Đánh giá sự hài lòng của khách hàng: Một khảo nghiệm mô hình Servperfl tại công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ Xuân Oánh

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG:  
MỘT KHẢO NGHIỆM MÔ HÌNH SERVPERFL TẠI CÔNG TY  
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN THƢƠNG MẠI  
DỊCH VỤ XUÂN OÁNH  
Đỗ Thị Ý Nhi(1), Hồ Thị Tƣờng Quyên(1), Nguyễn Viết Xuân Sang(1)  
(1) Trường Đại học Thủ Dầu Một  
Ngày nhận bài: 20/1/2021; Ngày gửi phản biện: 29/1/2021; Chấp nhận đăng: 30/5/2021  
Liên hệ email: [email protected]  
Tóm tắt  
Trong bối cảnh thị trường ngành dịch vụ phát triển ngày càng mạnh, sự hài lòng  
của khách hàng là một tài sản rất quan trọng đối với doanh nghiệp trong quá trình phát  
triển bền vững của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp nỗ lực đẩy mạnh dịch vụ  
chăm sóc khách hàng nhằm nâng cao chất lượng và thỏa mãn sự hài lòng của khách  
hàng đối với các dịch vụ của doanh nghiệp. Thông qua việc điều tra bằng bảng câu hỏi  
với 150 khách hàng sử dụng dịch vụ của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên  
Thương mại Dịch vụ Xuân Oánh. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng có 6 nhân tố  
tác động vào mức độ hài lòng của khách hàng và thứ tự mức độ tác động được sắp xếp  
từ mạnh tới yếu: (1) Sự cảm thông; (2) Mức độ đáp ứng; (3) Phương tiện hữu hình; (4)  
Sự tin cậy; (5) Năng lực phục vụ; (6) Sự đảm bảo. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm  
nâng cao cho chất lượng dịch vụ doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách  
hàng về dịch vụ của công ty.  
Từ khóa: chất lượng dịch vụ, khách hàng, sự hài lòng  
Abstract  
ASSESSMENT OF CUSTOMER SATISFACTION FOR CUSTOMER CARE  
SERVICES AT XUAN OANH TRADING - SERVICE ONE MEMBER CO., LTD  
In the context of a growing market for the service industry, customer satisfaction  
is a very important asset for businesses in the sustainable development process of  
businesses. Through a questionnaire investigation with 150 customers using the  
services of Xuan Oanh Trading Services Company Limited. Research results also show  
that there are 6 factors affecting the level of customer satisfaction and the order of  
impact is arranged from strong to weak: (1) Empathy; (2) Response level; (3) Tangible  
means; (4) Confidence; (5) Service capacity; (6) Guarantee. From there, proposing  
some solutions to improve business service quality to better meet the needs of customers  
for the company's services.  
66  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
1. Đặt vấn đề  
Trong quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế của đất nước, các ngành dịch vụ  
ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình, giá trị của các ngành dịch vụ mang lại  
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội. Đồng thời, trong nền kinh tế ngày nay  
dịch vụ trải nghiệm là một chủ đề quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu và các nhà quản lý  
doanh nghiệp quan tâm (Eiglier, 2004), bởi vì chỉ khi trải nghiệm thì khách hàng mới đánh  
giá được sự hài lòng với dịch vụ. Nhưng trên thực tế, khách hàng ngày càng có nhiều thông  
tin trên thị trường và càng có nhiều sự lựa chọn trong quá trình trải nghiệm dịch vụ nên họ  
trở nên khó tính hơn và đòi hỏi cao hơn nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Vì vậy, ngoài  
việc cần có một sản phẩm tốt, giá cả, dịch vụ phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng thì  
doanh nghiệp cần chú trọng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ (Parasuraman và nnk.,  
1988), giá trị dịch vụ và sự hài lòng khách hàng (Zeithaml và nnk., 1996).  
