Mô hình giải thích mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, mạng lưới xã hội và cường độ liên hệ với các mối quan hệ xã hội (networking) của sinh viên tốt nghiệp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
MÔ HÌNH GIẢI THÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH CÁCH CÁ NHÂN,  
MẠNG LƯỚI XàHỘI VÀ CƯỜNG ĐỘ LIÊN HỆ  
VỚI CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI (NETWORKING)  
CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP  
MODEL EXPLAINING THE RELATIONSHIPS BETWEEN PERSONALITY TRAITS,  
NETWORK SIZE, AND NETWORKING INTENSITY OF NEW GRADUATES  
Ngày nhận bài: 05/08/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 23/09/2021  
Lê Sơn Tùng  
TÓM TẮT  
Mặc dù hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking) đã được xem là một chiến lược  
tìm kiếm việc làm hiệu quả với sinh viên, nhưng nhiều cá nhân dường như không muốn sử dụng  
nó như một cách để có được việc làm. Tính cách cá nhân được tìm thấy như là một nhân tố tác  
động vào cường độ sử dụng các mối quan hệ xã hội (Networking), tuy nhiên vẫn thiếu nghiên cứu  
chỉ ra cơ chế tác động của nó đến hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking). Mục  
đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ giữa tính cách cá nhân và hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) thông qua biến trung gian, đó là mạng lưới xã hội. Nghiên cứu  
tiến hành khảo sát trên 773 đối tượng sinh viên tốt nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã đem lại nhiều  
hiểu biết sâu sắc về vai trò của các loại tính cách cá nhân đối với việc phát triển các mối quan hệ  
xã hội và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking). Ý nghĩa và kết quả của nghiên  
cứu sẽ được thảo luận chi tiết.  
Từ khóa: Tính cách cá nhân HEXACO, mạng lưới xã hội, hành vi Networking, tính hướng ngoại,  
tính đa cảm, tỉnh cởi mở.  
ABSTRACT  
Although networking behavior has been seen as an effective job search strategy for students,  
many individuals seem to avoid using this method to get employment. Personality traits were found  
as an important factor influencing Networking intensity, however, too little research about the  
mechanism linking between personality traits and Networking behavior. The goal of this study is to  
investigate the relationship between personality traits and Networking behavior via network size.  
The survey was conducted on 773 respondents who are new graduates. Results indicated the  
important insight into the role of personality traits on expanding social relationships as well as  
Networking behavior. Results and implications will be discussed in detail.  
Keywords: HEXACO personality traits, network size, networking behavior, extraversion,  
emotionality, openness to experience.  
cộng sự (2000), hành vi Liên hệ với các mối  
1. Giới thiệu  
quan hệ xã hội (Networking) là việc liên hệ  
Trong rất nhiều năm trở lại đây, một số  
với bạn bè, người thân hoặc các mối quan hệ  
lượng lớn các học giả dành sự quan tâm cho  
xã hội khác để tìm kiếm thông tin việc làm  
việc nghiên cứu sự tác động của hành vi Liên  
hoặc vị trí tuyển dụng.Kết quả nghiên cứu  
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
cho thấy hành vi Liên hệ với các mối quan hệ  
tới kết quả tìm kiếm và sự thành công của  
xã hội (Networking) ảnh hưởng tích cực đến  
những người tìm kiếm việc làm (Forret,  
2014; Forret & Dougherty, 2001; Lin & Le,  
2019; Van Hoye & cộng sự, 2009; Wanberg  
Lê Sơn Tùng, Khoa Kinh tế - Trường Đại học  
Hàng hải Việt Nam  
& cộng sự, 2000). Theo tác giả Wanberg &  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
một loạt các chỉ tiêu tìm kiếm việc làm như  
biến mạng lưới mối quan hệ xã hội. Trong  
nghiên cứu, tác giả sẽ giải thích mối quan hệ  
giữa các biến tính cách cá nhân, mạng lưới  
mối quan hệ xã hội và cường độ Liên hệ với  
các mối quan hệ xã hội (Networking) trong  
quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên.  
số lượng các cuộc phỏng vấn, lời đề nghị  
tuyển dụng, tốc độ tuyển dụng, mức độ phù  
hợp giữa tổ chức - cá nhân, hay mức độ thỏa  
mãn công việc (Forret, 2014; Lin & Le,  
2019; Rodríguez-Villalobos  
&
Rangel-  
González, 2020; Van Hoye & cộng sự, 2009;  
Wanberg & cộng sự, 2000).  
2. Cơ sở lý luận  
2.1. Hành vi Liên hệ với các mối quan hệ  
xã hội (Networking)  
Ở mặt khác, các nhà tâm lý học và các  
nghiên cứu tập trung vào các yếu tố dự đoán  
đến cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã  
hội (Networking) của người tìm kiếm việc  
làm, và nhận thấy rằng tính cách cá nhân là  
một trong những yếu tố tác động trực tiếp  
hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) (Forret & Dougherty, 2001;  
Lin & Le, 2019; Wanberg & cộng sự, 2000).  
Chẳng hạn như, nhóm nghiên cứu Forret &  
Dougherty (2001) nhận thấy rằng những cá  
nhân có tính hướng ngoại thể hiện cường độ  
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) lớn hơn so với những cá nhân  
có tính hướng nội. Hay trong nghiên cứu của  
Lin & Le (2019) phát hiện ra rằng những cá  
nhân có tính cách đa cảm thường có xung  
đột, bất ổn dẫn đến họ có ít các mối quan hệ  
xã hội và cường độ thấp về hành vi Liên hệ  
với các mối quan hệ xã hội (Networking).  
Mặc dù, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được  
sự tác động của các loại tính cách cá nhân  
đến hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã  
hội (Networking), tuy nhiên có rất ít những  
nghiên cứu chỉ ra cơ chế tác động giữa các  
loại tính cách cá nhân và cường độ Liên hệ  
với các mối quan hệ xã hội (Networking).  
Điều này gây ra sự khó hiểu cho những  
người muốn tìm hiểu và cải thiện sự tác động  
của tính cách cá nhân đến hành vi Liên hệ  
với các mối quan hệ xã hội (Networking).  
Năm 2000, Wanberg và cộng sự giới  
thiệu một khái niệm Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking), và định nghĩa  
nó như một phương pháp tìm kiếm việc làm  
không chính thức. Thay vì các cá nhân tự tìm  
kiếm thông tin tuyển dụng từ các kênh chính  
thức như cơ quan tuyển dụng, trung tâm việc  
làm,… thì họ liên hệ với bạn bè, người thân  
quen của mình và nhờ họ tìm kiếm và cung  
cấp các thông tin này. Sau đó, các nghiên cứu  
đã nhận thấy được rất nhiều lợi ích từ việc  
làm này, và cho biết hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) không chỉ  
hiệu quả trong việc tìm kiếm thông tin và cơ  
hội việc làm, mà nó còn đem lại nhiều lợi ích  
khác như tiết kiệm chi phí tuyển dụng, hay  
những lời tư vấn hữu ích (Forret, 2014;  
Franzen & Hangartner, 2006; Lin & Le,  
2019; Van Hoye & cộng sự, 2009; Wanberg  
& cộng sự, 2000).  
