Đánh giá hiệu suất các thuật toán trí tuệ nhân tạo trong phân loại rác thải

Lê Minh Hó a  
ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT CÁ C THUẬT TOÁ N  
TRÍ TUỆ NH N TẠO TRONG PH N LOẠI  
RÁ C THẢI  
Lê Minh Hó a  
Khoa Cô ng nghệ thô ng tin 2,  
Học viện Cô ng nghệ Bưu chính Viễn thô ng  
1Tóm tắt: Phân loại rác thải là một bài toán lớn trong  
thị giác máy tính và hiện nay có nhiều hướng tiếp cận đưa  
ra giải pháp, trong đó hướng sử dụng trí tuệ nhân tạo đạt  
mức độ hiệu quả chính xác đáng kể. Trong bài báo này,  
các thuật toán phân loại trong học máy như cây quyết định,  
thuật toán rừng ngẫu nhiên, SVM, PCA và mô hình học  
sâu tiêu biểu VGG16 được nghiên cứu đánh giá so sánh  
hiệu quả trong việc phân loại. Nghiên cứu này đề xuất  
thêm một lớp phân loại Softmax sau VGG16 sẽ cho ra kết  
quả có độ chính xác cao hơn. Các mô hình học sâu được  
nghiên cứu ở đây sử dụng cốt lõi Mạng nơ-ron tích chập  
(CNN) là một trong những mạng tiên tiến nhất trong thị  
giác máy tính, chứng tỏ được khả năng phân loại hình ảnh  
một cách hiệu quả. Kết quả từ mô hình đề xuất đã được cải  
thiện với độ chính xác 71.1% so với sử dụng mô hình CNN  
truyền thống trong điều kiện bộ dữ liệu có số lượng mẫu  
nhỏ. Trong tương lai gần, các mô hình học sâu sẽ hỗ trợ  
máy móc việc phân loại rác tự động và không cần nhất  
thiết can thiệp của con người.  
tự học từ dữ liệu. Đến đầu những năm 90, Breiman,  
Quinlan và các cộng sự đã đề xuất các thuật toán cây quyết  
định như CART [1], ID3, C4.5 [2]… Cây quyết định phân  
loại dữ liệu thông qua một chuỗi các luật, quyết định dự  
đoán đưa ra giá trị gì dựa trên những tình trạng nào. Ở đó,  
mỗi node của cây sẽ là các thuộc tính, và các nhánh là giá  
trị lựa chọn của thuộc tính đó. Bằng cách đi theo các giá trị  
thuộc tính trên cây, cây quyết định sẽ cho biết giá trị dự  
đoán. Nhóm thuật toán cây quyết định có một điểm mạnh  
đó là có thể sử dụng cho cả bài toán Phân loại  
(Classification) và Hồi quy (Regression). Thuật toán cây  
quyết định vẫn được sử dụng rộng rãi trong một số bài toán  
hiện nay.  
Vào năm 2001, Breiman đưa ra thuật toán rừng ngẫu  
nhiên (random forest) [3]. Rừng ngẫu nhiên là một thuật  
toán học có giám sát. Như tên gọi của nó, rừng ngẫu nhiên  
sử dụng các cây quyết định để làm nền tảng. Rừng ngẫu  
nhiên là một tập hợp của các cây quyết định, mà mỗi cây  
được chọn theo một thuật toán dựa vào ngẫu nhiên.  
Trước đó, Support Vector Machines (SVM) [4] được đề  
xuất bởi Vladimir N. Vapnik và các đồng nghiệp của ông  
tại Nga và sau đó trở nên phổ biến trong những năm 90 nhờ  
ứng dụng giải quyết các bài toán phi tuyến tính. SVM sử  
dụng không gian giả thuyết các hàm tuyến tính trên không  
gian đặc trưng nhiều chiều, dựa trên lý thuyết tối ưu và lý  
thuyết thống kê. Không gian dữ liệu nhập ban đầu sẽ được  
ánh xạ vào không gian đặc trưng và trong không gian đặc  
trưng này mặt siêu phẳng phân chia tối ưu sẽ được xác định.  
Từ khóa: CNN, Decision tree, Random forest, PCA,  
phân loại rác, SVM, VGG16.  
