Mô hình giải thích mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, mạng lưới xã hội và cường độ liên hệ với các mối quan hệ xã hội (networking) của sinh viên tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
MÔ HÌNH GIẢI THÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH CÁCH CÁ NHÂN,
MẠNG LƯỚI XÃ HỘI VÀ CƯỜNG ĐỘ LIÊN HỆ
VỚI CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI (NETWORKING)
CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
MODEL EXPLAINING THE RELATIONSHIPS BETWEEN PERSONALITY TRAITS,
NETWORK SIZE, AND NETWORKING INTENSITY OF NEW GRADUATES
Ngày nhận bài: 05/08/2021
Ngày chấp nhận đăng: 23/09/2021
Lê Sơn Tùng
TÓM TẮT
Mặc dù hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking) đã được xem là một chiến lược
tìm kiếm việc làm hiệu quả với sinh viên, nhưng nhiều cá nhân dường như không muốn sử dụng
nó như một cách để có được việc làm. Tính cách cá nhân được tìm thấy như là một nhân tố tác
động vào cường độ sử dụng các mối quan hệ xã hội (Networking), tuy nhiên vẫn thiếu nghiên cứu
chỉ ra cơ chế tác động của nó đến hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking). Mục
đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ giữa tính cách cá nhân và hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) thông qua biến trung gian, đó là mạng lưới xã hội. Nghiên cứu
tiến hành khảo sát trên 773 đối tượng sinh viên tốt nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã đem lại nhiều
hiểu biết sâu sắc về vai trò của các loại tính cách cá nhân đối với việc phát triển các mối quan hệ
xã hội và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking). Ý nghĩa và kết quả của nghiên
cứu sẽ được thảo luận chi tiết.
Từ khóa: Tính cách cá nhân HEXACO, mạng lưới xã hội, hành vi Networking, tính hướng ngoại,
tính đa cảm, tỉnh cởi mở.
ABSTRACT
Although networking behavior has been seen as an effective job search strategy for students,
many individuals seem to avoid using this method to get employment. Personality traits were found
as an important factor influencing Networking intensity, however, too little research about the
mechanism linking between personality traits and Networking behavior. The goal of this study is to
investigate the relationship between personality traits and Networking behavior via network size.
The survey was conducted on 773 respondents who are new graduates. Results indicated the
important insight into the role of personality traits on expanding social relationships as well as
Networking behavior. Results and implications will be discussed in detail.
Keywords: HEXACO personality traits, network size, networking behavior, extraversion,
emotionality, openness to experience.
cộng sự (2000), hành vi Liên hệ với các mối
1. Giới thiệu
quan hệ xã hội (Networking) là việc liên hệ
Trong rất nhiều năm trở lại đây, một số
với bạn bè, người thân hoặc các mối quan hệ
lượng lớn các học giả dành sự quan tâm cho
xã hội khác để tìm kiếm thông tin việc làm
việc nghiên cứu sự tác động của hành vi Liên
hoặc vị trí tuyển dụng. Kết quả nghiên cứu
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)
cho thấy hành vi Liên hệ với các mối quan hệ
tới kết quả tìm kiếm và sự thành công của
xã hội (Networking) ảnh hưởng tích cực đến
những người tìm kiếm việc làm (Forret,
2014; Forret & Dougherty, 2001; Lin & Le,
2019; Van Hoye & cộng sự, 2009; Wanberg
Lê Sơn Tùng, Khoa Kinh tế - Trường Đại học
Hàng hải Việt Nam
& cộng sự, 2000). Theo tác giả Wanberg &
86
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
một loạt các chỉ tiêu tìm kiếm việc làm như
biến mạng lưới mối quan hệ xã hội. Trong
nghiên cứu, tác giả sẽ giải thích mối quan hệ
giữa các biến tính cách cá nhân, mạng lưới
mối quan hệ xã hội và cường độ Liên hệ với
các mối quan hệ xã hội (Networking) trong
quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên.
số lượng các cuộc phỏng vấn, lời đề nghị
tuyển dụng, tốc độ tuyển dụng, mức độ phù
hợp giữa tổ chức - cá nhân, hay mức độ thỏa
mãn công việc (Forret, 2014; Lin & Le,
2019; Rodríguez-Villalobos
&
Rangel-
González, 2020; Van Hoye & cộng sự, 2009;
Wanberg & cộng sự, 2000).
2. Cơ sở lý luận
2.1. Hành vi Liên hệ với các mối quan hệ
xã hội (Networking)
Ở mặt khác, các nhà tâm lý học và các
nghiên cứu tập trung vào các yếu tố dự đoán
đến cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã
hội (Networking) của người tìm kiếm việc
làm, và nhận thấy rằng tính cách cá nhân là
một trong những yếu tố tác động trực tiếp
hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) (Forret & Dougherty, 2001;
Lin & Le, 2019; Wanberg & cộng sự, 2000).
Chẳng hạn như, nhóm nghiên cứu Forret &
Dougherty (2001) nhận thấy rằng những cá
nhân có tính hướng ngoại thể hiện cường độ
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) lớn hơn so với những cá nhân
có tính hướng nội. Hay trong nghiên cứu của
Lin & Le (2019) phát hiện ra rằng những cá
nhân có tính cách đa cảm thường có xung
đột, bất ổn dẫn đến họ có ít các mối quan hệ
xã hội và cường độ thấp về hành vi Liên hệ
với các mối quan hệ xã hội (Networking).
Mặc dù, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được
sự tác động của các loại tính cách cá nhân
đến hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã
hội (Networking), tuy nhiên có rất ít những
nghiên cứu chỉ ra cơ chế tác động giữa các
loại tính cách cá nhân và cường độ Liên hệ
với các mối quan hệ xã hội (Networking).
Điều này gây ra sự khó hiểu cho những
người muốn tìm hiểu và cải thiện sự tác động
của tính cách cá nhân đến hành vi Liên hệ
với các mối quan hệ xã hội (Networking).
Năm 2000, Wanberg và cộng sự giới
thiệu một khái niệm Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking), và định nghĩa
nó như một phương pháp tìm kiếm việc làm
không chính thức. Thay vì các cá nhân tự tìm
kiếm thông tin tuyển dụng từ các kênh chính
thức như cơ quan tuyển dụng, trung tâm việc
làm,… thì họ liên hệ với bạn bè, người thân
quen của mình và nhờ họ tìm kiếm và cung
cấp các thông tin này. Sau đó, các nghiên cứu
đã nhận thấy được rất nhiều lợi ích từ việc
làm này, và cho biết hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) không chỉ
hiệu quả trong việc tìm kiếm thông tin và cơ
hội việc làm, mà nó còn đem lại nhiều lợi ích
khác như tiết kiệm chi phí tuyển dụng, hay
những lời tư vấn hữu ích (Forret, 2014;
Franzen & Hangartner, 2006; Lin & Le,
2019; Van Hoye & cộng sự, 2009; Wanberg
& cộng sự, 2000).