2.2. Tính cách cá nhân  
Năm 1992, nhóm tác giả Costa & McCrae  
xây dựng mô hình Big Five về tính cách cá  
nhân. Mô hình đã phân chia tính cách con  
người thành 5 loại chính, đó là tính hướng  
ngoại, tính hướng ngoại, tính nhạy cảm, tính  
tận tâm, tính dễ chịu và tính cởi mở. Đến năm  
2004, nhóm tác giả Ashton và công sự cho  
biết, mô hình 5 tính cách của Costa & McCrae  
(1992) chưa liệt kê đủ các loại tính cách của  
con người, và đưa ra mô hình 6 loại tính cách  
mới. Đó là mô hình HEXACO, bao gồm tính  
trung thực - khiêm tốn (H), tính đa cảm (E),  
Mục đích chính của nghiên cứu này là tìm  
hiểu mối quan hệ của các tính cách cá nhân  
và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã  
hội (Networking) trong quá trình tìm kiếm  
việc làm thông qua biến trung gian, đó là  
87  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
tính hướng ngoại (X), tính dễ chịu (A), tính  
cũng sẽ mang lại lượng thông tin việc làm,  
cơ hội tuyển dụng là khác nhau.  
tận tâm (C), và tính cởi mở (O). So với mô  
hình 5 tính cách của Costa & McCrae (1992),  
mô hình HEXACO cho thấy được đầy đủ các  
loại tính cách của con người, và được áp dụng  
ngày càng phổ biến (Ashton, Lee, & Visser,  
2019). Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Lin  
& Le (2019) đã chứng minh vai trò của loại  
tính cách HEXACO trong quá trình tìm kiếm  
việc làm của sinh viên. Cụ thể, nghiên cứu đã  
chỉ ra rằng những người mà có tính cách trung  
thực - khiêm tốn cao có xu hướng có cường  
độ Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) cao hơn so với những cá nhân  
mà có mức độ trung thực - khiêm tốn thấp.  
Hoặc đối với sinh viên mà có tính đa cảm  
càng cao thì người này càng có ít hành vi Liên  
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
trong quá trình tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên,  
trong nghiên cứu này chưa chỉ ra được cơ chế  
giải thích sự tác động của các tính cách cá  
nhân đến cường độ hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) trong quá  
trình tìm kiếm việc làm.  
2.4. Tính cách cá nhân và mạng lưới xã hội  
Nghiên cứu Lee & Ashton (2004), dường  
như mọi người muốn kết bạn và duy trì mối  
quan hệ đối với những người có tính cách  
trung thực - khiêm tốn. Những người có tính  
cách này thường cho thấy sự ngay thẳng và  
sự đáng tin cậy cao. Trong các mối quan hệ,  
sự ngay thẳng và tin cậy luôn được đánh giá  
là một trong những tiêu chí hàng đầu để xây  
dựng mối quan hệ bền vững. Theo nghiên  
cứu của nhóm tác giả Molho & cộng sự  
(2016) cho biết những người có tính trung  
thực - khiêm tốn cao có thể xây dựng được  
những mối quan hệ tình cảm thân thiết với  
các thành viên trong nhóm. Theo dự đoán  
của chúng tôi, những cá nhân có tính cách  
này có thể xây dựng cho mình một mạng lưới  
xã hội có quy mô lớn.  
Giả thuyết H1: Tính cách trung thực -  
khiêm tốn có tác động tích cực đến mạng lưới  
xã hội của những người tìm kiếm việc làm.  
Lee & Ashton (2004) định nghĩa tính cách  
đa cảm (emotionality) được đặc trưng bởi các  
khía cạnh như sự sợ hãi, lo lắng, phụ thuộc  
và đa cảm. Các nghiên cứu trước đây cho  
biết những người có tính cách đa cảm thường  
thiếu sự tự tin, và các kỹ năng giao tiếp bởi  
vì họ thường tỏ ra lo lắng hơn so với những  
người khác (Selden & Goodie, 2017; Smółka  
& Szulawski, 2011). Bên cạnh đó, những  
người với tính cách này thường hiếm khi chủ  
động xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã  
hội (Selden & Goodie, 2017). Kết quả là  
những người có tính cách đa cảm càng lớn  
dường như có mạng lưới xã hội càng nhỏ. Do  
vậy, tác giả cho rằng:  
2.3. Mạng lưới xã hội  
Theo Seibert, Kraimer, & Liden (2001)  
cho biết mạng lưới xã hội là biểu thị số  
lượng người có thể liên hệ để hỏi thông tin  
việc làm hoặc cơ hội tuyển dụng. Các nhà  
nghiên cứu cho rằng các mối quan hệ xã hội  
có thể cung cấp các hỗ trợ và là nhân tố  
quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các cá  
nhân. Chính vì vậy, mạng lưới xã hội có ảnh  
hưởng lớn đến những hỗ trợ và lợi ích mà  
các cá nhân sẽ nhận được. Theo nhóm tác  
giả Ioannides & Datcher Loury (2004) cho  
biết, một cá nhân có mạng lưới xã hội lớn  
hơn sẽ có xu hướng nhận được nhiều hỗ trợ  
hơn so với những cá nhân có mạng lưới xã  
hội nhỏ hơn. Dựa vào những bằng chứng mà  
các nghiên cứu trước đây tìm ra, tác giả cho  
rằng mạng lưới xã hội khác nhau về kích cỡ  
Giả thuyết H2: Tính cách đa cảm tác  
động tiêu cực đến mạng lưới xã hội của  
những người tìm kiếm việc làm.  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
Tính cách thứ hai là tính cách hướng  
người có tính cách tận tâm không thiên  
hướng về việc chú trọng mở rộng các mối  
quan hệ xã hội, mà thay vào đó là xây dựng  
các mối quan hệ bền vững, chặt chẽ  
(Totterdell & cộng sự, 2008; Zhu & cộng sự,  
2013). Họ tập trung nâng cao chất lượng của  
các mối quan hệ vốn có (Wagner & cộng sự,  
2014). Chính vì vậy, nhóm tác giả Demir &  
Weitekamp, (2007), cũng tìm thấy bằng  
chứng về việc những người có tính tận tâm  
có ít mối mâu thuẫn với những người xung  
quanh. Vậy với những bằng chứng thu thập  
được từ các nghiên cứu trước đây, chúng tôi  
cho rằng những người có tính tận tâm có  
những mối quan hệ bền chặt, tuy nhiên họ có  
mạng lưới xã hội nhỏ hơn so với các cá nhân  
có tính cách khác.  
ngoại. Tính cách được giải thích bởi các khía  
cạnh như tính biểu cảm, tính mạnh dạn, tính  
hòa đồng và tính sôi nổi (Ashton & Lee,  
2007). Tính cách này được chứng minh là có  
mối liên hệ tích cực với việc tham gia vào  
các hoạt động xã hội, và sự phát triển các kỹ  
năng. So với những người có tính cách  
hướng nội, những cá nhân hướng ngoại tìm  
thấy nhiều động lực tham gia vào các hoạt  
động xã hội. Họ chủ động tìm kiếm sự tương  
tác, và kết nối với các mối quan hệ xã hội  
(Smółka & Szulawski, 2011). Kết quả nghiên  
cứu trước đây cho biết, khi họ tham gia vào  
các hoạt động, kỹ năng giao tiếp của họ cũng  
trở lên tốt hơn, và cuối cùng là họ kết bạn  
được nhiều hơn. Dựa vào những lập luận  
logic trên, chúng tôi kỳ vọng rằng:  
Giả thuyết H5: Tính cách tận tâm có tác  
động tiêu cực đến mạng lưới xã hội của  
những người tìm kiếm việc làm.  
Giả thuyết H3: Tính cách hướng ngoại có  
tác động tích cực đến mạng lưới xã hội của  
những người tìm kiếm việc làm.  