Trong thời gian qua đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về sự hài lòng của  
khách hàng đối với chất lượng dịch vụ trên các lĩnh vực nhưng khác nhau về thị trường  
và thước đo đánh giá (Seth và nnk., 2008). Điều này cho thấy, mỗi doanh nghiệp đều có  
các yếu tố của môi trường bên trong hoàn toàn khác nhau, nên mức độ trải nghiệm dịch  
vụ của khách hàng cũng khác nhau. Vì chất lượng trải nghiêm được khách hàng cảm  
nhận qua cảm quan, nhận thức, cảm xúc tương tác với người cung cấp dịch vụ trong  
môi trường diễn ra dịch vụ (Camlis & Llosa, 2011). Công ty TNHH MTV TMDV Xuân  
Oánh là một trong những công ty chuyên kinh doanh vỏ xe và các dịch vụ cho xe ô tô,  
xe tải trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Mặc dù đạt được những thành công nhất định trong  
kinh doanh nhưng công ty đang đối mặt với sự cạnh tranh với các công ty trong và  
ngoài nước một cách gay gắt. Do vậy, việc xác định những yếu tố giúp nâng cao sự hài  
lòng của khách hàng đối với các dịch vụ của công ty rất cần thiết để công ty có khả  
năng nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
Sự hài lòng của khách hàng.  
Sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng  
đáp lại kinh nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ (Bachelet, 1995). Cũng  
đồng quan điểm trên, Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng, “sự hài lòng của khách hàng  
là sự đánh giá của khách hàng thông qua một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được  
mong muốn và yêu cầu của họ”. Trong khi đó Oliva, Oliver và Bearden (1995) cho rằng  
sự chênh lệch, hay mối quan hệ của giá trị sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng nhận được  
so với những sản phẩm dịch vụ trước đó sẽ cho thấy sự hài lòng của khách hàng.  
Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng  
Theo Kotler (2001), sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của  
67  
một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch  
vụ và những kỳ vọng của khách hàng. Hay sự hài lòng của khách hàng chính là trạng  
thái cảm nhận của khách hàng đã trải nghiệm sản phẩm/dịch vụ (Bachelet, 1995). Điều  
này cho thấy, để đạt được sự thỏa mãn của khách hàng về dịch vụ, hầu hết các tác giả  
đều cho rằng chất lượng dịch vụ là một tiền đề của sự hài lòng của khách hàng (Mesay,  
2012). Bởi vì sự hài lòng sẽ là một ảnh hưởng tiềm năng về nhận thức chất lượng tương  
lai (Clemes, 2007). Vì vậy, chất lượng dịch vụ được cải thiện thì khả năng sự hài lòng  
của khách hàng tăng lên, mà sự hài lòng của khách hàng tăng lên sẽ làm tính trung  
thành của khách hàng đối với dịch vụ tăng lên.  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
2.2.1. Mô hình “Kỳ vọng – Cảm nhận”  
Mô hình “Kỳ vọng – Cảm nhận” của Oliver (1980) đưa ra nhằm đánh giá về sự  
hài lòng của khách hàng, đó là sự kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận thực  
tế về dịch vụ sau khi trải nghiệm. Có ba trường hợp có thể xảy ra đối với mô hình này  
là: (1) Nếu cảm nhận thực tế hoàn toàn trùng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ cảm thấy  
hài lòng; (2) Nếu cảm nhận thực tế lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng sẽ rất hài lòng và  
mang tính tích cực; (3) Nếu cảm nhận thực tế nhỏ hơn so với kỳ vọng thì khách hàng  
không hài lòng và thất vọng với dịch vụ.  
2.2.2. Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ  
Parasuraman & nnk (1985, 1988) đã nghiên cứu và đưa ra mô hình năm khoảng  
cách chất lượng dịch vụ được các nhà nghiên cứu trên thế giới chấp nhận và sử dụng  
khá phổ biến. Họ cho rằng “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của  
khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi sử dụng qua dịch vụ đó”.  
– Khoảng cách 1 (KC1): Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của  
khách hàng với kỳ vọng của khách hàng.  
– Khoảng cách 2 (KC2): Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của  
khách hàng với tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ.  
– Khoảng cách 3 (KC3): Khoảng cách giữa tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế  
cung cấp cho khách hàng.  
– Khoảng cách 4 (KC4): Khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế cung cấp  
và chất lượng dịch vụ đã thông tin tới khách hàng.  
– Khoảng cách 5 (KC5): Khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng nhận được và kỳ  
vọng của khách hàng về dịch vụ.  
2.2.3. Mô hình SERVQUAL  
Xuất phát từ mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ, Parasuraman và nnk (1988)  
đã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình Servqual dùng để đánh giá cảm nhận của khách  
hàng về chất lượng dịch vụ. Theo mô hình SERVQUAL gồm 4 thành phần, đó là: Độ tin  
cậy, mức độ đáp ứng, sự đảm bảo và sự cảm thông.  