I. GIỚI THIỆU  
Trong thế giới hiện đại ngày nay, việc xử lý khối lượng  
khổng lồ rác thải sinh hoạt hằng ngày đã trở thành một vấn  
đề cấp bách cho các quốc gia. Làm sao để giảm nhẹ tác  
động của rác thải gây ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường  
là câu hỏi thường trực. Phân loại rác thải là một trong những  
giải pháp cần kíp trước mắt. Việc tách những nguyên vật  
liệu có thể tái chế không những đem lại hiệu quả kinh tế khi  
chỉ cần tinh lọc lại nguyên liệu đầu vào thay vì phải khai  
thác từ nguồn tài nguyên tự nhiên, mà còn giảm thiểu phần  
nào sự lãng phí năng lượng trong việc khai thác. Việc phân  
loại này vẫn đòi hỏi con người tham gia. Do đó, gần đây sử  
dụng trí tuệ nhân tạo nhằm đẩy mạnh hiệu quả nhận dạng  
và phân loại tự động rác thải đô thị trở thành một trong  
nhiều chủ đề nghiên cứu sôi động về bảo vệ môi trường  
sống, ứng dụng thiết thực cho ngành công nghiệp xử lý rác.  
Khi xây dựng dữ liệu đặc trưng để phân loại, tiêu chí  
quan trọng là cần đảm bảo không để mất nhiều thông tin  
cũng như không quá tốn kém về mặt chi phí. Năm 1901,  
Karl Pearson tạo ra thuật toán Phương pháp phân tích thành  
phần chính - Principle Component Analysis (PCA) [5], với  
mục đích giải quyết vấn đề dữ liệu có quá nhiều chiều dữ  
liệu, cần giảm bớt chiều dữ liệu nhằm tăng tốc độ xử lí,  
nhưng vẫn giữ lại thông tin nhiều nhất có thể (high  
variance). Hiện nay phương pháp hàm nhân đã được dùng  
để tăng khả năng áp dụng PCA khi giải quyết các bài toán  
phi tuyến. Phương pháp này đã được Schölkopf và đồng  
nghiệp của ông [6] đưa ra với tên gọi là KPCA vào năm  
1998.  
II. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN  
A. Các thuật toán học máy  
B. Mô hình học sâu  
Học máy (machine learning) là một phần của trí tuệ  
nhân tạo trong đó các thuật toán máy tính được sử dụng để  
Học sâu là tập con của học máy trong trí tuệ nhân tạo,  
có các mạng lưới có khả năng "học" mà không bị giám sát  
Tác giả liên hệ: Lê Minh Hóa  
Email: hoasac@ptithcm.edu.vn  
Đến tòa soạn: 10/2020, chỉnh sửa: 11/2020 , chấp nhận đăng: 12/2020  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
56  
ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT CÁ C THUẬT TOÁ N TRÍ TUỆ NH N TẠO TRONG PH N LOẠI RÁ C THẢI  
từ dữ liệu không có cấu trúc hoặc không được gắn nhãn.  
Thời kỳ đầu mặc dù có nhiều mô hình thuật toán học sâu  
được đưa ra trong khoảng 1986 cho đến 2012, học sâu vẫn  
không được triển khai rộng rãi do nhiều vấn đề nảy sinh  
như là vấn đề mất mát đạo hàm, không đủ tập mẫu để huấn  
luyện hay hiệu suất tính toán của máy tính còn thấp [7].  
Cuộc thi phân loại ảnh (ILSVRC) năm 2012 đem lại đột  
phá cho học sâu khi đại diện là mạng AlexNet [8] gây bất  
ngờ khi có độ lỗi phân lớp top 5 giảm hơn 10% khi cạnh  
tranh với các đối thủ sử dụng thuật toán truyền thống xử lý  
ảnh kết hợp các công cụ trích lọc đặc trưng (SIFT, SURF,  
FAST, BRISK, AKAZE, …) và SVM để phân loại các bức  
ảnh.  
B. Mạng nơ-ron tích chập (CNN)  
Mô hình Mạng CNN [12] là một tập hợp các lớp tích  
chập chồng lên nhau và sử dụng các hàm kích hoạt phi  
tuyến như ReLU và tanh để kích hoạt các trọng số trong  
các node. Mỗi một lớp sau khi thông qua các hàm kích hoạt  
sẽ tạo ra các thông tin trừu tượng hơn cho các lớp tiếp theo.  