2.2. Tính cách cá nhân
Năm 1992, nhóm tác giả Costa & McCrae
xây dựng mô hình Big Five về tính cách cá
nhân. Mô hình đã phân chia tính cách con
người thành 5 loại chính, đó là tính hướng
ngoại, tính hướng ngoại, tính nhạy cảm, tính
tận tâm, tính dễ chịu và tính cởi mở. Đến năm
2004, nhóm tác giả Ashton và công sự cho
biết, mô hình 5 tính cách của Costa & McCrae
(1992) chưa liệt kê đủ các loại tính cách của
con người, và đưa ra mô hình 6 loại tính cách
mới. Đó là mô hình HEXACO, bao gồm tính
trung thực - khiêm tốn (H), tính đa cảm (E),
Mục đích chính của nghiên cứu này là tìm
hiểu mối quan hệ của các tính cách cá nhân
và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã
hội (Networking) trong quá trình tìm kiếm
việc làm thông qua biến trung gian, đó là
87
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
tính hướng ngoại (X), tính dễ chịu (A), tính
cũng sẽ mang lại lượng thông tin việc làm,
cơ hội tuyển dụng là khác nhau.
tận tâm (C), và tính cởi mở (O). So với mô
hình 5 tính cách của Costa & McCrae (1992),
mô hình HEXACO cho thấy được đầy đủ các
loại tính cách của con người, và được áp dụng
ngày càng phổ biến (Ashton, Lee, & Visser,
2019). Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Lin
& Le (2019) đã chứng minh vai trò của loại
tính cách HEXACO trong quá trình tìm kiếm
việc làm của sinh viên. Cụ thể, nghiên cứu đã
chỉ ra rằng những người mà có tính cách trung
thực - khiêm tốn cao có xu hướng có cường
độ Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) cao hơn so với những cá nhân
mà có mức độ trung thực - khiêm tốn thấp.
Hoặc đối với sinh viên mà có tính đa cảm
càng cao thì người này càng có ít hành vi Liên
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)
trong quá trình tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên,
trong nghiên cứu này chưa chỉ ra được cơ chế
giải thích sự tác động của các tính cách cá
nhân đến cường độ hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) trong quá
trình tìm kiếm việc làm.
2.4. Tính cách cá nhân và mạng lưới xã hội
Nghiên cứu Lee & Ashton (2004), dường
như mọi người muốn kết bạn và duy trì mối
quan hệ đối với những người có tính cách
trung thực - khiêm tốn. Những người có tính
cách này thường cho thấy sự ngay thẳng và
sự đáng tin cậy cao. Trong các mối quan hệ,
sự ngay thẳng và tin cậy luôn được đánh giá
là một trong những tiêu chí hàng đầu để xây
dựng mối quan hệ bền vững. Theo nghiên
cứu của nhóm tác giả Molho & cộng sự
(2016) cho biết những người có tính trung
thực - khiêm tốn cao có thể xây dựng được
những mối quan hệ tình cảm thân thiết với
các thành viên trong nhóm. Theo dự đoán
của chúng tôi, những cá nhân có tính cách
này có thể xây dựng cho mình một mạng lưới
xã hội có quy mô lớn.
Giả thuyết H1: Tính cách trung thực -
khiêm tốn có tác động tích cực đến mạng lưới
xã hội của những người tìm kiếm việc làm.
Lee & Ashton (2004) định nghĩa tính cách
đa cảm (emotionality) được đặc trưng bởi các
khía cạnh như sự sợ hãi, lo lắng, phụ thuộc
và đa cảm. Các nghiên cứu trước đây cho
biết những người có tính cách đa cảm thường
thiếu sự tự tin, và các kỹ năng giao tiếp bởi
vì họ thường tỏ ra lo lắng hơn so với những
người khác (Selden & Goodie, 2017; Smółka
& Szulawski, 2011). Bên cạnh đó, những
người với tính cách này thường hiếm khi chủ
động xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã
hội (Selden & Goodie, 2017). Kết quả là
những người có tính cách đa cảm càng lớn
dường như có mạng lưới xã hội càng nhỏ. Do
vậy, tác giả cho rằng:
2.3. Mạng lưới xã hội
Theo Seibert, Kraimer, & Liden (2001)
cho biết mạng lưới xã hội là biểu thị số
lượng người có thể liên hệ để hỏi thông tin
việc làm hoặc cơ hội tuyển dụng. Các nhà
nghiên cứu cho rằng các mối quan hệ xã hội
có thể cung cấp các hỗ trợ và là nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các cá
nhân. Chính vì vậy, mạng lưới xã hội có ảnh
hưởng lớn đến những hỗ trợ và lợi ích mà
các cá nhân sẽ nhận được. Theo nhóm tác
giả Ioannides & Datcher Loury (2004) cho
biết, một cá nhân có mạng lưới xã hội lớn
hơn sẽ có xu hướng nhận được nhiều hỗ trợ
hơn so với những cá nhân có mạng lưới xã
hội nhỏ hơn. Dựa vào những bằng chứng mà
các nghiên cứu trước đây tìm ra, tác giả cho
rằng mạng lưới xã hội khác nhau về kích cỡ
Giả thuyết H2: Tính cách đa cảm tác
động tiêu cực đến mạng lưới xã hội của
những người tìm kiếm việc làm.
88
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
Tính cách thứ hai là tính cách hướng
người có tính cách tận tâm không thiên
hướng về việc chú trọng mở rộng các mối
quan hệ xã hội, mà thay vào đó là xây dựng
các mối quan hệ bền vững, chặt chẽ
(Totterdell & cộng sự, 2008; Zhu & cộng sự,
2013). Họ tập trung nâng cao chất lượng của
các mối quan hệ vốn có (Wagner & cộng sự,
2014). Chính vì vậy, nhóm tác giả Demir &
Weitekamp, (2007), cũng tìm thấy bằng
chứng về việc những người có tính tận tâm
có ít mối mâu thuẫn với những người xung
quanh. Vậy với những bằng chứng thu thập
được từ các nghiên cứu trước đây, chúng tôi
cho rằng những người có tính tận tâm có
những mối quan hệ bền chặt, tuy nhiên họ có
mạng lưới xã hội nhỏ hơn so với các cá nhân
có tính cách khác.
ngoại. Tính cách được giải thích bởi các khía
cạnh như tính biểu cảm, tính mạnh dạn, tính
hòa đồng và tính sôi nổi (Ashton & Lee,
2007). Tính cách này được chứng minh là có
mối liên hệ tích cực với việc tham gia vào
các hoạt động xã hội, và sự phát triển các kỹ
năng. So với những người có tính cách
hướng nội, những cá nhân hướng ngoại tìm
thấy nhiều động lực tham gia vào các hoạt
động xã hội. Họ chủ động tìm kiếm sự tương
tác, và kết nối với các mối quan hệ xã hội
(Smółka & Szulawski, 2011). Kết quả nghiên
cứu trước đây cho biết, khi họ tham gia vào
các hoạt động, kỹ năng giao tiếp của họ cũng
trở lên tốt hơn, và cuối cùng là họ kết bạn
được nhiều hơn. Dựa vào những lập luận
logic trên, chúng tôi kỳ vọng rằng:
Giả thuyết H5: Tính cách tận tâm có tác
động tiêu cực đến mạng lưới xã hội của
những người tìm kiếm việc làm.
Giả thuyết H3: Tính cách hướng ngoại có
tác động tích cực đến mạng lưới xã hội của
những người tìm kiếm việc làm.