68  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
2.2.4. Mô hình SERVPERF  
Parasuraman và nnk (1991) khẳng định rằng SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về  
chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, có thể được ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ  
khác nhau. Từ việc đánh giá SERVQUAL, Cronin và Taylor đã đưa ra mô hình  
SERVPERF vào năm 1992 (Thongmasak, 2001). Mô hình này được xác định chất lượng  
dịch vụ bằng cách chỉ đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận thay vì đo lường cả chất lượng  
cảm nhận lẫn kỳ vọng như SERVQUAL. Mô hình này được gọi là mô hình cảm nhận.  
2.2.5. Mô hình đề xuất  
Dựa vào mô hình SERVPERFL (Cronin & Taylor, 1992) là mô hình phổ biến  
dùng để đánh giá cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Kết hợp với những  
nghiên cứu liên quan của các tác giả trước, làm cơ sở quyết định mô hình nghiên cứu,  
nhóm tác giả đặt ra 5 giả thuyết đầu tiên về sự tác động đến sự hài lòng của khách hàng  
khi sử dụng dịch vụ chăm sóc khách hàng của Công ty Xuân Oánh.  
H1: Độ tin cậy có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch  
vụ chăm sóc khách hàng của công ty.  
H2: Mức độ đáp ứng có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng đối  
với dịch vụ chăm sóc khách hàng của công ty.  
H3: Sự cảm thông có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng đối với  
dịch vụ chăm sóc khách hàng của công ty.  
H4: Năng lực phục vụ có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng đối  
với dịch vụ chăm sóc khách hàng của công ty.  
H5: Phương tiện hữu hình có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng  
đối với dịch vụ chăm sóc khách hàng của công ty.  
Các lập luận và giả thuyết được trình bày trong mô hình dưới đây:  
Hình 1. Mô hình đề xuất nghiên cứu  
(Nguồn: Tác giả đề xuất)  
3. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là khách hàng sử dụng các dịch vụ của Công ty Xuân Oánh  
trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Thông qua bảng khảo sát được gửi đến 150 khách hàng  
69  
đang sử dụng dịch vụ tại Công ty Xuân Oánh trong thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng  
10/2020. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn:  
Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn lấy ý kiến của 3 chuyên gia về lĩnh vực dịch vụ  
chăm sóc khách hàng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách  
hàng về dịch vụ chăm sóc khách hàng. Dựa vào kết quả phỏng vấn các chuyên gia,  
nghiên cứu xây dựng 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: Độ tin cậy,  
mức độ đáp ứng, sự cảm thông, năng lực phục vụ và phương tiện hữu hình với tổng số  
24 biến quan sát, các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5, từ 1 rất  
không đồng ý đến 5 rất đồng ý.  
Nghiên cứu định lượng: Dựa trên tập dữ liệu được thu thập được từ khách  
hàng, sau khi hoàn tất việc sàng lọc, kiểm tra, tổng hợp, mã hóa và làm sạch, sẽ tiến  
hành xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0. Thông qua phân tích  
nhân tố khám phá (EFA) và độ tin cậy thang đo với Cronbach’ Alpha, nghiên cứu  
thực hiện kiểm định sự phù hợp của thang đo với mẫu khảo sát. Tiếp theo, nhóm tác  
giả phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến tìm ra mối quan hệ phụ thuộc  
của một biến (biến phụ thuộc) vào một hoặc nhiều biến (biến độc lập) nhằm mục  
đích ước lượng hoặc tiên đoán giá trị kỳ vọng của biến phụ thuộc khi biết trước giá  
trị của biến độc lập.  
4. Kết quả và thảo luận  
4.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu  
Với tổng số khách hàng trả lời câu hỏi là 150 phiếu, tác giả thu về được 150 và tất  
cả số phiếu đều hợp lệ. Vì tỷ lệ nam đến trực tiếp công ty sử dụng dịch vụ nhiều hơn nữ  
nên tỷ lệ nam nữ có sự chênh lệch cụ thể là nam (chiếm tỷ lệ 66%) nhiều hơn nữ (chiếm  
34%). Đối tượng khách hàng điều tra của nghiên cứu khách hàng từ 18 đến 20 tuổi là  
2%. Độ tuổi tham gia khảo sát nhiều nhất là ở độ tuổi từ 31 đến 45 (chiếm 32%), tiếp  
theo là độ tuổi từ 24 đến 30 tuổi (chiếm 28%), từ 21 đến 23 tuổi (chiếm 24%) và cuối  
cùng là trên 45 tuổi (chiếm 14%).  