Tính cách cuối cùng trong mô hình  
HEXACO, đó là tính cởi mở. Tính cởi mở  
được đặc trưng bởi tính thẩm mỹ, sự ham học  
hỏi, sáng tạo và độc đáo (Lee & Ashton,  
2004). Các học giả trước đây tìm thấy tính  
cởi mở có liên quan tích cực đến số lượng  
các mối quan hệ xã hội (Molho & cộng sự,  
2016; Wagner & cộng sự, 2014). Ví dụ,  
những cá nhân có tính cởi mở cao thường có  
hướng thích trải nghiệm với môi trường mới,  
và thích tương tác với các đối tác mới, điều  
này góp phần làm gia tăng các mối quan hệ  
trong mạng lưới xã hội của họ (Wagner &  
cộng sự, 2014). Dựa vào đây, chúng tôi kỳ  
vọng rằng:  
Tính dễ chịu được miêu tả bởi các khía  
cạnh như tính khoan dung, tính hòa nhã, tính  
mềm mỏng và tính nhẫn nại (Ashton & Lee,  
2009). Theo nhóm nghiên cứu Graziano &  
cộng sự (1996) cho biết những người có tính  
dễ chịu thường có sự tương tác xã hội mang  
tính nhẹ nhàng, lịch sự, và có sự khoan dung  
trong đó. Điều này giúp ích cho họ tránh khỏi  
những mâu thuẫn không cần thiết trong các  
mối quan hệ, và làm tăng số lượng các mối  
quan hệ xã hội trong mạng lưới của mình  
(Ozer & Benet-Martínez, 2006). Kết quả là  
những người có tính cách dễ chịu lớn có xu  
hướng có số lượng các mối quan hệ nhiều  
hơn so với những người có tính cách dễ chịu  
thấp hơn. Do vậy, chúng tôi giả thuyết:  
Giả thuyết H6: Tính cách cởi mở có tác  
động tích cực đến mạng lưới xã hội của  
những người tìm kiếm việc làm.  
Giả thuyết H4: Tính cách dễ chịu có tác  
động tích cực đến mạng lưới xã hội của  
những người tìm kiếm việc làm.  
2.5. Mạng lưới xã hội và hành vi Liên hệ  
với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
trong quá trình tìm kiếm việc làm  
Tính tận tâm được miêu tả là những người  
thận trọng, có tổ chức (Lee & Ashton, 2004).  
Một số nghiên cứu thừa nhận rằng những  
Dựa theo lý thuyết mạng xã hội (social  
network theory), cho biết rằng cấu trúc và  
89  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thành phần mạng xã hội là hai nhân tố tác  
kiếm việc làm như đã phân tích ở trên.  
Chúng tôi giả định rằng những cá nhân có  
tính cách đa cảm và tính cách tận tâm có xu  
hướng sở hữu mạng lưới xã hội nhỏ hơn, và  
mạng lưới này ảnh hưởng trực tiếp làm giảm  
đi cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã  
hội (Networking) trong quá trình tìm kiếm  
việc làm. Ngược lại, đối với những người tìm  
kiếm việc làm mà có tính cách trung thực -  
khiêm tốn, hướng ngoại, tận tâm và cởi mở  
có nhiều đặc điểm thuận lợi cho việc xây  
dựng và mở rộng các mối quan hệ xã hội,  
điều này giúp họ sở hữu mạng lưới xã hội lớn  
hơn, và làm gia tăng cường độ Liên hệ với  
các mối quan hệ xã hội (Networking) trong  
quá trình tìm kiếm việc làm. Do vậy, mạng  
lưới xã hội có vai trò trung gian trong mối  
quan hệ giữa các loại tính cách cá nhân và  
cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) trong quá trình tìm kiếm việc  
làm.  
động đến cường độ và chất lượng Liên hệ với  
các mối quan hệ xã hội (Networking) (Adler  
& Kwon, 2002). Theo Seibert và cộng sự  
(2001), phạm vi các mối quan hệ xã hội là số  
lượng người mà các cá nhân có thể liên lạc  
và trao đổi thông tin trong mạng lưới xã hội  
của mình. Mục đích của nghiên cứu này là  
giải thích sự tác động của các loại tính cách  
cá nhân đến hành vi Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking) thông qua một  
biến trung gian, mạng lưới các mối quan hệ  
xã hội hay cấu trúc mạng xã hội.  
Bằng trực quan, có thể dễ dàng nhận thấy  
rằng một người có mạng lưới mối quan hệ xã  
hội lớn hơn thường sẽ có nhiều người để liên  
hệ và trao đổi thông tin hơn so với một người  
có phạm vi mối quan hệ xã hội nhỏ hơn; kết  
quả là họ có nhiều hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) hơn.  
Nghiên cứu của Van Hoye và cộng sự (2009)  
đã chứng minh điều đó và chỉ ra rằng những  
người tìm kiếm việc làm có mạng lưới xã hội  
lớn hơn, họ dành nhiều thời gian cho việc  
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) trong quá trình tìm kiếm việc  
làm hơn bởi vì họ có nhiều mối quan hệ xã  
hội hơn. Do vậy, với những bằng chứng của  
các nghiên cứu trước đây, chúng tôi đặt ra  
giả thuyết rằng:  
Giả thuyết H8: Mạng lưới xã hội có tác  
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính  
cách trung thực - khiêm tốn và cường độ  
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) của người tìm kiếm việc làm.  
Giả thuyết H9: Mạng lưới xã hội có tác  
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính  
cách đa cảm và cường độ Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) của người  
tìm kiếm việc làm.  
Giả thuyết H7: Mạng lưới xã hội có ảnh  
hưởng tích cực đến hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) trong quá  
trình tìm kiếm việc làm của sinh viên.  
Giả thuyết H10: Mạng lưới xã hội có tác  
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính  
cách hướng ngoại và cường độ Liên hệ với  
các mối quan hệ xã hội (Networking) của  
người tìm kiếm việc làm.  
2.6. Tính cách cá nhân và hành vi Liên hệ  
với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
trong quá trình tìm kiếm việc làm: Vai trò  
trung gian của mạng lưới xã hội.  
Giả thuyết H11: Mạng lưới xã hội có tác  
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính  
cách dễ chịu và cường độ Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) của người  
tìm kiếm việc làm.  
Dựa vào mối quan hệ giữa các loại tính  
cách cá nhân HEXACO và mạng lưới xã hội,  
và dựa vào mối quan hệ tích cực giữa mạng  
lưới xã hội và hành vi Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking) của người tìm  
Giả thuyết H12: Mạng lưới xã hội có tác  
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
cách tận tâm và cường độ Liên hệ với các  
quan hệ xã hội (Networking) của người tìm  
mối quan hệ xã hội (Networking) của người  
tìm kiếm việc làm.  
kiếm việc làm.  
Dựa vào các mối quan hệ giữa các biến,  
chúng tôi xây dựng mô hình nghiên cứu để  
khái quát lại sự tác động của các biến với  
nhau.  