Tính cách cuối cùng trong mô hình
HEXACO, đó là tính cởi mở. Tính cởi mở
được đặc trưng bởi tính thẩm mỹ, sự ham học
hỏi, sáng tạo và độc đáo (Lee & Ashton,
2004). Các học giả trước đây tìm thấy tính
cởi mở có liên quan tích cực đến số lượng
các mối quan hệ xã hội (Molho & cộng sự,
2016; Wagner & cộng sự, 2014). Ví dụ,
những cá nhân có tính cởi mở cao thường có
hướng thích trải nghiệm với môi trường mới,
và thích tương tác với các đối tác mới, điều
này góp phần làm gia tăng các mối quan hệ
trong mạng lưới xã hội của họ (Wagner &
cộng sự, 2014). Dựa vào đây, chúng tôi kỳ
vọng rằng:
Tính dễ chịu được miêu tả bởi các khía
cạnh như tính khoan dung, tính hòa nhã, tính
mềm mỏng và tính nhẫn nại (Ashton & Lee,
2009). Theo nhóm nghiên cứu Graziano &
cộng sự (1996) cho biết những người có tính
dễ chịu thường có sự tương tác xã hội mang
tính nhẹ nhàng, lịch sự, và có sự khoan dung
trong đó. Điều này giúp ích cho họ tránh khỏi
những mâu thuẫn không cần thiết trong các
mối quan hệ, và làm tăng số lượng các mối
quan hệ xã hội trong mạng lưới của mình
(Ozer & Benet-Martínez, 2006). Kết quả là
những người có tính cách dễ chịu lớn có xu
hướng có số lượng các mối quan hệ nhiều
hơn so với những người có tính cách dễ chịu
thấp hơn. Do vậy, chúng tôi giả thuyết:
Giả thuyết H6: Tính cách cởi mở có tác
động tích cực đến mạng lưới xã hội của
những người tìm kiếm việc làm.
Giả thuyết H4: Tính cách dễ chịu có tác
động tích cực đến mạng lưới xã hội của
những người tìm kiếm việc làm.
2.5. Mạng lưới xã hội và hành vi Liên hệ
với các mối quan hệ xã hội (Networking)
trong quá trình tìm kiếm việc làm
Tính tận tâm được miêu tả là những người
thận trọng, có tổ chức (Lee & Ashton, 2004).
Một số nghiên cứu thừa nhận rằng những
Dựa theo lý thuyết mạng xã hội (social
network theory), cho biết rằng cấu trúc và
89
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
thành phần mạng xã hội là hai nhân tố tác
kiếm việc làm như đã phân tích ở trên.
Chúng tôi giả định rằng những cá nhân có
tính cách đa cảm và tính cách tận tâm có xu
hướng sở hữu mạng lưới xã hội nhỏ hơn, và
mạng lưới này ảnh hưởng trực tiếp làm giảm
đi cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã
hội (Networking) trong quá trình tìm kiếm
việc làm. Ngược lại, đối với những người tìm
kiếm việc làm mà có tính cách trung thực -
khiêm tốn, hướng ngoại, tận tâm và cởi mở
có nhiều đặc điểm thuận lợi cho việc xây
dựng và mở rộng các mối quan hệ xã hội,
điều này giúp họ sở hữu mạng lưới xã hội lớn
hơn, và làm gia tăng cường độ Liên hệ với
các mối quan hệ xã hội (Networking) trong
quá trình tìm kiếm việc làm. Do vậy, mạng
lưới xã hội có vai trò trung gian trong mối
quan hệ giữa các loại tính cách cá nhân và
cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) trong quá trình tìm kiếm việc
làm.
động đến cường độ và chất lượng Liên hệ với
các mối quan hệ xã hội (Networking) (Adler
& Kwon, 2002). Theo Seibert và cộng sự
(2001), phạm vi các mối quan hệ xã hội là số
lượng người mà các cá nhân có thể liên lạc
và trao đổi thông tin trong mạng lưới xã hội
của mình. Mục đích của nghiên cứu này là
giải thích sự tác động của các loại tính cách
cá nhân đến hành vi Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking) thông qua một
biến trung gian, mạng lưới các mối quan hệ
xã hội hay cấu trúc mạng xã hội.
Bằng trực quan, có thể dễ dàng nhận thấy
rằng một người có mạng lưới mối quan hệ xã
hội lớn hơn thường sẽ có nhiều người để liên
hệ và trao đổi thông tin hơn so với một người
có phạm vi mối quan hệ xã hội nhỏ hơn; kết
quả là họ có nhiều hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) hơn.
Nghiên cứu của Van Hoye và cộng sự (2009)
đã chứng minh điều đó và chỉ ra rằng những
người tìm kiếm việc làm có mạng lưới xã hội
lớn hơn, họ dành nhiều thời gian cho việc
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) trong quá trình tìm kiếm việc
làm hơn bởi vì họ có nhiều mối quan hệ xã
hội hơn. Do vậy, với những bằng chứng của
các nghiên cứu trước đây, chúng tôi đặt ra
giả thuyết rằng:
Giả thuyết H8: Mạng lưới xã hội có tác
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính
cách trung thực - khiêm tốn và cường độ
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) của người tìm kiếm việc làm.
Giả thuyết H9: Mạng lưới xã hội có tác
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính
cách đa cảm và cường độ Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) của người
tìm kiếm việc làm.
Giả thuyết H7: Mạng lưới xã hội có ảnh
hưởng tích cực đến hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) trong quá
trình tìm kiếm việc làm của sinh viên.
Giả thuyết H10: Mạng lưới xã hội có tác
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính
cách hướng ngoại và cường độ Liên hệ với
các mối quan hệ xã hội (Networking) của
người tìm kiếm việc làm.
2.6. Tính cách cá nhân và hành vi Liên hệ
với các mối quan hệ xã hội (Networking)
trong quá trình tìm kiếm việc làm: Vai trò
trung gian của mạng lưới xã hội.
Giả thuyết H11: Mạng lưới xã hội có tác
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính
cách dễ chịu và cường độ Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) của người
tìm kiếm việc làm.
Dựa vào mối quan hệ giữa các loại tính
cách cá nhân HEXACO và mạng lưới xã hội,
và dựa vào mối quan hệ tích cực giữa mạng
lưới xã hội và hành vi Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking) của người tìm
Giả thuyết H12: Mạng lưới xã hội có tác
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính
90
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
cách tận tâm và cường độ Liên hệ với các
quan hệ xã hội (Networking) của người tìm
mối quan hệ xã hội (Networking) của người
tìm kiếm việc làm.
kiếm việc làm.
Dựa vào các mối quan hệ giữa các biến,
chúng tôi xây dựng mô hình nghiên cứu để
khái quát lại sự tác động của các biến với
nhau.