4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha  
Theo Trọng và Ngọc (2008) khi hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên có thể sử  
dụng được đối với các trường hợp thang đo lường là mới. Trong nghiên cứu này thang  
đo sẽ được chọn khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 và các biến có hệ số tương  
quan tổng biến nhỏ hơn 0,3 bị loại. Kết quả chạy Cronbach’s Alpha của thang đo cho 5  
biến độc lập và 1 biến phụ thuộc như sau:  
Dựa vào Bảng 1 ta thấy tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy tương đối cao > 0.3.  
Tuy nhiên ở thang đo mức độ đáp ứng loại 1 biến quan sát không phù hợp với mô hình  
nhằm tăng độ tin cậy của mô hình. Như vậy còn lại 23 biến quan sát của 5 biến độc lập  
và 1 biến phụ thuộc để phân tích EFA.  
70  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
Bảng 1. Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha đối với nhân tố  
Biến  
quan  
sát  
Trung bình  
thang đo nếu  
loại biến  
Phương sai  
thang đo nếu  
loại biến  
Tương  
quan biến  
– tổng  
Cronbach’s Alpha  
Nhận xét  
nếu loại biến  
(1) Độ tin cậy; Cronbach’s Alpha = 0.688 0.6  
TC1  
TC2  
TC3  
TC4  
TC5  
14.70  
14.66  
14.61  
14.71  
14.68  
6.815  
6.870  
7.809  
7.135  
7.481  
0.497  
0.561  
0.370  
0.391  
0.403  
0.613  
0.587  
0.667  
0.663  
0.654  
Kết quả kiểm định  
thỏa điều kiện nên đạt  
yêu cầu về độ tin cậy.  
Kết quả lần thứ 1  
(2.1.) Mức độ đáp ứng Cronbach’s Alpha = 0.688 0.6  
Tác giả quyết định  
loại biến DU5 nhằm  
tăng độ tin cậy của  
thang đo, vì hệ số  
tương quan biến tổng  
là 0.047 < 0.3  
DU1  
15.15  
6.077  
0.541  
0.593  
DU2  
DU3  
DU4  
DU5  
15.16  
15.24  
15.13  
15.24  
6.337  
5.929  
6.017  
8.627  
0.487  
0.561  
0.619  
0.047  
0.619  
0.583  
0.561  
0.778  
Kết quả lần thứ 2  
(2.2.) Mức độ đáp ứng Cronbach’s Alpha = 0.778 0.6  
DU1  
DU2  
DU3  
DU4  
11.41  
11.42  
11.50  
11.39  
5.237  
5.480  
4.963  
5.165  
0.561  
0.506  
0.620  
0.648  
0.735  
0.763  
0.704  
0.692  
Kết quả kiểm định  
thỏa điều kiện nên đạt  
yêu cầu về độ tin cậy.  
(3) Sự cảm thông Cronbach’s Alpha = 0.775 0.6  
CT1  
CT2  
CT3  
CT4  
CT5  
15.27  
15.30  
15.19  
15.31  
15.30  
7.271  
7.299  
7.634  
7.854  
9.245  
0.589  
0.611  
0.600  
0.548  
0.396  
0.720  
0.711  
0.716  
0.734  
0.778  
Kết quả kiểm định  
thỏa điều kiện nên đạt  
yêu cầu về độ tin cậy.  
(4) Năng lực phục vụ Cronbach’s Alpha = 0.827 0.6  
PV1  
PV2  
PV3  
PV4  
11.01  
11.11  
11.13  
11.03  
6.510  
6.861  
6.111  
6.314  
0.662  
0.572  
0.683  
0.699  
0.778  
0.818  
0.768  
0.762  
Kết quả kiểm định thỏa  
điều kiện nên đạt yêu  
cầu về độ tin cậy.  
(5)Phƣơng tiện hữu hình, Cronbach’s Alpha = 0.799 0.6  
HH1  
HH2  
HH3  
HH4  
HH5  
14.01  
14.01  
14.09  
13.94  
14.01  
9.778  
8.376  
9.744  
9.694  
9.134  
0.579  
0.669  
0.480  
0.578  
0.609  
0.762  
0.730  
0.792  
0.762  
0.751  
Kết quả kiểm định  
thỏa điều kiện nên đạt  
yêu cầu về độ tin cậy.  
Sự hài lòng, Cronbach’s Alpha = 0.721 0.6  
HL1  
HL2  
HL3  
7.39  
7.43  
7.35  
1.408  
1.469  
1.691  
0.514  
0.594  
0.529  
0.676  
0.567  
0.652  
Kết quả kiểm định  
thỏa điều kiện nên đạt  
yêu cầu về độ tin cậy.  
(Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp số liệu từ khảo sát)  
4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA  
4.3.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc thuộc  
71  
Bảng 2. Kết quả KMO  
Trị số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy  
.715  
1174.677  
253  
Approx. Chi-Square  
Đại lượng thống kê Bartlett (Bartlett's  
Df  
Test of Sphericity)  
Sig.  
.000  
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả)  
Dựa vào kết quả, ta thấy hệ số KMO đạt giá trị 0.715, thỏa mãn điều kiện 05 <  
0.715 < 1, cho thấy phân tích nhân tố EFA trong nghiên cứu này là phù hợp. Kiểm định  
Bartlett cũng có ý nghĩa thống kê (Sig. = .000 < .05), điều này cho phép bác bỏ giả thiết  
H0, nghĩa là các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.  
Bảng 3. Kết quả tổng phương sai trích của biến độc lập  
Chỉ số phương sai trích sau  
Chỉ số Eigenvalues Ban đầu  
Chỉ số sau khi trích  
khi xoay nhân tố  
Nhân  
tố  
%
phương  
sai  
%
phương  
sai  
%
phương  
sai  
Tích lũy  
Tích lũy  
Tích lũy  
Tổng  
Tổng  
Tổng  
%
%
%
1
2
3
4
5
6
4.122  
2.874  
2.511  
2.069  
1.703  
1.142  
17.921  
12.497  
10.919  
8.997  
17.921  
30.418  
41.337  
50.334  
57.740  
62.706  
4.122  
2.874  
2.511  
2.069  
1.703  
1.142  
17.921  
12.497  
10.919  
8.997  
17.921  
30.418  
41.337  
50.334  
57.740  
62.706  
2.795  
2.768  
2.742  
2.523  
1.897  
1.699  
12.150  
12.033  
11.920  
10.968  
8.246  
12.150  
24.184  
36.104  
47.072  
55.318  
62.706  
7.405  
7.405  
4.966  
4.966  
7.388  
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả)  
Đồng thời dựa vào kết quả ma trận xoay cho thấy, 23 biến quan sát được gom thành  
6 nhân tố, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố Factor Loading lớn hơn 0.5.  
Bảng 4. Tên các nhân tố mới  
STT  
Nhân tố  
HH  
Tên nhân tố  
Phương tiện hữu hình  
Sự cảm thông  
Biến quan sát  
HH2, HH5, HH1, HH4, HH3  
CT1, CT2, CT3, CT4  
PV4, PV3, PV1, PV2  
DU4, DU3, DU2, DU1  
TC2, TC1, TC3  
Tên đặt mới  
1
2
3
4
5
6
F1  
F2  
F3  
F4  
F5  
F6  
CT  
PV  
Năng lực phục vụ  
Mức độ đáp ứng  
Độ tin cậy  
DU  
TC  
DB  
Sự đảm bảo  
TC4, TC5, CT5  
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả)  
4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc  
Cũng tương tự như thực hiện các bước đối với phân tích EFA cho biến độc lập,  
nghiên cứu thực hiện các bước đối với EFA cho biến phụ thuộc và đạt kết quả như sau:  
Hệ số KMO đạt giá trị 0.695, thỏa mãn điều kiện 05 < 0.695 < 1, cho thấy phân  
tích nhân tố EFA trong nghiên cứu này là phù hợp. Kiểm định Bartlett cũng có ý nghĩa  
thống kê (Sig. = 0.000 < 0.05).  
Từ kết quả tổng phương sai trích, phần trăm tích lũy cho biết chỉ số phương sai  
72  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
trích sau khi xoay nhân tố là 64.572% > 50%, có nghĩa là 7 nhân tố này có thể giải thích  
được 64.572% cho sự biến thiên của dữ liệu. Và điểm dừng khi trích các yếu tố tại nhân  
tố thứ 1 có hệ số Eigenvalues là 1.937, thỏa điều kiện > 1 nên kết quả phân tích nhân tố  
là phù hợp với nghiên cứu.  
Từ kết quả ma trận xoay, mô hình nghiên cứu có 1 biến phụ thuộc là mức độ nhận  
biết và biến phụ thuộc bao gồm 3 biến quan sát đều đạt hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5 nên  
tất cả 3 biến quan sát của biến phụ thuộc đều được giữ lại để phân tích.  
4.4. Hiệu chỉnh lại mô hình và điều chỉnh lý thuyết  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu điều chỉnh  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)  
Giả thuyết:  
F1: Nhân tố phương tiện hữu hình càng tốt thì mức độ về sự hài lòng của khách  
hàng càng cao, mối quan hệ F1 ảnh hưởng đồng biến với sự hài lòng của khách hàng.  