Giả thuyết H13: Mạng lưới xã hội có tác  
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính  
cách cởi mở và cường độ Liên hệ với các mối  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu  
Quá trình thu thập dữ liệu trải qua hai giai  
đoạn. Giai đoạn 1, tác giả tiến hành thu thập  
dữ liệu tại thời điểm trước khi sinh viên tốt  
nghiệp khoảng 1 tháng. Trong giai đoạn 1,  
tác giả tiến hành phát bảng câu hỏi để khảo  
sát về tính cách cá nhân. Trong bảng câu hỏi  
lần này, có tất cả 60 câu hỏi cho sáu loại tính  
cách cá nhân. Tại thời điểm này, có 982  
phiếu điều tra được phân phát cho đối tượng  
khảo sát theo email. Trong mỗi một email có  
đính kèm đường link dẫn tới bản khảo sát  
online. Kết quả có 850 email phản hồi.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đối tượng và quy trình khảo sát  
Các đối tượng khảo sát là sinh viên của ba  
trường đại học ở thành phố Hải Phòng, Hà  
Nội. Các sinh viên thuộc các chuyên ngành  
khác nhau như kế toán, quản trị kinh doanh,  
tài chính kế toán, kỹ thuật và các ngành khác.  
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chọn  
phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Trước khi  
tiến hành khảo sát, tác giả đã có cuộc trao đổi  
với sinh viên và ban quản lý sinh viên để giải  
thích về mục đích và ý nghĩa của cuộc khảo  
sát, và sau đó tác giả tiến hành lấy danh sách  
email của sinh viên tại ba trường đại học để  
phục vụ cho việc khảo sát online.  
Giai đoạn 2, tác giả gửi thông báo tới các  
đối tượng khảo sát về bản khảo sát lần thứ 2.  
Trong giai đoạn 2, tác giả gửi bảng câu hỏi  
để khảo sát về mạng lưới xã hội và hành vi  
91  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
điểm Likert, bắt đầu từ 1 = rất không đồng ý  
(Networking) trong quá trình tìm kiếm việc  
làm của sinh viên, sau khi họ tốt nghiệp. Kết  
quả có 773 sinh viên trả lời các câu hỏi trong  
bản khảo sát. Tỷ lệ phản hồi đạt 91%. Trong  
đó, có 418 nam, và 355 nữ. Tuổi trung bình  
của đối tượng là 23,22 tuổi, với độ lệch  
chuẩn (SD) là 0,523. Trong đó có 3,6% là đã  
kết hôn. Ngoài ra, tỷ lệ người học kĩ thuật là  
28%, kế toán là 26%, quản trị kinh doanh là  
23%, tài chính là 18%, các ngành khác là  
5%.  
cho tới 5 = rất đồng ý.  
3.2.2. Mạng lưới xã hội  
Thang đo này được đo lường bởi thang đo  
4 biến của Van Hoye và cộng sự phát triển  
năm 2009. Đối tượng khảo sát đánh giá các  
nhận định theo theo thang đo 5 điểm Likert.  
Ví dụ như đối tượng đánh giá về một biến  
“Tôi biết rất nhiều người có thể giúp tôi tìm  
kiếm được việc làm”.  
3.2.3. Hành vi Liên hệ với các mối quan hệ  
xã hội (Networking)  
Bảng 1:  
Biến Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) được đánh giá dựa trên 9 biến  
được thiết kế bởi nhóm nghiên cứu Wanberg  
và cộng sự năm 2000. Nhóm nghiên cứu này  
đã đánh giá cường độ Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking) của một người  
tìm kiếm việc làm trên 9 khía cạnh khác  
nhau. Ví dụ như “Bạn có thường xuyên liên  
hệ với người khác để tìm kiếm việc làm hay  
không”, câu trả lời được đánh giá trên thang  
đo 5 điểm Likert. Ví dụ như “tôi thường liên  
hệ với những người mà tôi biết để hỏi về  
những lời khuyên hay chỉ bảo đối với việc  
tìm kiếm của mình”.  
Tổng hợp thông tin về mẫu khảo sát.  
Số  
lượng  
Phần  
trăm  
Biến  
Phân loại  
Nam  
Giới  
tính  
418  
355  
28  
54,1  
45,9  
3,6  
Nữ  
Hôn  
nhân  
Đã kết hôn  
Chưa kết hôn  
745  
13  
96,4  
1,7  
Độ tuổi 20-21  
22-23  
605  
128  
27  
78,3  
16,5  
3,5  
24-25  
Over 25  
Nghề  
nghiệp  
Tài chính  
140  
18,1  
3.2.4. Biến kiểm soát  
Quản trị kinh  
doanh  
Theo các nghiên cứu trước đây (Lin & Le,  
2019; Thomas & cộng sự, 2010; Wanberg &  
cộng sự, 2000), các biến sau đây sẽ được đưa  
vào để kiểm soát như giới tính, độ tuổi, nghề  
nghiệp. Ví dụ, theo như nghiên cứu của  
Wanberg và cộng sự, nghề nghiệp có ảnh  
hưởng đến cường độ Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking). Những ngành  
nghề liên quan đến kỹ thuật, công nghệ thông  
tin thường ít phổ biến với mọi người, và việc  
liên hệ với bạn bè, người quen để tìm kiếm  
việc làm liên quan đến những ngành này  
cũng hạn chế hơn so với các ngành liên quan  
đến kinh tế như kế toán hay bán hàng…Tuy  
nhiên, trong nghiên cứu này, các biến giới  
180  
23,3  
Kế toán  
199  
218  
36  
25,7  
28,2  
4,6  
Kỹ thuật  
Ngành khác  
3.2. Đo lường  
3.2.1. Tính cách HEXACO  
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô  
hình HEXACO được phát triển bởi nhóm tác  
giả Ashton và cộng sự (2004). Thang đo có  
60 biến quan sát. Mỗi một tính cách được đo  
lường bởi 10 biến. Các đối tượng tham gia  
khảo sát sẽ trả lời các câu hỏi theo thang đo 5  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
tính, độ tuổi, nghề nghiệp không có tác động  
sẽ được áp dụng phương pháp bootstrapping  
cũng như không làm sai lệch đến mối quan  
hệ chính giữa biến tính cách, mạng lưới xã  
hội và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ  
xã hội (Networking). Kết quả phân tích dữ  
liệu phản ánh mối quan hệ tương quan giữa  
các biến trong mô hình nghiên cứu.  
để kiểm tra.  
4. Kết quả  
4.1. Dữ liệu miêu tả  
Kết quả từ bảng 2 chỉ ra rằng, giá trị trung  
bình của các biến dao động từ 3,27 đến 3,98  
với độ lệch chuẩn từ 0,47 cho đến 0,86. Kết  
quả chạy từ phần mềm SPSS 22.0 cho kết  
quả hệ số tin cậy Cronbach alpha của các  
thang đo đều từ 0,87 trở lên (mức độ tin cậy  
cao).  
3.3. Chiến lược phân tích dữ liệu  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử  
dụng hai phần mềm SPSS 22.0 và AMOS  
22.0 để phân tích dữ liệu để đạt kết quả  
nghiên cứu. Đầu tiên, chúng tôi sử dụng  
SPSS 22.0 để tính giá trị trung bình, độ lệch  
chuẩn, và độ tin cậy của các thang đo là hệ số  
Cronbach alpha. Sau đó, chúng tôi sử dụng  
AMOS 22.0 cho phân tích nhân tố khẳng  
định (CFA) để kiểm tra hai giá trị là giá trị  
hội tụ và giá trị phân biệt của các biến đo  
lường thông qua việc chạy một số mô hình  
các nhân tố khẳng định. Cuối cùng, chúng tôi  
sử dụng AMOS 22.0 để kiểm tra mô hình  
phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm tra các  
giả thuyết nghiên cứu. Trong đó, có giả  
thuyết về biến trung gian là mạng lưới xã hội,  
Bảng 2:  
Bảng 2 chỉ ra rằng các biến tính cách trung  
thực - khiêm tốn (r = .016, p < 0.05), hướng  
ngoại (r = .212, p < 0.01), dễ chịu (r = .226,  
p < 0.01), tận tâm (r = .079, p < 0.01), và cởi  
mở (r = .127, p < 0.01) có sự tương quan  
tích cực với biến mạng lưới xã hội. Trong  
khi đó biến tính cách đa cảm có mối tương  
quan nghịch đối với biến mạng lưới xã hội  
(r = -.191, p < 0.01). Bên cạnh đó, biến mạng  
lưới xã hội tương quan với biến hành vi Liên  
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
(r = .407, p < 0.01).  