Giả thuyết H13: Mạng lưới xã hội có tác
động trung gian trong mối quan hệ giữa tính
cách cởi mở và cường độ Liên hệ với các mối
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
Quá trình thu thập dữ liệu trải qua hai giai
đoạn. Giai đoạn 1, tác giả tiến hành thu thập
dữ liệu tại thời điểm trước khi sinh viên tốt
nghiệp khoảng 1 tháng. Trong giai đoạn 1,
tác giả tiến hành phát bảng câu hỏi để khảo
sát về tính cách cá nhân. Trong bảng câu hỏi
lần này, có tất cả 60 câu hỏi cho sáu loại tính
cách cá nhân. Tại thời điểm này, có 982
phiếu điều tra được phân phát cho đối tượng
khảo sát theo email. Trong mỗi một email có
đính kèm đường link dẫn tới bản khảo sát
online. Kết quả có 850 email phản hồi.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng và quy trình khảo sát
Các đối tượng khảo sát là sinh viên của ba
trường đại học ở thành phố Hải Phòng, Hà
Nội. Các sinh viên thuộc các chuyên ngành
khác nhau như kế toán, quản trị kinh doanh,
tài chính kế toán, kỹ thuật và các ngành khác.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chọn
phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Trước khi
tiến hành khảo sát, tác giả đã có cuộc trao đổi
với sinh viên và ban quản lý sinh viên để giải
thích về mục đích và ý nghĩa của cuộc khảo
sát, và sau đó tác giả tiến hành lấy danh sách
email của sinh viên tại ba trường đại học để
phục vụ cho việc khảo sát online.
Giai đoạn 2, tác giả gửi thông báo tới các
đối tượng khảo sát về bản khảo sát lần thứ 2.
Trong giai đoạn 2, tác giả gửi bảng câu hỏi
để khảo sát về mạng lưới xã hội và hành vi
91
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
điểm Likert, bắt đầu từ 1 = rất không đồng ý
(Networking) trong quá trình tìm kiếm việc
làm của sinh viên, sau khi họ tốt nghiệp. Kết
quả có 773 sinh viên trả lời các câu hỏi trong
bản khảo sát. Tỷ lệ phản hồi đạt 91%. Trong
đó, có 418 nam, và 355 nữ. Tuổi trung bình
của đối tượng là 23,22 tuổi, với độ lệch
chuẩn (SD) là 0,523. Trong đó có 3,6% là đã
kết hôn. Ngoài ra, tỷ lệ người học kĩ thuật là
28%, kế toán là 26%, quản trị kinh doanh là
23%, tài chính là 18%, các ngành khác là
5%.
cho tới 5 = rất đồng ý.
3.2.2. Mạng lưới xã hội
Thang đo này được đo lường bởi thang đo
4 biến của Van Hoye và cộng sự phát triển
năm 2009. Đối tượng khảo sát đánh giá các
nhận định theo theo thang đo 5 điểm Likert.
Ví dụ như đối tượng đánh giá về một biến
“Tôi biết rất nhiều người có thể giúp tôi tìm
kiếm được việc làm”.
3.2.3. Hành vi Liên hệ với các mối quan hệ
xã hội (Networking)
Bảng 1:
Biến Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) được đánh giá dựa trên 9 biến
được thiết kế bởi nhóm nghiên cứu Wanberg
và cộng sự năm 2000. Nhóm nghiên cứu này
đã đánh giá cường độ Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking) của một người
tìm kiếm việc làm trên 9 khía cạnh khác
nhau. Ví dụ như “Bạn có thường xuyên liên
hệ với người khác để tìm kiếm việc làm hay
không”, câu trả lời được đánh giá trên thang
đo 5 điểm Likert. Ví dụ như “tôi thường liên
hệ với những người mà tôi biết để hỏi về
những lời khuyên hay chỉ bảo đối với việc
tìm kiếm của mình”.
Tổng hợp thông tin về mẫu khảo sát.
Số
lượng
Phần
trăm
Biến
Phân loại
Nam
Giới
tính
418
355
28
54,1
45,9
3,6
Nữ
Hôn
nhân
Đã kết hôn
Chưa kết hôn
745
13
96,4
1,7
Độ tuổi 20-21
22-23
605
128
27
78,3
16,5
3,5
24-25
Over 25
Nghề
nghiệp
Tài chính
140
18,1
3.2.4. Biến kiểm soát
Quản trị kinh
doanh
Theo các nghiên cứu trước đây (Lin & Le,
2019; Thomas & cộng sự, 2010; Wanberg &
cộng sự, 2000), các biến sau đây sẽ được đưa
vào để kiểm soát như giới tính, độ tuổi, nghề
nghiệp. Ví dụ, theo như nghiên cứu của
Wanberg và cộng sự, nghề nghiệp có ảnh
hưởng đến cường độ Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking). Những ngành
nghề liên quan đến kỹ thuật, công nghệ thông
tin thường ít phổ biến với mọi người, và việc
liên hệ với bạn bè, người quen để tìm kiếm
việc làm liên quan đến những ngành này
cũng hạn chế hơn so với các ngành liên quan
đến kinh tế như kế toán hay bán hàng…Tuy
nhiên, trong nghiên cứu này, các biến giới
180
23,3
Kế toán
199
218
36
25,7
28,2
4,6
Kỹ thuật
Ngành khác
3.2. Đo lường
3.2.1. Tính cách HEXACO
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô
hình HEXACO được phát triển bởi nhóm tác
giả Ashton và cộng sự (2004). Thang đo có
60 biến quan sát. Mỗi một tính cách được đo
lường bởi 10 biến. Các đối tượng tham gia
khảo sát sẽ trả lời các câu hỏi theo thang đo 5
92
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
tính, độ tuổi, nghề nghiệp không có tác động
sẽ được áp dụng phương pháp bootstrapping
cũng như không làm sai lệch đến mối quan
hệ chính giữa biến tính cách, mạng lưới xã
hội và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ
xã hội (Networking). Kết quả phân tích dữ
liệu phản ánh mối quan hệ tương quan giữa
các biến trong mô hình nghiên cứu.
để kiểm tra.
4. Kết quả
4.1. Dữ liệu miêu tả
Kết quả từ bảng 2 chỉ ra rằng, giá trị trung
bình của các biến dao động từ 3,27 đến 3,98
với độ lệch chuẩn từ 0,47 cho đến 0,86. Kết
quả chạy từ phần mềm SPSS 22.0 cho kết
quả hệ số tin cậy Cronbach alpha của các
thang đo đều từ 0,87 trở lên (mức độ tin cậy
cao).
3.3. Chiến lược phân tích dữ liệu
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử
dụng hai phần mềm SPSS 22.0 và AMOS
22.0 để phân tích dữ liệu để đạt kết quả
nghiên cứu. Đầu tiên, chúng tôi sử dụng
SPSS 22.0 để tính giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, và độ tin cậy của các thang đo là hệ số
Cronbach alpha. Sau đó, chúng tôi sử dụng
AMOS 22.0 cho phân tích nhân tố khẳng
định (CFA) để kiểm tra hai giá trị là giá trị
hội tụ và giá trị phân biệt của các biến đo
lường thông qua việc chạy một số mô hình
các nhân tố khẳng định. Cuối cùng, chúng tôi
sử dụng AMOS 22.0 để kiểm tra mô hình
phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm tra các
giả thuyết nghiên cứu. Trong đó, có giả
thuyết về biến trung gian là mạng lưới xã hội,
Bảng 2:
Bảng 2 chỉ ra rằng các biến tính cách trung
thực - khiêm tốn (r = .016, p < 0.05), hướng
ngoại (r = .212, p < 0.01), dễ chịu (r = .226,
p < 0.01), tận tâm (r = .079, p < 0.01), và cởi
mở (r = .127, p < 0.01) có sự tương quan
tích cực với biến mạng lưới xã hội. Trong
khi đó biến tính cách đa cảm có mối tương
quan nghịch đối với biến mạng lưới xã hội
(r = -.191, p < 0.01). Bên cạnh đó, biến mạng
lưới xã hội tương quan với biến hành vi Liên
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)
(r = .407, p < 0.01).