F2: Nhân tố sự cảm thông càng tốt thì mức độ về sự hài lòng của khách hàng càng  
cao, mối quan hệ F2 ảnh hưởng đồng biến với sự hài lòng của khách hàng.  
F3: Nhân tố năng lực phục vụ càng tốt thì mức độ về sự hài lòng của khách hàng  
càng cao, mối quan hệ F3 ảnh hưởng đồng biến với sự hài lòng của khách hàng.  
F4: Nhân tố mức độ đáp ứng càng tốt thì mức độ về sự hài lòng của khách hàng  
càng cao, mối quan hệ F4 ảnh hưởng đồng biến với sự hài lòng của khách hàng.  
F5: Nhân tố sự tin cậy càng tốt thì mức độ về sự hài lòng của khách hàng càng  
cao, mối quan hệ F5 ảnh hưởng đồng biến với sự hài lòng của khách hàng.  
F6: Nhân tố sự đảm bảo càng tốt thì mức độ về sự hài lòng của khách hàng càng  
cao, mối quan hệ F6 ảnh hưởng đồng biến với sự hài lòng của khách hàng.  
4.5. Kiểm định mô hình, giả thuyết nghiên cứu và sự khác biệt giữa các nhóm biến  
Bảng 5. Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha đối với nhân tố  
Các giả định và sự tƣơng quan  
Kết quả kiểm định  
Mô hình không có hiện tượng Hệ số VIF của các biến độc lập (HH = 1.070; CT = 1,215; PV =  
đa cộng tuyến  
1,024: DU = 1,186; TC = 1,173 ; ĐB = 1,216) đều nhỏ hơn 10  
73  
Các phần dư phân phối chuẩn  
Biểu đồ tần số giá trị trung bình Mean = -1,37E-150 gần bằng 0, độ  
lệch chuẩn (Std. Dev) là 0.980 1 và Normal P-P Plot cho thấy các  
điểm phân vị trong phân phối của phần dư tập trung thành 1 đường  
chéo và đều nhỏ hơn 1.  
Không có sự tương quan giữa R2 hiệu chỉnh là 0,580 và hệ số Durbin – Watson = 2.093, nằm  
các sai số  
trong khoảng 1.5 đến 2.5 nên không có hiện tượng tự tương quan  
chuỗi bậc nhất xảy ra  
Phương sai phần dư không đổi  
Đồ thi Scatter Plot cho thấy phần dư chuẩn hóa phân bổ tập trung  
xunh quanh đường hoành độ 0, do vậy giả định quan hệ tuyến tính  
không bị vi phạm  
Tương quan giữa các biến độc Hệ số tương quan các biến độc lập HH, CT, PV, DU, TC, DB với  
lập và biến phụ thuộc  
biến phụ thuộc HL nhỏ hơn .05, với mức ý nghĩa 1%. Giữa DU và  
HL có mối tương quan mạnh nhất với hệ số r là 0,538; giữa PV và  
HL có mối tương quan yếu nhất với hệ số r là 0,186.  
Bảng 6. Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của mô hình 7 nhân tố  
Hệ số chƣa chuẩn hóa  
Collinearity Statistics  
Kiểm  
định t  
Model  
Sig.  
B
Std. Error  
.292  
Beta  
Tolerance  
VIF  
(Constant)  
HH  
-.242  
.190  
.281  
.099  
.250  
.139  
.100  
-.830  
4.473  
6.304  
2.618  
5.495  
3.062  
2.046  
.408  
.000  
.000  
.010  
.000  
.003  
.043  
.043  
.045  
.246  
.369  
.141  
.318  
.176  
.120  
.934  
.823  
.977  
.843  
.852  
.822  
1.070  
1.215  
1.024  
1.186  
1.173  
1.216  
CT  
PV  
DU  
TC  
1
.038  
.046  
.045  
.049  
DB  
(Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp số liệu từ khảo sát)  
Như vậy tất cả các biến độc lập đưa vào phân tích hồi quy đều tác động cùng  
chiều tới biến phụ thuộc. Dựa vào độ lớn của hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta, thứ tự mức  
độ tác động từ mạnh nhất tới yếu nhất của các biến độc lập tới biến phụ thuộc HL là: CT  
(0,369) > DU (0,318) > HH (0,246) > TC (0,176) > PV (0,141) > DB (0,120). Từ kết  
quả kiểm định của mô hình nghiên cứu, ta có phương trình hồi quy chuẩn hóa là:  
Theo kết quả xử lý thì 6 biến đều mang dấu dương điều này có ý nghĩa là 100%  
các các yếu tố của 6 biến ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng mềm của sinh viên.  