Ma trận tương quan giữa các biến  
M
SD/α  
AVE/C.R  
1
2
3
4
5
6
7
1 Trung thực - Khiêm tốn  
2 Đa cảm  
3,31  
3,27  
3,85  
3,96  
3,92  
3,62  
3,34  
0,86/0,91  
0,84/0,89  
0,55/0,91  
0,54/0,90  
0,47/0,89  
0,86/0,89  
0,59/0,87  
.53/.91  
1
.51/.89 -,248**  
1
3 Hướng ngoại  
4 Dễ chịu  
.52/.91  
.80/.90  
.52/.90  
.53/.89  
.64/.87  
,029 -,016  
1
,038 -,134** ,170**  
,011 -,169** ,048  
1
5 Tận tâm  
,066  
1
6 Cởi mở  
-,043 -,187** ,059 ,092* ,019  
1
7 Mạng lưới xã hội  
,016* -,191** ,212** ,226** ,079* ,127**  
1
Hành vi Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking)  
8
3,98  
0,52/0,93  
.65/.93 ,259** -,516** ,434** ,279** ,190** ,257** ,407**  
Ghi chú: N = 773, ** p < 0,01, *p < 0,05, M = giá trị trung bình, SD = Độ lệch chuẩn, α = Hệ số  
Cronbach's Alpha, AVE = Phương sai trích, C.R = Độ tin cậy  
hình giả thuyết có phải là mô hình thích hợp  
4.2. Giá trị và độ tin cậy của thang đo  
nhất hay không. Kết quả của bảng 3 cho biết  
Tác giả thực hiện một số phân tích nhân  
các chỉ số phản ánh mức độ phù hợp của mô  
tố khẳng định thay thế để kiểm tra liệu mô  
hình giả thuyết và 6 mô hình thay thế. So  
93  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
sánh các chỉ số giữa các mô hình ta thấy rằng  
0,970, TLI = 0,968. Kết luận, mô hình 8 nhân  
tố đề xuất là mô hình thích hợp nhất đại điện  
cho các biến quan sát.  
mô hình giả thuyết có các chỉ số tốt hơn so  
với các mô hình thay thế, χ² = 2823,344, df =  
1950, χ²/df = 1,448, RMSEA = 0,024, CFI =  
Bảng 3:  
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) của các mô hình thay thế.  
Các  
mô  
Các nhân tố  
χ²  
df  
χ²/df RMSEA  
∆ χ²  
CFI  
TLI  
hình  
Mô  
8 nhân tố: HH, EM, EX,  
2823,344 1950 1,448  
5350,019 1958 2,732  
0,024  
0,047  
-
0,970 0,968  
hình 1 AG, CO, OP, NS, NB  
Mô 7 nhân tố: HH + EM, EX,  
hình 2 AG, CO, OP, NS, NB  
2526,7 0,884 0,876  
2294,2 0,805 0,794  
6 nhân tố: HH + EM +  
EX, AG, CO, OP, NS, 7644,184 1965 3,890  
NB  
Mô  
hình 3  
0,061  
0,072  
0,082  
0,090  
0,095  
0,098  
5 nhân tố: HH + EM +  
EX + AG, CO, OP, NS, 9879,858 1971 5,013  
NB  
Mô  
hình 4  
2235,7 0,729 0,714  
2269,3 0,651 0,633  
2195,3 0,576 0,554  
1381,8 0,529 0,505  
1073,1 0,492 0,467  
4 nhân tố: HH + EM +  
EX + AG + CO, OP, NS, 12149,180 1976 6,148  
NB  
Mô  
hình 5  
3 nhân tố: HH + EM +  
EX + AG + CO + OP, 14344,524 1980 7,245  
NS, NB  
Mô  
hình 6  
2 nhân tố: HH + EM +  
EX + AG + CO + OP + 15726,311 1983 7,931  
NS, NB  
Mô  
hình 7  
1 nhân tố: HH + EM +  
EX + AG + CO + OP + 16799,460 1985 8,463  
NS + NB  
Mô  
hình 8  
Ghi chú: N = 773, HH: Trung thực - Khiêm tốn; EM: Đa cảm; EX: Hướng ngoại; AG: Dễ chịu, CO: Tận  
tâm, OP: Cởi mở; NS: Mạng lưới xã hội; NB: Hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking).  
Δχ2 : là sự khác biệt giữa mô hình 8 nhân tố và các mô hình khác  
các mối quan hệ xã hội (Networking) trong  
4.3. Kiểm định các giả thuyết  
quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên.  
Kết quả phân tích dữ liệu chỉ ra rằng mô hình  
4.3.1. Kiểm định các tác động trực tiếp  
Phân tích đường của mô hình phương  
trình cấu trúc được sử dụng để kiểm tra mức  
độ tương quan giữa các loại tính cách với  
mạng lưới xã hội, và mức độ tương quan  
giữa mạng lưới xã hội và hành vi Liên hệ với  
phù hợp với dữ liệu rất tốt: χ² = 2823,344,  
df = 1950; χ²/df = 1,448, RMSEA = 0,024,  
CFI = 0,970, TLI = 0,971, GFI = .942,  
AGFI = .932, các hệ số > 0,900. Để tăng các  
chỉ số của mô hình, tác giả đã sử dụng các  
94  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
hiệp phương sai giữa các biến quan sát, tuy  
lưới xã hội của sinh viên, với lần lượt là (r =  
0,182, p < 0.001), (r = 0,156, p < 0.001). Do  
vậy giả thuyết H3 và H4 cũng được chấp  
nhận. Ngược lại, các giả thuyết về sự tác  
động của tính cách trung thực - khiêm tốn,  
tận tâm và cởi mở lên mạng lưới xã hội bị  
bác bỏ (do p > 0,05). Cuối cùng, mạng lưới  
xã hội có tác động tích cực đến cường độ  
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) (r = 0,206, p < 0.001), do vậy  
giả thuyết H7 cũng được chấp nhận  
nhiên điều này không tác động độ tin cậy của  
dữ liệu. Các chỉ số của mô hình phản ánh đạt  
mức mong muốn (Hu & Bentler, 1999) (xem  
Hình 2).  
Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên  
cứu được tổng hợp tại Bảng 4. Theo đó, tính  
cách đa cảm có tác động lớn nhất đến mạng  
lưới xã hội, tuy nhiên tác động ngược chiều  
(r = -0,188, p < 0.001), do vậy giả thuyết H2  
được chấp nhận. Hai tính cách hướng ngoại  
và dễ chịu có tác động làm gia tăng mạng  
Bảng 4:  
Kết quả kiểm định các tác động trực tiếp  
Giả  
thuyết  
Estimate  
S.E.  
C.R.  