Mỗi một lớp được sử dụng các bộ lọc khác nhau, thông  
thường có hàng trăm hàng nghìn bộ lọc như vậy và kết hợp  
kết quả của chúng lại.  
Mạng nơ-ron tích chập - Convolutional Neural  
Networks (CNN) được AlexNet sử dụng, là một trong  
những mô hình học sâu phổ biến nhất và có ảnh hưởng  
nhiều nhất trong cộng đồng thị giác máy tính. CNN được  
sử dụng nhiều trong các bài toán nhận dạng các đối tượng  
trong ảnh. Năm 1998, Yan LeCun lần đầu huấn luyện mô  
hình CNN với thuật toán lan truyền ngược cho bài toán  
nhận dạng chữ viết tay [9].  
III. GIẢI PHÁ P PH N LOẠI  
Hình 1. Mô hình Mạng nơ-ron tích chập [12]  
A. Support Vector Machine (SVM)  
Lớp tích chập y(t) sử dụng quá trình tích chập các bộ lọc  
Support Vector Machine (SVM) được phát triển bởi  
Vapnik dựa trên lý thuyết học thống kê. Bản chất của  
phương pháp SVM là chuyển không gian dữ liệu ban đầu  
thành một không gian mới hữu hạn chiều mà ở đó cho khả  
năng phân lớp dễ dàng hơn. Điểm làm SVM hiệu quả hơn  
các phương pháp khác chính là việc SVM không còn bị giới  
hạn bởi việc phân lớp một cách tuyến tính, hay nói cách  
khác các siêu phẳng có thể được hình thành từ các hàm phi  
tuyến.  
( )  
( )  
trên toàn bộ ma trận ảnh 푢 푡 ∗ 푥 푡 , có thể biểu thị chung  
bằng công thức toán học như sau:  
( )  
( )  
( )  
( ) (  
)
푦 푡 = 푢 푡 ∗ 푥 푡 = ∫ 푢 휏 푥 푡 − 휏 푑휏  
(5)  
Khi (5) áp dụng trên ma trận ảnh, thì công thức có thể  
viết lại thành:  
[ ] ]  
푦 푘 = ∑ 푢 푗 푥 푘 − 푗  
[ ] [  
(6)  
푗
Để phân loại tốt nhất thì phải xác định siêu phẳng nằm  
ở càng xa các điểm dữ liệu của tất cả các lớp càng tốt, vì  
nói chung lề (margin) càng lớn thì sai số tổng quát hóa của  
thuật toán phân loại càng bé:  
Ở (6), x[k] có thể được viết là x[k-j], mặt khác nó có thể  
được chuyển thành x [k+j] cũng không ảnh hưởng đến kết  
quả tính toán:  
< 푤, 푥푖 > +푏 ≥ 1 푛ế푢 (푦푖 = 1)  
< 푤, 푥푖 > +푏 ≥ −1 푛ế푢 (푦푖 = −1)  
(1)  
(2)  
[ ] ]  
[ ] [  
푦 푘 = ∑ 푢 푗 푥 푘 + 푗  
(7)  
푗
Trong quá trình tính chập của mạng nơ-ron, w đóng vai  
trò là một bộ lọc trong lớp tích chập, x là đầu vào của lớp  
này và f(.) là hàm kích hoạt. Sải bước (ξ) là khoảng cách  
giữa 2 kernel khi quét. Với sải bước bằng 1, kernel sẽ quét  
2 ô ngay cạnh nhau, nhưng với sải bước bằng 2, kernel sẽ  
quét ô số 1 và ô số 3, bỏ qua ô ở giữa. Khi đó (7) được thay  
thế bằng công thức:  
Mô hình được tổng quát lên không gian nhiều chiều.  
