, bởi lẽ “chúng nó đứa  
nào cũng là thằng Dục cả”. Ngoài ra Tnú là một con người giàu  
tình cảm yêu thương. Anh yêu thiết tha bản làng. Sinh ra và lớn  
lên giữa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, giữa những con người  
mộc mạc, thuần hậu, Tnú thấy gắn bó thân thiết với cảnh và  
người ở quê hương mình. Ba năm đi chiến đấu xa bản làng, khi  
trở về, Tnú vô cùng xúc động. Anh nhớ rõ từng hàng cây, con  
đường, nơi mà ngày xưa Mai đã thổ lộ tình cảm yêu mến ngay  
khi anh mới ở tù về. Anh cũng bồi hồi khi ghe tiếng chày giã gạo  
của người dân làng, tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những  
người đàn bà, những cô gái Strá mà suốt cuộc đời anh vẫn nhớ.  
Anh yêu thương vợ con tha thiết. Chính vì yêu thươg rất nhiều  
nên anh căm thù sâu sắc bọn giặc đã dùng cây sắt đánh chết vợ  
con anh. Anh cũng yêu thương mọi người. Làng Xô Man đã  
dành cho anh một tình cảm đặc biệt nồng hậu, thân thiết. Những  
cặp mắt tròn xoe rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo vui  
của mọi người đã thể hiện niềm vui mừng khi đón Tnú về làng. -  
- Vô cùng dũng cảm khi đối diện với kẻ thù, tha thiết yêu thương  
bản làng, quê hương, ấp ôm một kỉ niệm đớn đau về cái chết của  
vợ con, luôn luôn gắn bó với cách mạng, ở Tnú toát lên vẻ đẹp  
của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của chủ  
nghĩa anh hùng cách mạng thời chống Mỹ.  
- Còn với những đứa con trong gia đình, Trước hết là nhân vật  
Chiến , người con gái mang vẻ đẹp kiểu Út Tịch, một vẻ đẹp rất  
riêng của người phục nữ Nam bộ mà Nguyễn Thi vẫn hằng ưa  
thích: hồn nhiên, chất phác, tảo tần, biết lo toan việc nước, việc  
nhà trọn vẹn mọi bề trước sau, đánh giặc thì xông xáo, gan góc,  
dũng cảm mà trở về với cuộc sống thường nhật lại rất giàu tình  
cảm và long yêu thương.  
- Trong kí ức của Việt, chị Chiến như là sự hiện thân, sự kế thừa  
của má. Chị Chiến cũng mang vóc dáng của mẹ mình “hai bắp  
tay tròn vo, sạm đỏ màu cháy nắng... thân người to và chắc  
nịch”.  
- Đặc biệt nhất là cái đêm hai chị em sắp xa nhà đi bộ đội. Phải  
tự mình đứng ra lo liệu việc nhà, thu xếp để cùng Việt lên đường,  
Chiến mới bộc lộ hết tính cách người lớn, đảm đang, tháo vát,  
biết thay mẹ quán xuyến, cắt đặt mọi việc trong nhà đâu ra đấy,  
từ việc em út, nhà cửa, ruộng vườn, cho đến cả cái giường, ván  
và nơi gửi bàn thờ má. Chưa bao giờ Việt lại thấy chị Chiến liệu  
việc nhà giống má đến như vậy : “Chà, chị Chiến bữa nay nói in  
hệt má vậy. Cũng ở trong giường mà nói với ra, cũng nằm với  
thằng út em, ở trên cái giường đó”. Chính Chiến đêm ấy cũng  
thấy mình như đang hòa vào mẹ. Cho nên không phải ngẫu nhiên  
đến sáng hôm sau khi nghe Chiến trình bày lại sự sắp đặt của  
mình, chú Năm đã phải khen “Khôn, việc nhà nó thu được gọn  
thì việc nước nó mới mở được rộng, gọn bề gia thế đặng bề nước  
non...”.  
- Hai chị em đều là những chiến sĩ dũng cảm tuy tuổi đều còn  
nhỏ, nhưng so với Việt, Chiến chỉ hơn Việt một tuổi mà đã người  
lớn hơn hẳn Việt. Chiến cũng gắn bó với lớp người đi trước  
nhiều hơn. Chị có thể bỏ cả ăn để đánh vần cuốn sổ truyền thống  
của gia đình; không chỉ giống má, Chiến còn học được cả cách  
nói “trọng trọng” của chú Năm. Ví truyền thống cách mạng của  
cả gia đình là một dòng sông và mỗi người là một khúc sông của  
dòng sông ấy thì so với lớp người đi trước, Chiến là một khúc  
sông sau. Khúc sông bao giờ cũng chảy được xa hơn khúc sông  
trước. Đấy cũng là chỗ để Chiến khác với mẹ mình. Người mẹ  
trước nỗi đau mất chồng đã không có dịp nào được cầm súng,  
còn Chiến đã được đi bộ đội để đánh giặc trả thù nhà với quyết  
tâm: Tao đã thưa với chú Năm rồi, đã làm thân con gái ra đi thì  
tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”. Và Chiến  
đã lập được nhiều chiến công lớn, bắn chìm tàu chiến của địch  
trên sông Dịch Thuỷ, trở thành một tiểu đội trưởng của bộ đội nữ  
địa phương quân tỉnh Bến Tre...  
- Việt là hình tượng nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả và cũng  
chịu đựng nhiều nét tâm lí, tính cách khá độc đáo. người đọc  
thích nhân vật này trước hết ở cái vẻ ngoài lộc ngộc, vô lo vô  
nghịch của cậu con trai đang tuổi ăn, tuổi lớn. Nhưng sự trẻ con  
vô tư vẫn không ngăn cản Việt trở thành một dũng sĩ diệt Mỹ.  