P
Kết luận  
Mạng lưới <---  
Mạng lưới <---  
Trung thực  
Đa cảm  
-0,034  
-0,188  
0,182  
0,156  
0,008  
0,057  
0,206  
0,028  
0,032  
0,041  
0,042  
0,052  
0,028  
0,025  
-,869  
-4,406  
4,707  
4,082  
0,201  
1,448  
6,963  
0,385  
***  
H1  
Bác bỏ  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
H2  
H3  
H4  
H5  
H6  
H7  
Mạng lưới <--- Hướng ngoại  
***  
Mạng lưới <---  
Mạng lưới <---  
Mạng lưới <---  
Networking <---  
Dễ chịu  
Tận tâm  
Cởi mở  
***  
0,841  
0,148  
***  
Bác bỏ  
Mạng lưới  
Chấp nhận  
dụng 5.000 bootstraps để kiểm tra, và kết quả  
đã được tổng hợp tại Bảng 4. Theo đó, chỉ có  
3 loại tính cách là đa cảm, hướng ngoại và dễ  
chịu là có sự tác động lên hành vi Liên hệ với  
các mối quan hệ xã hội (Networking) thông  
qua biến trung gian là mạng lưới xã hội. Do  
vậy các giả thuyết H9,10 và 11 là được chấp  
nhận (p < 0,05). Ngược lại, các giả thuyết về  
tính cách trung thực - khiêm tốn, tận tâm và  
cởi mở tác động lên hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) thông qua  
mạng lưới xã hội đều bị bác bỏ, hay không  
có ý nghĩa về mặt thống kê (do p > 0,05)  
4.3.2. Kiểm định các tác động gián tiếp  
Ở mô hình trung gian, giả thuyết rằng  
mạng lưới xã hội có vai trò trung gian trong  
mối quan hệ giữa các loại tính cách cá nhân  
và cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã  
hội (Networking). Để kiểm định được điều  
đó, tác giả đã sử dụng phương pháp  
bootstrapping để kiểm tra. Các học giả trước  
đây đều khẳng định rằng bootstrapping là  
một phương pháp rất phổ biến để kiểm tra sự  
tác động trung gian (Bollen & Stine, 1990;  
Shrout & Bolger, 2002). Ở đây, tác giả đã sử  
95  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 5:  
Kết quả của tổng tác động, tác động trực tiếp và tác động gián tiếp.  
95% BCa (5.000 bootstraps)  
Tổng tác  
động  
Tác động  
trực tiếp  
Tác động gián tiếp qua  
mạng lưới xã hội  
Hướng  
p
Trung thực - hành vi Networking  
Đa cảm - hành vi Networking  
Hướng ngoại - hành vi Networking  
Dễ chịu - hành vi Networking  
Tận tâm - hành vi Networking  
Cởi mở - hành vi Networking  
0,124  
-0,440  
0,427  
0,125  
0,085  
0,150  
0,131  
-0,401  
0,390  
0,093  
0,084  
0,138  
-0,007  
-0,039  
0,038  
0,032  
0,002  
0,012  
0,371  
0,000  
0,000  
0,001  
0,812  
0,096  
Hình 2: Hệ số tiêu chuẩn hóa của các đường trong mô hình giả thuyết  
trình tìm kiếm việc làm của sinh viên. Kết  
quả của nghiên cứu đã đem lại những hiểu  
biết sâu sắc về vai trò của các loại tính cách  
đến việc phát triển các mối quan hệ xã hội  
cho mục tiêu tìm kiếm việc làm thông qua  
việc phát triển mạng lưới xã hội.  
5. Kết luận  
Mục đích của nghiên cứu này là khám phá  
ra vai trò trung gian của biến mạng lưới xã  
hội trong mối quan hệ giữa các loại tính cách  
HEXACO và biến hành vi Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) trong quá  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
Nhiều đóng góp về mặt khoa học của  
cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) cho tìm kiếm thông tin việc  
làm. Tính cách thứ 2 là tính cách hướng  
ngoại. Tính cách này có tác động tích cực  
đến phạm vi mạng lưới xã hội. Những người  
có tính hướng ngoại càng cao thì càng sở hữu  
mạng lưới xã hội lớn hơn. Khi có được mạng  
lưới xã hội càng lớn, tức là người này sẽ có  
một số lượng lớn các đầu mối cung cấp thông  
tin việc làm, làm gia tăng thông tin tuyển  
dụng cũng như cơ hội việc làm cho họ. Tính  
cách thứ 3 có mối quan hệ với hành vi Liên  
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
thông qua việc phát triển mạng lưới xã hội,  
đó là tính cách dễ chịu. Với tính cách hòa  
đồng, mềm dẻo với các mối quan hệ xung  
quanh, những cá nhân này nhận được thiện  
cảm, quý mền và tăng cơ hội kết bạn hay số  
lượng bạn bè. Kết quả là tính cách này có  
được mạng lưới xã hội lớn hơn, ảnh hưởng  
tích cực đến việc Liên hệ với các mối quan  
hệ xã hội (Networking) cho tìm kiếm việc  
làm.  
nghiên cứu này có thể kể ra. Thứ nhất,  
nghiên cứu này đã kiểm tra mối quan hệ giữa  
các loại tính cách cá nhân và mạng lưới xã  
hội. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra tính  
cách đa cảm có tác động làm giảm kích  
thước mạng lưới xã hội, trong khi đó tính  
cách hướng ngoại và dễ chịu có tác động tích  
cực làm gia tăng phạm vi mạng lưới xã hội  
của sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc  
làm. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết  
quả đã tìm thấy trong nghiên cứu của các tác  
giả trước đây (Mai, Le, Phung, & Nguyen,  
2020; Le, 2021). Đóng góp quan trọng thứ  
hai của nghiên cứu này cũng chỉ mối quan hệ  
tích cực giữa kích cỡ mạng lưới xã hội và  
hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) để tìm kiếm thông tin việc làm.  
Theo đó, sinh viên có mạng lưới xã hội càng  
lớn thì họ có cường độ Liên hệ với các mối  
quan hệ xã hội (Networking) càng nhiều,  
giống như kết quả tìm được của Wanberg và  
cộng sự (2000).  
Cuối cùng, phát hiện quan trọng nhất của  
nghiên cứu này là tìm ra vai trò trung gian  
của mạng lưới xã hội trong mối quan hệ giữa  
các tính cách HEXACO và hành vi Liên hệ  
với các mối quan hệ xã hội (Networking)  
trong quá trình tìm kiếm việc làm của sinh  
viên. Phát hiện này bổ sung vào nghiên cứu  
của Lin & Le (2019), Le (2021). Theo đó, có  
3 loại tính cách cá nhân có ảnh hưởng lên  
phạm vi các mối quan hệ xã hội của các cá  
nhân tìm kiếm việc làm, từ đó mạng lưới xã  
hội tác động đến cường độ Liên hệ với các  
mối quan hệ xã hội (Networking) để tìm  
kiếm việc làm của sinh viên. Thứ nhất đó là  
tính cách đa cảm. Những sinh viên có tính  
cách đa cảm có phạm vi các mối quan hệ xã  
hội hẹp. Do tính cách này thường bộc lộ tâm  
lý thất thường, có những mâu thuẫn, xung  
đột đối với người xung quanh. Kết quả là  
những cá nhân có tính cách này, có rất ít mối  
quan hệ xã hội và ảnh hưởng xấu, làm giảm  
Tuy nhiên, nghiên cứu đã chưa tìm được  
sự tác động của ba tính cách (trung thực -  
khiêm tốn, tận tâm và cởi mở) đến biến mạng  
lưới xã hội (giả thuyết 1, 5, và 6 bị bác bỏ do  
p > 0,05), và cũng chưa khám phá vai trò  
trung gian của biến mạng lưới xã hội trong  
mối quan hệ giữa ba tính cách này và hành vi  
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking) (giả thuyết 8, 12 và 13 bị bác  
bỏ). Điều này có thể được giải thích như sau  
sinh viên có tính cách trung thực - khiêm tốn  
là những người ưa thích sự công bằng, bình  
đẳng trong các vấn đề. Họ có xu hướng tránh  
sử dụng các mối quan hệ cá nhân để có được  
nhiều cơ hội việc làm hơn người khác. Trong  
khi đó, những người có tính cách tận tâm  
không thiên hướng về việc chú trọng mở  
rộng các mối quan hệ xã hội, và có thể điều  
này có ảnh hưởng đến hành vi Liên hệ với  
các mối quan hệ xã hội trong quá trình tìm  
kiếm việc làm. Đối với sinh viên có tính cởi  
97  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
mở, họ có thể sẵn sàng với những trải  
điểm mạnh và hạn chế của từng loại tính  
cách cá nhân trong chương trình học.  
nghiệm mới, nhưng không đồng nghĩa rằng  
họ có nhiều bạn bè, các mối quan hệ hơn.  