Khoảng cách từ một điểm (vector) bất kỳ có tọa  
độ xi tới siêu mặt phẳng có phương trình wTx+b=0 được  
xác định bởi:  
|
|
< 푤, 푥푖 > +푏  
(3)  
푑(푤, 푏; 푥푖) =  
‖ ‖  
푤
[ ]  
(
)
[ ]  
[
]
푦푛 푘 = 푓 푤 ∗ 푥푛 = 푓(∑ 푤 푗 푥푛 ξ푘 + 푗 )  
(8)  
Bài toán tối ưu trong SVM chính là bài toán  
푗
tìm w và b sao cho margin này đạt giá trị lớn nhất:  
Ngoài ra có một số lớp khác để giảm kích thước tính  
toán bằng cách sử dụng lấy mẫu gộp dùng để chắt lọc lại  
các thông tin hữu ích hơn (loại bỏ các thông tin nhiễu).  
Trong quá trình huấn luyện mạng CNN tự động học các  
giá trị qua các lớp tích chập. Ví dụ trong tác vụ phân lớp  
ảnh, CNN sẽ cố gắng tìm ra thông số tối ưu cho các bộ lọc  
tương ứng theo thứ tự: điểm ảnh thô > cạnh > hình dạng >  
khuôn mặt > đặc trưng mức độ cao. Lớp cuối cùng được  
dùng để phân lớp hình ảnh.  
(
)
(
)
푚푖푛푥 ;푦 =1 푑 푤, 푏; 푥푖 + 푚푖푛푥 ;푦 =−1 푑 푤, 푏; 푥푖  
(4)  
푖
푖
푖
푖
Việc giải trực tiếp bài toán này sẽ rất phức tạp, nhưng  
trên lý thuyết có cách để đưa nó về bài toán đơn giản hơn  
‖ ‖  
là tính toán 푤 để đạt được giá trị cực tiểu. Tuy nhiên,  
việc giải bài toán này trở nên phức tạp khi số chiều của  
không gian dữ liệu và số điểm dữ liệu tăng lên cao. Khi đó  
để tìm nghiệm thường giải bài toán đối ngẫu của bài toán  
này.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
57  
Lê Minh Hó a  
C. Hồi quy Softmax  
Softmax [13] được đặt ở cuối mạng học sâu dùng phổ  
biến cho việc phân loại. Vector đặc trưng của những lớp  
trước là đầu vào cho lớp Softmax này. Phương pháp này  
được sử dụng rộng rãi khi cần phân loại nhiều nhóm đối  
tượng. Để biểu diễn mô hình gọn hơn, mô hình Softmax  
sử dụng ký hiệu đại số tuyến tính, biểu diễn dưới dạng  
vector q=Wx+b, một dạng phù hợp hơn cho cả toán học và  
lập trình:  
푇
푞푛 = 푊푇푥̂ + 푤0 = [푞푛,1푞푛,2 ⋯ 푞푛,푘  
]
(9)  
푛
Một hàm softmax có thể được sử dụng để chuyển đổi  
giá trị thành xác suất. Các hàm thường dùng là  
exp (푞푛,푐  
)
(
|
)
푃 푦푛 = 푐 푥푛 =  
(10)  
푘
∑
푗=1 exp (푞푛,푗  
)
Tiếp theo sẽ tối ưu hóa các tham số của mô hình sao cho  
khả năng xuất hiện dữ liệu quan sát được là cao nhất. Sau  
đó, mô hình sẽ đưa ra dự đoán bằng cách đặt ngưỡng xác  
suất, ví dụ dự đoán nhãn đúng là nhãn có xác suất cao nhất.  
D. Mô hình VGG16  
Kể từ AlexNet, các kiến trúc CNN ngày càng sâu hơn,  
như là VGG [10] ra đời với một số cải tiến, trước tiên là  
mô hình VGG sẽ sâu hơn, tiếp theo là thay đổi trong thứ  
tự tích chập. Tuy nhiên, tăng độ sâu mạng không chỉ đơn  
giản là xếp chồng các lớp lại với nhau. Mạng sâu rất khó  
huấn luyện vì vấn đề mất mát đạo hàm, vì độ dốc được  
truyền ngược trở lại các lớp trước đó, phép nhân lặp đi lặp  
lại có thể làm cho độ dốc cực nhỏ. Kết quả là, hiệu suất  
của mạng bị bão hòa hoặc giảm hiệu suất nhanh chóng.  