Ma trận tương quan giữa các biến
M
SD/α
AVE/C.R
1
2
3
4
5
6
7
1 Trung thực - Khiêm tốn
2 Đa cảm
3,31
3,27
3,85
3,96
3,92
3,62
3,34
0,86/0,91
0,84/0,89
0,55/0,91
0,54/0,90
0,47/0,89
0,86/0,89
0,59/0,87
.53/.91
1
.51/.89 -,248**
1
3 Hướng ngoại
4 Dễ chịu
.52/.91
.80/.90
.52/.90
.53/.89
.64/.87
,029 -,016
1
,038 -,134** ,170**
,011 -,169** ,048
1
5 Tận tâm
,066
1
6 Cởi mở
-,043 -,187** ,059 ,092* ,019
1
7 Mạng lưới xã hội
,016* -,191** ,212** ,226** ,079* ,127**
1
Hành vi Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking)
8
3,98
0,52/0,93
.65/.93 ,259** -,516** ,434** ,279** ,190** ,257** ,407**
Ghi chú: N = 773, ** p < 0,01, *p < 0,05, M = giá trị trung bình, SD = Độ lệch chuẩn, α = Hệ số
Cronbach's Alpha, AVE = Phương sai trích, C.R = Độ tin cậy
hình giả thuyết có phải là mô hình thích hợp
4.2. Giá trị và độ tin cậy của thang đo
nhất hay không. Kết quả của bảng 3 cho biết
Tác giả thực hiện một số phân tích nhân
các chỉ số phản ánh mức độ phù hợp của mô
tố khẳng định thay thế để kiểm tra liệu mô
hình giả thuyết và 6 mô hình thay thế. So
93
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
sánh các chỉ số giữa các mô hình ta thấy rằng
0,970, TLI = 0,968. Kết luận, mô hình 8 nhân
tố đề xuất là mô hình thích hợp nhất đại điện
cho các biến quan sát.
mô hình giả thuyết có các chỉ số tốt hơn so
với các mô hình thay thế, χ² = 2823,344, df =
1950, χ²/df = 1,448, RMSEA = 0,024, CFI =
Bảng 3:
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA) của các mô hình thay thế.
Các
mô
Các nhân tố
χ²
df
χ²/df RMSEA
∆ χ²
CFI
TLI
hình
Mô
8 nhân tố: HH, EM, EX,
2823,344 1950 1,448
5350,019 1958 2,732
0,024
0,047
-
0,970 0,968
hình 1 AG, CO, OP, NS, NB
Mô 7 nhân tố: HH + EM, EX,
hình 2 AG, CO, OP, NS, NB
2526,7 0,884 0,876
2294,2 0,805 0,794
6 nhân tố: HH + EM +
EX, AG, CO, OP, NS, 7644,184 1965 3,890
NB
Mô
hình 3
0,061
0,072
0,082
0,090
0,095
0,098
5 nhân tố: HH + EM +
EX + AG, CO, OP, NS, 9879,858 1971 5,013
NB
Mô
hình 4
2235,7 0,729 0,714
2269,3 0,651 0,633
2195,3 0,576 0,554
1381,8 0,529 0,505
1073,1 0,492 0,467
4 nhân tố: HH + EM +
EX + AG + CO, OP, NS, 12149,180 1976 6,148
NB
Mô
hình 5
3 nhân tố: HH + EM +
EX + AG + CO + OP, 14344,524 1980 7,245
NS, NB
Mô
hình 6
2 nhân tố: HH + EM +
EX + AG + CO + OP + 15726,311 1983 7,931
NS, NB
Mô
hình 7
1 nhân tố: HH + EM +
EX + AG + CO + OP + 16799,460 1985 8,463
NS + NB
Mô
hình 8
Ghi chú: N = 773, HH: Trung thực - Khiêm tốn; EM: Đa cảm; EX: Hướng ngoại; AG: Dễ chịu, CO: Tận
tâm, OP: Cởi mở; NS: Mạng lưới xã hội; NB: Hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking).
Δχ2 : là sự khác biệt giữa mô hình 8 nhân tố và các mô hình khác
các mối quan hệ xã hội (Networking) trong
4.3. Kiểm định các giả thuyết
quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên.
Kết quả phân tích dữ liệu chỉ ra rằng mô hình
4.3.1. Kiểm định các tác động trực tiếp
Phân tích đường của mô hình phương
trình cấu trúc được sử dụng để kiểm tra mức
độ tương quan giữa các loại tính cách với
mạng lưới xã hội, và mức độ tương quan
giữa mạng lưới xã hội và hành vi Liên hệ với
phù hợp với dữ liệu rất tốt: χ² = 2823,344,
df = 1950; χ²/df = 1,448, RMSEA = 0,024,
CFI = 0,970, TLI = 0,971, GFI = .942,
AGFI = .932, các hệ số > 0,900. Để tăng các
chỉ số của mô hình, tác giả đã sử dụng các
94
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
hiệp phương sai giữa các biến quan sát, tuy
lưới xã hội của sinh viên, với lần lượt là (r =
0,182, p < 0.001), (r = 0,156, p < 0.001). Do
vậy giả thuyết H3 và H4 cũng được chấp
nhận. Ngược lại, các giả thuyết về sự tác
động của tính cách trung thực - khiêm tốn,
tận tâm và cởi mở lên mạng lưới xã hội bị
bác bỏ (do p > 0,05). Cuối cùng, mạng lưới
xã hội có tác động tích cực đến cường độ
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) (r = 0,206, p < 0.001), do vậy
giả thuyết H7 cũng được chấp nhận
nhiên điều này không tác động độ tin cậy của
dữ liệu. Các chỉ số của mô hình phản ánh đạt
mức mong muốn (Hu & Bentler, 1999) (xem
Hình 2).
Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên
cứu được tổng hợp tại Bảng 4. Theo đó, tính
cách đa cảm có tác động lớn nhất đến mạng
lưới xã hội, tuy nhiên tác động ngược chiều
(r = -0,188, p < 0.001), do vậy giả thuyết H2
được chấp nhận. Hai tính cách hướng ngoại
và dễ chịu có tác động làm gia tăng mạng
Bảng 4:
Kết quả kiểm định các tác động trực tiếp
Giả
thuyết
Estimate
S.E.
C.R.