Ngược lại chính nó càng làm cho phẩm chất anh hùng của Việt  
ngày thêm độc đáo.  
- Đọc truyện ta chưa thấy lúc nào Việt hết ngây thơ, nhưng ta  
vẫn chưa thấy lúc nào Việt phải chịu khuất phục trước sự tàn bạo  
của quân giặc. Ngay từ lúc còn bé tí, Việt đã dám xông vào đá  
cái thằng giặc đã giết cha mình. Đến lúc bị thương nặng, nằm lại  
một mình giữa chiến trường mênh mông bóng tối, đôi mắt không  
còn nhìn thấy gì và hai bàn tay còn tê nhức đến dại đi, vậy mà  
lúc tỉnh lại, nghe tiếng trực thăng trên đầu và tiếng pháo trước  
mặt vẫn ăn thua sống mái với quân thù: “trên trời có mày, dưới  
đất có mày, khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì  
tao cũng bắn được mày”.  
- Việt coi việc đi đánh giặc nó cũng tự nhiên như chuyện đi bắt  
ếch hay đi bắn ná thun thôi, đánh giặc kì cho đến lúc đền được  
nợ nước, trả xong thù nhà thì cũng là chuyện tự nhiên thường  
tình, chứ có gì đâu... Việt chính là hiện thân của khí thế tiến công  
của thời đại và cùng với chị Chiến “những người con trong gia  
đình” đã thật sự cứng cáp, trưởng thành, chững chạc trong tư thế  
người anh hùng.  
- Và chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở từng  
nhân vật, mà còn thể hiện ở tập thể nhân vật anh hùng, và mỗi  
nhân vật đều tượng trưng cho phẩm chất của cả cộng đồng: Cụ  
Mết, Mai, Dít, Heng trong “Rừng xà nu”; ba, má, chú Năm trong  
“Những đứa con trong gia đình”. Họ đều là những con người yêu  
quê hương đất nước, gắn bó với buôn làng, với gia đình, với  
người thân yêu. Tình yêu tổ quốc của họ bắt đầu từ những tình  
cảm bình dị đó, cho nên nó càng bền bỉ, càng có sức mạnh lớn  
lao khiến kẻ thù phải run sợ.  
- Các nhân vật của hai truyện ngắn đều đã vượt lên nỗi đau và bi  
kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những đau thương của  
họ cũng chính là đau thương của dân tộc trong những năm tháng  
thương đau của chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của  
họ cũng chính là tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện  
cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.  
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn thể hiện ở sức sống bất diệt  
của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu ác liệt: Dân làng  
Xô Man như rừng cây xà nu mặc dù “Trong rừng hàng vạn cây,  
không cây nào không bị thương”, nhưng vẫn “ưỡn tấm ngực lớn  
của mình ra che chở cho làng”, một cây ngã xuống thì bốn năm  
cây con mọc lên. Mai hi sinh thì Dít vươn lên thay thế, Heng như  
cây xà nu non hứa hẹn trở thành cây xà nu cường tráng tiếp nối  
cha anh. Tầng tầng, lớp lớp những người dân Xô Man Tây  
Nguyên tiếp nối đứng lên kiên cường chiến đấu với quân thù để  
bảo vệ quê hương đất nước mình.  
- Còn trong những đứa con trong gia đình, Ông nội bị giặc giết,  
cha của Chiến và Việt trở thành cán bộ Việt Minh, cha bị giết hại  
dã man, má Việt tiếp tục nuôi con và chiến đấu, đến khi má ngã  
xuống thì anh em Chiến và Việt lại tiếp nối con đường chiến đấu,  
thực hiện lí tưởng của gia đình, và trong dòng sông truyền thống  
của gia đình, họ là khúc sông sau nên hứa hẹn đi xa hơn cả thế hệ  
trước.  
- Sự tiếp nối và kế thừa đó đã làm nên chủ nghĩa anh hùng cách  
mạng của con người Việt Nam thời chống Mĩ, là sức sống bất  
diệt giúp họ vượt qua bao đau thương do kẻ thù gây ra để tiếp tục  
chiến đấu và chiến thắng.  
- Nghệ thuật sử thi với những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa  
sống còn của đất nước đã góp phần phản ánh sâu sắc chủ nghĩa  
anh hùng cách mạng yêu nước.  
- Đó là những lời ngợi ca, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn cách  
mạng, ngợi ca phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam  
trong kháng chiến chống Mỹ, những con người tiêu biểu cho  
cộng đồng về lí tưởng và phẩm chất, nhân danh cộng đồng mà  
chiến đấu, hi sinh.  
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại chống Mĩ  
hiện diện trên khắp mọi miền của đất nước. Từ nông thôn đến  
thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng đến miền  
núi. Tất cả tạo nên một sức mạnh long trời lở đất để “nhấn chìm  
lũ bán nước và quân cướp nước”. Hai tác phẩm với Cuộc đời và  
sự hi sinh của những con người Việt Nam anh hùng mãi mãi là  
bản anh hùng ca tuyệt đẹp cho các thế hệ Việt Nam noi theo.  
------Hết------  
doc 11 trang Thùy Anh 12440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra Học kì 2 môn Ngữ văn Lớp 12 - Bài số 7 - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Bác Ái (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docde_kiem_tra_hoc_ki_2_mon_ngu_van_lop_12_bai_so_7_nam_hoc_201.doc