Hình 2. Kiến trúc mô hình VGG16  
Trước AlexNet đều sử dụng tích chập kết hợp gộp cực  
đại còn VGG thì sử dụng 1 chuỗi tích chập liên tiếp ở giữa  
và cuối của kiến trúc VGG. Việc này sẽ làm cho việc tính  
toán trở nên lâu hơn nhưng những đặc trưng sẽ vẫn được  
giữ lại nhiều hơn so với việc sử dụng gộp cực đại sau mỗi  
tích chập. Hơn nữa hiện nay với sự ra đời của GPU giúp  
tốc độ tính toán trở nên nhanh hơn rất nhiều lần thì vấn đề  
này không còn đáng lo ngại. VGG cho sai số nhỏ hơn  
AlexNet trong cuộc thi ILSVRC năm 2014. VGG có 2  
phiên bản là VGG16 và VGG19. Kiến trúc VGG16 [10]  
được biểu diễn ở Hình 2 dưới đây.  
Kiến trúc của VGG16 bao gồm 16 lớp: 13 lớp tích chập  
(2 lớp conv-conv, 3 lớp conv-conv-conv) đều có kernel  
3x3, sau mỗi lớp conv là gộp cực đại giảm kích thước ảnh  
xuống 0.5, và 3 lớp kết nối hoàn chỉnh. VGG19 tương tự  
như VGG16 nhưng có thêm 3 lớp tích chập.  
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM  
Nghiên cứu tiến hành thử nghiệm các thuật toán phân  
loại đã được đề cập ở phần trên, bộ dữ liệu hình ảnh  
TrashNet được dùng để huấn luyện và đánh giá kết quả.  
Bộ dữ liệu TrashNet có các hình ảnh rác thải sinh hoạt do  
G. Thung và đồng sự tập hợp [11]. Bộ dữ liệu tổng cộng  
có 2527 bức hình chia làm 6 loại rác, trong đó có 5 loại tái  
chế được, gồm 501 hình rác thủy tinh, 594 hình giấy thải,  
403 hình bìa các tông, 410 hình rác kim loại và 137 rác  
sinh hoạt. Bộ ảnh đã được chuẩn hóa kích thước là  
512x384px. Hình ảnh ví dụ các loại rác thải trong Hình 3.  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
58  
ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT CÁ C THUẬT TOÁ N TRÍ TUỆ NH N TẠO TRONG PH N LOẠI RÁ C THẢI  
ma trận 1 chiều được điều chỉnh thích hợp sẽ gia tăng được  
độ chính xác và tốc độ phân loại. Kích thước hình ảnh của  
bộ dữ liệu TrashNet là 512x384px, khi được giảm xuống  
còn 28x28px để làm đầu vào, thì thời gian huấn luyện của  
cây quyết định là 2.6s và độ chính xác phân loại đạt được  
là 49.3%. Tuy nhiên khi kích thước ảnh đầu vào là  
128x128px thì thời gian huấn luyện tăng lên tới 48.2s  
nhưng độ chính xác chỉ còn 47.3%.  
Khi cùng là kích thước hình ảnh đầu vào giảm xuống  
128x128px thì thuật toán rừng ngẫu nhiên cho kết quả là  
tốt nhất khi độ chính xác phân loại đạt 68.2% với thời gian  
huấn luyện là 41.3s. Ngược lại là mô hình SVM cho hiệu  
suất thấp, thời gian huấn luyện dài và độ chính xác là thấp  
nhất trong các mô hình. Do chiều dữ liệu lớn nên vấn đề  
SVM gặp phải là gia tăng khối lượng tính toán. Do đó, ở  
đây nếu kết hợp với PCA để giảm chiều dữ liệu mà vẫn  
giữ các đặc trưng quan trọng thì phân loại sử dụng SVM  
chứng tỏ có hiệu quả hơn khi thời gian huấn luyện giảm  
xuống chỉ còn xấp xỉ 29s và độ chính xác được cải thiện ở  
mức 60.8%.  