Như vậy, 6 nhân tố trong mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận và đều có tác động  
thuận chiều với sự hài lòng của khách hàng. Dựa trên kết quả phân tích, nhóm nghiên cứu  
đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao sự hài lòng của khách hàng như sau:  
Đối với nhân tố “Sự cảm thông”: Công ty Xuân Oánh cần cụ thể hóa và thống  
nhất cơ chế chăm sóc khách hàng. Bảo đảm công tác chăm sóc khách hàng đồng bộ. Từ  
đó tổ chức các tổ, nhóm chăm sóc khách hàng theo khu vực, tăng hiệu quả làm việc.  
Hoàn thiện cơ sở vật chất và đội ngũ nhân sự tại các điểm hỗ trợ chăm sóc khách hàng,  
tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi cần được tư vấn, giải đáp thắc mắc.  
Đối với nhân tố “Mức độ đáp ứng”: Công ty Xuân Oánh cần thiết lập hệ thống  
quản lý cơ sở dữ liệu khách hàng một cách hệ thống khoa học, đảm bảo cung cấp dịch  
74  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 4(53)-2021  
vụ cho khách hàng đúng thời gian, đáp ứng sự hài lòng ngay lần đầu tiên sử dụng, đảm  
bảo tính chính xác, hiệu quả cao. Đa dạng hóa các gói dịch vụ hoặc dịch vụ lẻ, đảm bảo  
đáp ứng được các nhu cầu về dịch vụ của khách hàng. Phân loại kết hợp combo các dịch  
vụ lẻ để tạo sự mới mẻ cho khách hàng, tạo sự tiện ích khi sử dụng dịch vụ, góp phần  
làm tăng thêm sự hài lòng của khách hàng.  
Đối với nhân tố “Phương tiện hữu hình”: Cải tiến, nâng cao các thiết bị, máy móc  
theo xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc  
để khách hàng có thể liên hệ dễ dàng nhất với công ty. Tạo hệ thống trang web trực tuyến,  
cho phép khách hàng đăng kí dịch vụ và nhận được phản hồi trực tuyến từ khách hàng.  
Đối với nhân tố “Độ tin cậy”: Công ty cần truyền đạt thông tin về sản phẩm, dịch  
vụ cũng như chất lượng về sản phẩm, dịch vụ chính xác, phù hợp với nhu cầu của khách  
hàng. Đảm bảo sản phẩm, dịch vụ được giao nhận, lắp ráp đúng với đơn hàng. Giá cả và  
phí dịch vụ được thông báo chính xác, tốt hơn khi ghim bảng giá dịch vụ trước quầy  
giao dịch để khách hàng được nhìn thấy. Thường xuyên kiểm tra trang thiết bị, máy  
móc, đảm bảo chất lượng dịch vụ.  
Đối với nhân tố “Năng lực phục vụ”: Nhân viên công ty cần được thường xuyên tổ  
chức các chương trình đạo tạo và nâng cao kiến thức về dịch vụ chuyên môn định kỳ 3  
tháng/lần, bên cạnh đó là các kiến thức về chăm sóc khách hàng, các kỹ năng mềm bổ trợ.  
Đưa ra những chính sách cứng rắn hơn trong việc quản lý. Rà soát kiến thức chuyên môn,  
phân loại và có kế hoạch đào tạo chuyên sâu một cách phù hợp theo từng năng lực của nhân  
viên. Đội ngũ nhân viên giải quyết khiếu nại, thắc mắc của khách hàng phải được quan tâm,  
đào tạo kiến thức kỹ năng kỹ lưỡng, đảm bảo công tác giải quyết khiếu nại đạt kết quả cao.  
Đối với nhân tố “Sự đảm bảo”: Hạn chế tối đa sai sót và biết cách khắc phục lỗi  
sai trong quá trình cung cấp dịch vụ. Xây dựng các chương trình khuyến mãi phù hợp  
với từng dịch vụ. Thường xuyên tổ chức các đợt tri ân khách hàng thân thiết, tặng kèm  
các quà tặng nhỏ cho khách hàng có in logo của công ty. Các thông tin về thời gian  
khuyến mãi và dịch vụ đi kèm cần được thông báo rõ ràng và trên web hoặc fanpage  
chính thức của công ty để tránh việc thông tin giả, không chính xác.  