P
Kết luận
Mạng lưới <---
Mạng lưới <---
Trung thực
Đa cảm
-0,034
-0,188
0,182
0,156
0,008
0,057
0,206
0,028
0,032
0,041
0,042
0,052
0,028
0,025
-,869
-4,406
4,707
4,082
0,201
1,448
6,963
0,385
***
H1
Bác bỏ
Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận
Bác bỏ
H2
H3
H4
H5
H6
H7
Mạng lưới <--- Hướng ngoại
***
Mạng lưới <---
Mạng lưới <---
Mạng lưới <---
Networking <---
Dễ chịu
Tận tâm
Cởi mở
***
0,841
0,148
***
Bác bỏ
Mạng lưới
Chấp nhận
dụng 5.000 bootstraps để kiểm tra, và kết quả
đã được tổng hợp tại Bảng 4. Theo đó, chỉ có
3 loại tính cách là đa cảm, hướng ngoại và dễ
chịu là có sự tác động lên hành vi Liên hệ với
các mối quan hệ xã hội (Networking) thông
qua biến trung gian là mạng lưới xã hội. Do
vậy các giả thuyết H9,10 và 11 là được chấp
nhận (p < 0,05). Ngược lại, các giả thuyết về
tính cách trung thực - khiêm tốn, tận tâm và
cởi mở tác động lên hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) thông qua
mạng lưới xã hội đều bị bác bỏ, hay không
có ý nghĩa về mặt thống kê (do p > 0,05)
4.3.2. Kiểm định các tác động gián tiếp
Ở mô hình trung gian, giả thuyết rằng
mạng lưới xã hội có vai trò trung gian trong
mối quan hệ giữa các loại tính cách cá nhân
và cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã
hội (Networking). Để kiểm định được điều
đó, tác giả đã sử dụng phương pháp
bootstrapping để kiểm tra. Các học giả trước
đây đều khẳng định rằng bootstrapping là
một phương pháp rất phổ biến để kiểm tra sự
tác động trung gian (Bollen & Stine, 1990;
Shrout & Bolger, 2002). Ở đây, tác giả đã sử
95
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Bảng 5:
Kết quả của tổng tác động, tác động trực tiếp và tác động gián tiếp.
95% BCa (5.000 bootstraps)
Tổng tác
động
Tác động
trực tiếp
Tác động gián tiếp qua
mạng lưới xã hội
Hướng
p
Trung thực - hành vi Networking
Đa cảm - hành vi Networking
Hướng ngoại - hành vi Networking
Dễ chịu - hành vi Networking
Tận tâm - hành vi Networking
Cởi mở - hành vi Networking
0,124
-0,440
0,427
0,125
0,085
0,150
0,131
-0,401
0,390
0,093
0,084
0,138
-0,007
-0,039
0,038
0,032
0,002
0,012
0,371
0,000
0,000
0,001
0,812
0,096
Hình 2: Hệ số tiêu chuẩn hóa của các đường trong mô hình giả thuyết
trình tìm kiếm việc làm của sinh viên. Kết
quả của nghiên cứu đã đem lại những hiểu
biết sâu sắc về vai trò của các loại tính cách
đến việc phát triển các mối quan hệ xã hội
cho mục tiêu tìm kiếm việc làm thông qua
việc phát triển mạng lưới xã hội.
5. Kết luận
Mục đích của nghiên cứu này là khám phá
ra vai trò trung gian của biến mạng lưới xã
hội trong mối quan hệ giữa các loại tính cách
HEXACO và biến hành vi Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) trong quá
96
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
Nhiều đóng góp về mặt khoa học của
cường độ Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) cho tìm kiếm thông tin việc
làm. Tính cách thứ 2 là tính cách hướng
ngoại. Tính cách này có tác động tích cực
đến phạm vi mạng lưới xã hội. Những người
có tính hướng ngoại càng cao thì càng sở hữu
mạng lưới xã hội lớn hơn. Khi có được mạng
lưới xã hội càng lớn, tức là người này sẽ có
một số lượng lớn các đầu mối cung cấp thông
tin việc làm, làm gia tăng thông tin tuyển
dụng cũng như cơ hội việc làm cho họ. Tính
cách thứ 3 có mối quan hệ với hành vi Liên
hệ với các mối quan hệ xã hội (Networking)
thông qua việc phát triển mạng lưới xã hội,
đó là tính cách dễ chịu. Với tính cách hòa
đồng, mềm dẻo với các mối quan hệ xung
quanh, những cá nhân này nhận được thiện
cảm, quý mền và tăng cơ hội kết bạn hay số
lượng bạn bè. Kết quả là tính cách này có
được mạng lưới xã hội lớn hơn, ảnh hưởng
tích cực đến việc Liên hệ với các mối quan
hệ xã hội (Networking) cho tìm kiếm việc
làm.
nghiên cứu này có thể kể ra. Thứ nhất,
nghiên cứu này đã kiểm tra mối quan hệ giữa
các loại tính cách cá nhân và mạng lưới xã
hội. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra tính
cách đa cảm có tác động làm giảm kích
thước mạng lưới xã hội, trong khi đó tính
cách hướng ngoại và dễ chịu có tác động tích
cực làm gia tăng phạm vi mạng lưới xã hội
của sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc
làm. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết
quả đã tìm thấy trong nghiên cứu của các tác
giả trước đây (Mai, Le, Phung, & Nguyen,
2020; Le, 2021). Đóng góp quan trọng thứ
hai của nghiên cứu này cũng chỉ mối quan hệ
tích cực giữa kích cỡ mạng lưới xã hội và
hành vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) để tìm kiếm thông tin việc làm.
Theo đó, sinh viên có mạng lưới xã hội càng
lớn thì họ có cường độ Liên hệ với các mối
quan hệ xã hội (Networking) càng nhiều,
giống như kết quả tìm được của Wanberg và
cộng sự (2000).
Cuối cùng, phát hiện quan trọng nhất của
nghiên cứu này là tìm ra vai trò trung gian
của mạng lưới xã hội trong mối quan hệ giữa
các tính cách HEXACO và hành vi Liên hệ
với các mối quan hệ xã hội (Networking)
trong quá trình tìm kiếm việc làm của sinh
viên. Phát hiện này bổ sung vào nghiên cứu
của Lin & Le (2019), Le (2021). Theo đó, có
3 loại tính cách cá nhân có ảnh hưởng lên
phạm vi các mối quan hệ xã hội của các cá
nhân tìm kiếm việc làm, từ đó mạng lưới xã
hội tác động đến cường độ Liên hệ với các
mối quan hệ xã hội (Networking) để tìm
kiếm việc làm của sinh viên. Thứ nhất đó là
tính cách đa cảm. Những sinh viên có tính
cách đa cảm có phạm vi các mối quan hệ xã
hội hẹp. Do tính cách này thường bộc lộ tâm
lý thất thường, có những mâu thuẫn, xung
đột đối với người xung quanh. Kết quả là
những cá nhân có tính cách này, có rất ít mối
quan hệ xã hội và ảnh hưởng xấu, làm giảm
Tuy nhiên, nghiên cứu đã chưa tìm được
sự tác động của ba tính cách (trung thực -
khiêm tốn, tận tâm và cởi mở) đến biến mạng
lưới xã hội (giả thuyết 1, 5, và 6 bị bác bỏ do
p > 0,05), và cũng chưa khám phá vai trò
trung gian của biến mạng lưới xã hội trong
mối quan hệ giữa ba tính cách này và hành vi
Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking) (giả thuyết 8, 12 và 13 bị bác
bỏ). Điều này có thể được giải thích như sau
sinh viên có tính cách trung thực - khiêm tốn
là những người ưa thích sự công bằng, bình
đẳng trong các vấn đề. Họ có xu hướng tránh
sử dụng các mối quan hệ cá nhân để có được
nhiều cơ hội việc làm hơn người khác. Trong
khi đó, những người có tính cách tận tâm
không thiên hướng về việc chú trọng mở
rộng các mối quan hệ xã hội, và có thể điều
này có ảnh hưởng đến hành vi Liên hệ với
các mối quan hệ xã hội trong quá trình tìm
kiếm việc làm. Đối với sinh viên có tính cởi
97
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
mở, họ có thể sẵn sàng với những trải
điểm mạnh và hạn chế của từng loại tính
cách cá nhân trong chương trình học.
nghiệm mới, nhưng không đồng nghĩa rằng
họ có nhiều bạn bè, các mối quan hệ hơn.