Chính vì vậy mà những sinh viên có tính  
cách này có thể chưa có mạng lưới xã hội lớn  
hơn và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ  
xã hội (Networking) mạnh hơn.  
Nghiên cứu này cũng đưa ra một số đề  
xuất cho người làm công tác đào tạo hay  
quản lý giáo dục. Tính cách cá nhân ảnh  
hưởng rất lớn tới hành động cũng như kết  
quả của các cá nhân. Nghiên cứu cũng đề  
xuất các gia đình cũng nên hỗ trợ Nhà trường  
trong việc quan sát và giúp đỡ học sinh sinh  
viên nhận biết trong việc giảm đi những tác  
động xấu cũng như phát huy điểm mạnh của  
từng loại tính cách trong học tập và sau khi  
ra trường.  
Nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn trong  
thực tiễn, đối với những người làm công tác  
đào tạo hay tư vấn cho sinh viên. Dựa vào  
những kết quả đạt được, có thể thấy được  
tầm quan trọng của các loại tính cách cá nhân  
đối với việc xây dựng các mối quan hệ, và sử  
dụng các mối quan hệ đó vào quá trình tìm  
kiếm việc làm. Các nhà đào tạo hay tư vấn có  
thể giải thích cho sinh viên biết được những  
đặc điểm của một số loại tính cách như tính  
hướng ngoại hay tính dễ chịu trong các mối  
quan hệ xã hội. Hay có thể chỉ ra những hạn  
chế của tính cách đa cảm, và từ đó tìm ra  
biện pháp hay phương hướng để khắc phục,  
giảm thiểu sự tác động của loại tính cách này  
đến quá trình xây dựng các mối quan hệ cũng  
như quá trình tìm kiếm việc làm. Chính vì  
vậy, các nhà làm công tác đào tạo nên bổ  
sung những khóa học về giảng dạy, tư vấn  
cho học sinh sinh viên nắm bắt được những  
Nghiên cứu này cũng chỉ ra các hướng  
nghiên cứu tương lai cho các học giả khác.  
Các học giả có thể nghiên cứu các tính cách  
này có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tìm kiếm  
việc làm như cơ hội tuyển dụng, mức lương,  
hay sự thỏa mãn trong công việc. Trong  
nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu sự tác  
động của tính cách cá nhân của sinh viên đối  
với việc phát triển mạng lưới xã hội và hành  
vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội  
(Networking). Nghiên cứu trong tương lai có  
thể nghiên cứu mối quan hệ này cho đối  
tượng khác như người đang làm việc nhưng  
muốn tìm công việc mới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Adler, P. S., & Kwon, S. W. (2002). Social capital: Prospects for a new concept. Academy of  
Management Review, 27, 17-40. doi:10.5465/amr.2002.5922314  
Ashton, M. C., & Lee, K. (2007). Empirical, theoretical, and practical advantages of the  
HEXACO model of personality structure. Personality and Social Psychology Review, 11,  
150-166. doi:10.1177/1088868306294907  
Ashton, M. C., & Lee, K. (2009). The HEXACO-60: A short measure of the major dimensions  
of  
personality.  
journal  
of  
Personality  
Assessment,  
91(4),  
340-345.  
doi:10.1080/00223890902935878  
Ashton, M. C., Lee, K., & Visser, B. A. (2019). Where's the H? Relations between BFI-2 and  
HEXACO-60 scales. Personality and Individual Differences, 137, 71-75.  
doi:10.1016/j.paid.2018.08.013  
Ashton, M. C., Lee, K., Perugini, M., Szarota, P., Vries, R. E., Blas, D. L., Raad, B. D. (2004).  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
A six-factor structure of personality-descriptive adjectives: solutions from psycholexical  
studies in seven languages. Journal of Personality and Social Psychology, 86(2), 356-366.  
doi:10.1037/0022-3514.86.2.356  
Barrick, M. R., & Mount, M. K. (1991). The big five personality dimensions and job  
performance: A meta-analysis. Personnel Psychology, 44(1), 1-26. doi:10.1111/j.1744-  
6570.1991.tb00688.x  
Bollen, K. A., & Stine, R. (1990). Direct and indirect effects: Classical and bootstrap estimates  
of variability. Sociological Methodology, 20, 115-140. doi:10.2307/271084  
Breevaart, K., & De Vries, R. E. (2019). Followers’ HEXACO personality traits and preference  
for charismatic, relationship-oriented, and task-oriented leadership. Journal of Business  
and Psychology. doi:10.1007/s10869-019-09671-6  
Brown, D. W., & Konrad, A. M. (2001). Granovetter was right: The importance of weak ties to  
a contemporary job search. Group & Organization Management, 26, 434-462.  
doi:10.1177/1059601101264003  
Cannata, M. (2011). The Role of Social Networks in the Teacher Job Search Process. The  
Elementary School Journal, 111(3), 477-500. doi:10.1086/657656  
Conger, J. A. (1999). Charismatic and transformational leadership in organizations: An  
insider’s perspective on these developing streams of research. The Leadership Quarterly,  
10(2), 145-179. doi:10.1016/S1048-9843(99)00012-0  
Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1992). Normal personality assessment in clinical practice: The  
NEO Personality Inventory. Psychological Assessment, 4(1), 5-13. doi:10.1037/1040-  
3590.4.1.5  
De Vries, R. E. (2008). What are we measuring? Convergence of leadership with interpersonal  
and  
non-interpersonal  
personality.  
Leadership,  
4(4),  
403-417.  
doi:10.1177/1742715008095188  
Demir, M., & Weitekamp, L. A. (2007). I am so happy cause today I found my friend:  
Friendship and personality as predictors of happiness. Journal of Happiness Studies, 8(2),  
181-211. doi:10.1007/s10902-006-9012-7  
Fishman, I., Ng, R., & Bellugi, U. (2011). Do extraverts process social stimuli differently from  
introverts? Cognitive neuroscience, 2(2), 67-73. doi:10.1080/17588928.2010.527434  
Forret, M. L. (2014). Networking as a job-search behavior and career management strategy. In  
U.-C. Klehe , & E. Van Hooft, The Oxford Handbook of Job Loss and Job Search (pp.  