5. Kết luận  
Dựa trên cơ sở lý luận nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng qua các nghiên cứu  
trước đã đề ra mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với công ty gồm 05  
nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: Độ tin cậy, mức độ đáp ứng, sự cảm  
thông, năng lực phục vụ và phương tiện hữu hình với tổng số 24 biến quan sát. Kết quả  
điều tra bằng phương pháp gởi trực tiếp bảng câu hỏi cho 150 khách hàng sử dụng dịch  
vụ tại công ty, dữ liệu được đưa vào phần mềm SPSS 20.0 và đã được làm sạch để tiến  
hành phân tích. Kết quả phân tích đánh giá bằng thang đo độ tin cậy Cronbach’s Alpha  
đã loại 1 biến quan sát, nên tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA gồm 6 nhân tố  
và 23 biến quan sát và tiếp tục đưa vào phân tích hồi quy. Kết quả phân tích hồi quy vẫn  
75  
giữ nguyên 6 nhân tố có ý nghĩa thống kê. Mô hình cụ thể:  
Kết quả cho thấy nhân tố sự cảm thông là tác động lớn nhất đến sự hài lòng của  
khách hàng, thứ hai là nhân tố mức độ đáp ứng, tiếp theo là phương tiện hữu hình, thứ  
tư là sự tin cậy, thứ năm là năng lực phục vụ và cuối cùng là sự đảm bảo.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Anantha Raj A. Arokiasamy, Dr.Abdul GhaniKanesanbin Abdullah (2013).Service quality  
and customer satisfaction in the cellular telecommunication service provider in Malaysia.  
International Refereed Journal, Vol. IV, Isue. 2, April.  
[2] Cronin, J. J., Taylor, S. A., (1992). Measuring service quality: a reexamination and  
extension. Journal of Marketing, 6, 55-68.  
[3] Gro¨nroos, C., (1984). A service quality model and its marketing implications”. European  
Journal of Marketing, 18(4), 36-44.  
[4] Hansemark, O., & Albinson, M. (2004). Customer satisfaction and Retention: The  
experience of Individual Employees. Managing Service Quality, 14(40).  
[5] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS  
tập 1 và 2. NXB Hồng Đức.  
[6] Kotler Philip, Wong Veronica, Saunders John, Armstrong Gary (2005). Principles of  
Marketing, 4th European edition, Prentice Hall.  
[7] Kotler, P & Armstrong, G. (2004). Những nguyên lý tiếp thị (tập 2). NXB Thống kê.  
[8] Meesalaa, A. and Paulb, J. (2018). Service quality, consumer satisfaction and loyalty in  
hospitals: Thinking for the future. Journal of Retailing and Consumer Services, 40, 261-269.  
[9] Nguyễn Đình Thọ – Nguyễn Thị Mai Trang (2007). Nghiên cứu thị trường. NXB Đại Học  
Quốc Gia.  
[10] Nguyễn Thị Mai Trang (2006). Chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách  
hàng siêu thị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, 9(10).  
[11]Nhữ Ngọc Thanh (2013). Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ tới sự hài lòng của bệnh nhân  
tại bệnh viện Nhi Hải (Luận văn thạc sĩ). Shute Univesity.  
[12]Parasuraman, A. Zeithaml, L. Berry (1985). A Conceptual Model of Service Quality and Its  
Implications for the Future Research. Journal of Marketing, Vol. 49, 41-50.  
[13]Parasuraman, A., Zeithaml, V. A. and Berry, L. L., (1991). Refi nement and Reassessment  
of the SERVQUAL Scale. Journal of Retailing, 67(4), 140-147.  
[14] Parasuraman, A., Zeithaml, V., & Berry, L. (1988). SERVQUAL: A multiple-item scale form  
measuring consumer perceptions of service quality. Journal of Retailing, 64(spring), 12-40.  
[15]Trần Hồng Hải (2014). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng  
sử dụng dịch vụ thẻ ATM của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vĩnh  
Long (Luận văn thạc sĩ kinh tế). Trường Đại học Tài chính – Marketing.  
[16]Zeithaml V., Berry, L. and Parasuraman, A., (1996). The Behavioral Consequences of  
Service, Journal of Marketing, 60, 31-46.  
76  
pdf 11 trang Thùy Anh 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá sự hài lòng của khách hàng: Một khảo nghiệm mô hình Servperfl tại công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ Xuân Oánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_su_hai_long_cua_khach_hang_mot_khao_nghiem_mo_hinh.pdf