Chính vì vậy mà những sinh viên có tính
cách này có thể chưa có mạng lưới xã hội lớn
hơn và hành vi Liên hệ với các mối quan hệ
xã hội (Networking) mạnh hơn.
Nghiên cứu này cũng đưa ra một số đề
xuất cho người làm công tác đào tạo hay
quản lý giáo dục. Tính cách cá nhân ảnh
hưởng rất lớn tới hành động cũng như kết
quả của các cá nhân. Nghiên cứu cũng đề
xuất các gia đình cũng nên hỗ trợ Nhà trường
trong việc quan sát và giúp đỡ học sinh sinh
viên nhận biết trong việc giảm đi những tác
động xấu cũng như phát huy điểm mạnh của
từng loại tính cách trong học tập và sau khi
ra trường.
Nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn trong
thực tiễn, đối với những người làm công tác
đào tạo hay tư vấn cho sinh viên. Dựa vào
những kết quả đạt được, có thể thấy được
tầm quan trọng của các loại tính cách cá nhân
đối với việc xây dựng các mối quan hệ, và sử
dụng các mối quan hệ đó vào quá trình tìm
kiếm việc làm. Các nhà đào tạo hay tư vấn có
thể giải thích cho sinh viên biết được những
đặc điểm của một số loại tính cách như tính
hướng ngoại hay tính dễ chịu trong các mối
quan hệ xã hội. Hay có thể chỉ ra những hạn
chế của tính cách đa cảm, và từ đó tìm ra
biện pháp hay phương hướng để khắc phục,
giảm thiểu sự tác động của loại tính cách này
đến quá trình xây dựng các mối quan hệ cũng
như quá trình tìm kiếm việc làm. Chính vì
vậy, các nhà làm công tác đào tạo nên bổ
sung những khóa học về giảng dạy, tư vấn
cho học sinh sinh viên nắm bắt được những
Nghiên cứu này cũng chỉ ra các hướng
nghiên cứu tương lai cho các học giả khác.
Các học giả có thể nghiên cứu các tính cách
này có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tìm kiếm
việc làm như cơ hội tuyển dụng, mức lương,
hay sự thỏa mãn trong công việc. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu sự tác
động của tính cách cá nhân của sinh viên đối
với việc phát triển mạng lưới xã hội và hành
vi Liên hệ với các mối quan hệ xã hội
(Networking). Nghiên cứu trong tương lai có
thể nghiên cứu mối quan hệ này cho đối
tượng khác như người đang làm việc nhưng
muốn tìm công việc mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Adler, P. S., & Kwon, S. W. (2002). Social capital: Prospects for a new concept. Academy of
Management Review, 27, 17-40. doi:10.5465/amr.2002.5922314
Ashton, M. C., & Lee, K. (2007). Empirical, theoretical, and practical advantages of the
HEXACO model of personality structure. Personality and Social Psychology Review, 11,
150-166. doi:10.1177/1088868306294907
Ashton, M. C., & Lee, K. (2009). The HEXACO-60: A short measure of the major dimensions
of
personality.
journal
of
Personality
Assessment,
91(4),
340-345.
doi:10.1080/00223890902935878
Ashton, M. C., Lee, K., & Visser, B. A. (2019). Where's the H? Relations between BFI-2 and
HEXACO-60 scales. Personality and Individual Differences, 137, 71-75.
doi:10.1016/j.paid.2018.08.013
Ashton, M. C., Lee, K., Perugini, M., Szarota, P., Vries, R. E., Blas, D. L., Raad, B. D. (2004).
98
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
A six-factor structure of personality-descriptive adjectives: solutions from psycholexical
studies in seven languages. Journal of Personality and Social Psychology, 86(2), 356-366.
doi:10.1037/0022-3514.86.2.356
Barrick, M. R., & Mount, M. K. (1991). The big five personality dimensions and job
performance: A meta-analysis. Personnel Psychology, 44(1), 1-26. doi:10.1111/j.1744-
6570.1991.tb00688.x
Bollen, K. A., & Stine, R. (1990). Direct and indirect effects: Classical and bootstrap estimates
of variability. Sociological Methodology, 20, 115-140. doi:10.2307/271084
Breevaart, K., & De Vries, R. E. (2019). Followers’ HEXACO personality traits and preference
for charismatic, relationship-oriented, and task-oriented leadership. Journal of Business
and Psychology. doi:10.1007/s10869-019-09671-6
Brown, D. W., & Konrad, A. M. (2001). Granovetter was right: The importance of weak ties to
a contemporary job search. Group & Organization Management, 26, 434-462.
doi:10.1177/1059601101264003
Cannata, M. (2011). The Role of Social Networks in the Teacher Job Search Process. The
Elementary School Journal, 111(3), 477-500. doi:10.1086/657656
Conger, J. A. (1999). Charismatic and transformational leadership in organizations: An
insider’s perspective on these developing streams of research. The Leadership Quarterly,
10(2), 145-179. doi:10.1016/S1048-9843(99)00012-0
Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1992). Normal personality assessment in clinical practice: The
NEO Personality Inventory. Psychological Assessment, 4(1), 5-13. doi:10.1037/1040-
3590.4.1.5
De Vries, R. E. (2008). What are we measuring? Convergence of leadership with interpersonal
and
non-interpersonal
personality.
Leadership,
4(4),
403-417.
doi:10.1177/1742715008095188
Demir, M., & Weitekamp, L. A. (2007). I am so happy cause today I found my friend:
Friendship and personality as predictors of happiness. Journal of Happiness Studies, 8(2),
181-211. doi:10.1007/s10902-006-9012-7
Fishman, I., Ng, R., & Bellugi, U. (2011). Do extraverts process social stimuli differently from
introverts? Cognitive neuroscience, 2(2), 67-73. doi:10.1080/17588928.2010.527434
Forret, M. L. (2014). Networking as a job-search behavior and career management strategy. In
U.-C. Klehe , & E. Van Hooft, The Oxford Handbook of Job Loss and Job Search (pp.
275-291). Oxford University Press. doi:10.1093/oxfordhb/9780199764921.013.022
Forret, M. L., & Dougherty, T. W. (2001). Correlates of networking behavior for managerial
and professional employees. Group & Organization Management, 26, 283-311.
doi:10.1177/1059601101263004
Franzen, A., & Hangartner, D. (2006). Social networks and labour market outcomes: The non-
monetary benefits of social capital. European Sociological Review, 22(4), 353-368.
doi:10.1093/esr/jcl001
Fullarton, C., Fuller-Tyszkiewicz, M., & Treuer, K. V. (2013). The mediating role of work
climate perceptions in the relationship between personality and performance. 23(4), 525-
536. doi:10.1080/1359432X.2013.764601
99
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Granovetter, M. S. (1973). The strength of weak ties. American Journal of Sociology, 78,
1360-1380.