275-291). Oxford University Press. doi:10.1093/oxfordhb/9780199764921.013.022  
Forret, M. L., & Dougherty, T. W. (2001). Correlates of networking behavior for managerial  
and professional employees. Group & Organization Management, 26, 283-311.  
doi:10.1177/1059601101263004  
Franzen, A., & Hangartner, D. (2006). Social networks and labour market outcomes: The non-  
monetary benefits of social capital. European Sociological Review, 22(4), 353-368.  
doi:10.1093/esr/jcl001  
Fullarton, C., Fuller-Tyszkiewicz, M., & Treuer, K. V. (2013). The mediating role of work  
climate perceptions in the relationship between personality and performance. 23(4), 525-  
536. doi:10.1080/1359432X.2013.764601  
99  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Granovetter, M. S. (1973). The strength of weak ties. American Journal of Sociology, 78,  
1360-1380.  
Graziano, W. G., Jensen-Campbell, L. A., & Hair, E. C. (1996). Perceiving interpersonal  
conflict and reacting to it: the case for agreeableness. Journal of Personality and Social  
Psychology, 70(4), 820-835. doi:10.1037//0022-3514.70.4.820  
Hagberg, M., Hagberg, B., & Saveman, B.-I. (2002). The significance of personality factors for  
various dimensions of life quality among older people. Aging and Mental Health, 6(2),  
178-185. doi:10.1080/13607860220126754  
Hu, L., & Bentler, P. M. (1999). Cutoff criteria for fit indexes in covariance structure analysis:  
Conventional criteria versus new alternatives. Structural Equation Modeling, 6(1), 1-55.  
doi:10.1080/10705519909540118  
Iveniuk, J. (2018). Social networks, role-relationships, and personality in older adulthood. The  
Journals of Gerontology: Series B, 74(5), 815-826. doi:10.1093/geronb/gbx120  
Kramer, A., Bhave, D. P., & Johnson, T. D. (2014). Personality and group performance: The  
importance of personality composition and work tasks. Personality and Individual  
Differences, 58, 132-137. doi:10.1016/j.paid.2013.10.019  
Le, T. S. (2021). Personality traits - the difference in terms of the networking intensity in the  
job search process. Khoa học Kinh tế, 9(1), 80-88.  
Lee, K., & Ashton, M. C. (2004). Psychometric properties of the HEXACO personality  
inventory. 39(2), 329-358. doi:10.1207/s15327906mbr3902_8  
Li, J., Tian, M., Fang, H., Xu, M., Li, H., & Liu, J. (2010). Extraversion predicts individual  
differences in face recognition. Communicative & Integrative Biology, 3(4), 295-298.  
doi:10.4161/cib.3.4.12093  
Lin, S.-P., & Le, S.-T. (2019). Predictors and outcomes of Vietnamese university  
graduates’networking behavior as job seekers. Social behavior and Personality, 47(10), 1-  
11. doi:10.2224/sbp.8379  
Mai, T. K., Le, S. T., Phung, T. M., & Nguyen, H. T. (2020). HEXACO Personality Traits and  
Job Seekers' Networking Behavior: The Effect of Network Size. The Journal of Asian  
Finance,  
Economics  
and  
Business,  
7(12),  
545-553.  
doi:10.13106/jafeb.2020.vol7.no12.545  
Marin, A. (2012). Don't mention it: Why people don't share job information, when they do, and  
why it matters. Social Networks, 34(2), 181-192. doi:10.1016/j.socnet.2011.11.002  
Molho, C., Roberts, S. G., de Vries, R. E., & Pollet, T. V. (2016). The six dimensions of  
personality (HEXACO) and their associations with network layer size and emotional  
closeness to network members. Personality and Individual Differences, 99, 144-148.  
doi:10.1016/j.paid.2016.04.096  
Nettle, D. (2007). Personality: What makes you the way you are. Oxford University Press.  
O’Connor, L. T. (2013). Ask and you shall receive: Social network contacts’ provision of help  
during the job search. Social Networks, 35(4), 593-603. doi:10.1016/j.socnet.2013.07.005  
Ozer, D. J., & Benet-Martínez, V. (2006). Personality and the prediction of consequential  
outcomes.  
Annual  
Review  
of  
Psychology,  
57,  
401-421.  
doi:10.1146/annurev.psych.57.102904.190127  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
Rodríguez-Villalobos, M., & Rangel-González, E. (2020). Social networks and job quality in  
Mexico: 2005-2019. Heliyon, 6(6), e04127. doi:10.1016/j.heliyon.2020.e04127  
Seibert, S. E., Kraimer, M. L., & Liden, R. C. (2001). A social capital theory of career success.  
Academy of Management Journal, 44, 219-237. doi:10.5465/3069452  
Selden, M., & Goodie, A. S. (2017). Review of the effects of Five Factor Model personality  
traits on network structures and perceptions of structure. Social Networks, 52, 81-99.  
doi:10.1016/j.socnet.2017.05.007  
Shrout, P. E., & Bolger, N. (2002). Mediation in experimental and nonexperimental studies:  
New procedures and recommendations. Psychological Methods, 7(4), 422-445.  
doi:10.1037/1082-989X.7.4.422  
Smółka, P., & Szulawski, M. (2011). Personality traits and motivational traits as predictors of  
social competence: Implication for occupational selection process. Edukacja Ekonomistów  
I Menedżerów, 22(4), 111-126. doi:10.5604/01.3001.0009.5542  
Sutin, A. R., Costa, P., Miech, R., & Eaton, W. W. (2009). Personality and career success:  
Concurrent and longitudinal relations. European Journal of Personality, 23(2), 71-84.  
doi:10.1002/per.704  
Thomas, J. P., Whitman, D. S., & Viswesvaran, C. (2010). Employee proactivity in  
organizations: A comparative meta-analysis of emergent proactive constructs. Journal of  
Occupational  
and  
Organizational  
Psychology,  
83(2),  
275-300.  
doi:10.1348/096317910X502359  
Totterdell, P., Holman, D., & Hukin, A. (2008). Social networkers: Measuring and examining  
individual differences in propensity to connect with others. Social Networks, 30(4), 283-  
296. doi:10.1016/j.socnet.2008.04.003  
Van Hoye, G., van Hooft, E. A., & Lievens, F. (2009). Networking as a job search behaviour:  
A social network perspective. Journal of Occupational and Organizational Psychology,  
82, 661-682. doi:10.1348/096317908X360675  
Wagner, J., Lüdtke, O., Roberts, B. W., & Trautwein, U. (2014). Who belongs to me? social  
relationship and personality characteristics in the transition to young adulthood. European  
Journal of Personality, 28(6), 586-603. doi:10.1002/per.1974  
Wanberg, C. R., Kanfer, R., & Banas, J. T. (2000). Predictors and outcomes of networking  
intensity among unemployed job seekers. Journal of Applied Psychology, 85, 491-503.  
doi:10.1037/0021-9010.85.4.491  
Wright, K. B., & Miller, C. (2010). A measure of weak-tie/strong-tie support network  
preference.  
Communication  
Monographs,  
77(4),  
500-517.  
doi:10.1080/03637751.2010.502538  
Wrosch, C., & Scheier , M. F. (2003). Personality and quality of life: The importance of  
optimism and goal adjustment. Quality of Life Research, 12, 59-72.  
doi:10.1023/A:1023529606137  
Zhu, X., Woo, S. E., Porter, C. M., & Brzezinski, M. (2013). Pathways to happiness: From  
personality to social networks and perceived support. Social Networks, 35(3), 382-393.  
doi: 10.1016/j.socnet.2013.04.005.  
101  
pdf 16 trang Thùy Anh 23560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình giải thích mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, mạng lưới xã hội và cường độ liên hệ với các mối quan hệ xã hội (networking) của sinh viên tốt nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_giai_thich_moi_quan_he_giua_tinh_cach_ca_nhan_mang_l.pdf