Graziano, W. G., Jensen-Campbell, L. A., & Hair, E. C. (1996). Perceiving interpersonal
conflict and reacting to it: the case for agreeableness. Journal of Personality and Social
Psychology, 70(4), 820-835. doi:10.1037//0022-3514.70.4.820
Hagberg, M., Hagberg, B., & Saveman, B.-I. (2002). The significance of personality factors for
various dimensions of life quality among older people. Aging and Mental Health, 6(2),
178-185. doi:10.1080/13607860220126754
Hu, L., & Bentler, P. M. (1999). Cutoff criteria for fit indexes in covariance structure analysis:
Conventional criteria versus new alternatives. Structural Equation Modeling, 6(1), 1-55.
doi:10.1080/10705519909540118
Iveniuk, J. (2018). Social networks, role-relationships, and personality in older adulthood. The
Journals of Gerontology: Series B, 74(5), 815-826. doi:10.1093/geronb/gbx120
Kramer, A., Bhave, D. P., & Johnson, T. D. (2014). Personality and group performance: The
importance of personality composition and work tasks. Personality and Individual
Differences, 58, 132-137. doi:10.1016/j.paid.2013.10.019
Le, T. S. (2021). Personality traits - the difference in terms of the networking intensity in the
job search process. Khoa học Kinh tế, 9(1), 80-88.
Lee, K., & Ashton, M. C. (2004). Psychometric properties of the HEXACO personality
inventory. 39(2), 329-358. doi:10.1207/s15327906mbr3902_8
Li, J., Tian, M., Fang, H., Xu, M., Li, H., & Liu, J. (2010). Extraversion predicts individual
differences in face recognition. Communicative & Integrative Biology, 3(4), 295-298.
doi:10.4161/cib.3.4.12093
Lin, S.-P., & Le, S.-T. (2019). Predictors and outcomes of Vietnamese university
graduates’networking behavior as job seekers. Social behavior and Personality, 47(10), 1-
11. doi:10.2224/sbp.8379
Mai, T. K., Le, S. T., Phung, T. M., & Nguyen, H. T. (2020). HEXACO Personality Traits and
Job Seekers' Networking Behavior: The Effect of Network Size. The Journal of Asian
Finance,
Economics
and
Business,
7(12),
545-553.
doi:10.13106/jafeb.2020.vol7.no12.545
Marin, A. (2012). Don't mention it: Why people don't share job information, when they do, and
why it matters. Social Networks, 34(2), 181-192. doi:10.1016/j.socnet.2011.11.002
Molho, C., Roberts, S. G., de Vries, R. E., & Pollet, T. V. (2016). The six dimensions of
personality (HEXACO) and their associations with network layer size and emotional
closeness to network members. Personality and Individual Differences, 99, 144-148.
doi:10.1016/j.paid.2016.04.096
Nettle, D. (2007). Personality: What makes you the way you are. Oxford University Press.
O’Connor, L. T. (2013). Ask and you shall receive: Social network contacts’ provision of help
during the job search. Social Networks, 35(4), 593-603. doi:10.1016/j.socnet.2013.07.005
Ozer, D. J., & Benet-Martínez, V. (2006). Personality and the prediction of consequential
outcomes.
Annual
Review
of
Psychology,
57,
401-421.
doi:10.1146/annurev.psych.57.102904.190127
100
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021
Rodríguez-Villalobos, M., & Rangel-González, E. (2020). Social networks and job quality in
Mexico: 2005-2019. Heliyon, 6(6), e04127. doi:10.1016/j.heliyon.2020.e04127
Seibert, S. E., Kraimer, M. L., & Liden, R. C. (2001). A social capital theory of career success.
Academy of Management Journal, 44, 219-237. doi:10.5465/3069452
Selden, M., & Goodie, A. S. (2017). Review of the effects of Five Factor Model personality
traits on network structures and perceptions of structure. Social Networks, 52, 81-99.
doi:10.1016/j.socnet.2017.05.007
Shrout, P. E., & Bolger, N. (2002). Mediation in experimental and nonexperimental studies:
New procedures and recommendations. Psychological Methods, 7(4), 422-445.
doi:10.1037/1082-989X.7.4.422
Smółka, P., & Szulawski, M. (2011). Personality traits and motivational traits as predictors of
social competence: Implication for occupational selection process. Edukacja Ekonomistów
I Menedżerów, 22(4), 111-126. doi:10.5604/01.3001.0009.5542
Sutin, A. R., Costa, P., Miech, R., & Eaton, W. W. (2009). Personality and career success:
Concurrent and longitudinal relations. European Journal of Personality, 23(2), 71-84.
doi:10.1002/per.704
Thomas, J. P., Whitman, D. S., & Viswesvaran, C. (2010). Employee proactivity in
organizations: A comparative meta-analysis of emergent proactive constructs. Journal of
Occupational
and
Organizational
Psychology,
83(2),
275-300.
doi:10.1348/096317910X502359
Totterdell, P., Holman, D., & Hukin, A. (2008). Social networkers: Measuring and examining
individual differences in propensity to connect with others. Social Networks, 30(4), 283-
296. doi:10.1016/j.socnet.2008.04.003
Van Hoye, G., van Hooft, E. A., & Lievens, F. (2009). Networking as a job search behaviour:
A social network perspective. Journal of Occupational and Organizational Psychology,
82, 661-682. doi:10.1348/096317908X360675
Wagner, J., Lüdtke, O., Roberts, B. W., & Trautwein, U. (2014). Who belongs to me? social
relationship and personality characteristics in the transition to young adulthood. European
Journal of Personality, 28(6), 586-603. doi:10.1002/per.1974
Wanberg, C. R., Kanfer, R., & Banas, J. T. (2000). Predictors and outcomes of networking
intensity among unemployed job seekers. Journal of Applied Psychology, 85, 491-503.
doi:10.1037/0021-9010.85.4.491
Wright, K. B., & Miller, C. (2010). A measure of weak-tie/strong-tie support network
preference.
Communication
Monographs,
77(4),
500-517.
doi:10.1080/03637751.2010.502538
Wrosch, C., & Scheier , M. F. (2003). Personality and quality of life: The importance of
optimism and goal adjustment. Quality of Life Research, 12, 59-72.
doi:10.1023/A:1023529606137
Zhu, X., Woo, S. E., Porter, C. M., & Brzezinski, M. (2013). Pathways to happiness: From
personality to social networks and perceived support. Social Networks, 35(3), 382-393.
doi: 10.1016/j.socnet.2013.04.005.
101
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình giải thích mối quan hệ giữa tính cách cá nhân, mạng lưới xã hội và cường độ liên hệ với các mối quan hệ xã hội (networking) của sinh viên tốt nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mo_hinh_giai_thich_moi_quan_he_giua_tinh_cach_ca_nhan_mang_l.pdf