BẢNG I. HIỆU SUẤT CÁC THUẬT TOÁN HỌC MÁY  
Thời gian  
Độ chính xác  
Thuật toán  
(%)  
huấn luyện (s)  
Cây quyết định  
Rừng ngẫu nhiên  
SVM  
47.3  
68.2  
41.6  
60.8  
48.2  
41.3  
215.4  
28.7  
SVM+PCA  
B. Hiệu suất của các mô hình học sâu  
Hình 3. Hình mẫu của Bộ dữ liệu TrashNet (a) giấy bìa  
các tông (cardboard) (b) thủy tinh (glass) (c) kim loại  
(metal) (d) giấy (paper) (e) nhựa (plastic) (f) rác sinh hoạt  
(trash)  
Trong trường hợp học sâu, mô hình CNN và VGG16  
được sử dụng để huấn luyện và phân loại bộ dữ liệu. Hình  
ảnh đầu vào được giữ nguyên kích thước đã được chuẩn  
hóa là 384x512px với 3 kênh màu. CNN cho kết quả tốt  
hơn với độ chính xác cao hơn là 60.2% với số lần huấn  
luyện lặp lại là 20 lần trong khoảng thời gian huấn luyện  
là 362.8s. Một điều lưu ý là khi số lần huấn luyện lớn hơn,  
mô hình bị hiện tượng quá khớp (overfitting). Hiện tượng  
quá khớp này diễn ra trên mô hình VGG16 sớm hơn dẫn  
đến tình trạng độ chính xác trong phân loại các bức ảnh  
thấp khi cùng là 20 lần lặp huấn luyện. Điều này chứng tỏ  
bộ dữ liệu có số lượng mẫu nhỏ không thích hợp cho mô  
hình có độ phức tạp tương đối cao. Bài báo này thêm một  
lớp phân loại softmax vào mạng VGG16 thì kết quả thực  
nghiệm cho kết quả phân loại khả quan hơn với độ chính  
xác đạt 71.1% trong thời gian huấn luyện 545.2s với số lần  
huấn luyện là 20.  
Nghiên cứu này sử dụng phần cứng như sau: CPU core  
i7 3.6Ghz, bộ nhớ 16GB Ram, card đồ họa là GTX 1070  
và được cài đặt Windows 10. Mã nguồn cho thực nghiệm  
cài đặt Python 3.7 và sử dụng thư viện TensorFlow2.  
Độ chính xác trong nhiệm vụ phân loại rác thải và thời  
gian huấn luyện mô hình là tham số chính được so sánh  
giữa các thuật toán; đồng thời những mặt hạn chế của nó  
cũng được xem xét.  
Bộ dữ liệu được chia theo tỉ lệ 8:2, với 8 phần cho mục  
đích huấn luyện và 2 phần cho kiểm thử đánh giá độ chính  
xác.  
Sau 20 lần lặp, độ chính xác không có xu hướng tăng  
nữa, đồng thời kiểm tra sai số cũng không giảm và nó duy  
trì cùng số liệu.  
A. Hiệu suất của các thuật toán học máy  
Các thuật toán đại diện trong học máy như cây quyết  
định, rừng ngẫu nhiên, SVMs và PCA được sử dụng để  
huấn luyện và phân loại bộ dữ liệu. Đầu tiên, khi xử lý dữ  
liệu hình ảnh sẽ chuyển ma trận ảnh 2 chiều thành ma trận  
1 chiều đầu vào cho quá trình huấn luyện và phân loại. Khi  
sử dụng thuật toán liên quan cây quyết định thì kích thước  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
59  
Lê Minh Hó a  
BẢNG II. HIỆU SUẤT CÁC MÔ HÌNH HỌC SÂU  
PERFORMANCE EVALUATION ON ARTIFICIAL  
INTELLIGENT MODELS IN WASTE  
CLASSIFICATION  
Thời gian  
Độ chính xác  
Mô hình  
(%)  
huấn luyện (s)  
362.8  
Abstract: Waste classification is a big problem in  
computer vision and nowadays there are many approaches  
to offer solutions, in which the direction of using artificial  
intelligence reaches a significant level of accuracy. In this  
paper, the classification algorithms in machine learning  
such as decision trees, random forest, SVM, PCA and the  
typical deep learning model VGG16 are studied to  
compare the efficiency in the classification. This study  
proposes to add a Softmax classification after VGG16 to  
give higher accuracy results. The deep learning models  
studied here use the Convolutional Neural Network (CNN)  
core which is one of the most advanced networks in  
computer vision, demonstrating the ability to effectively  
classify images. The results from the proposed model have  
been improved with 71.1% accuracy compared to using  
the CNN model under the condition utilizing dataset with  
small sample quantity. In the near future, deep learning  
models will mechanically assist in automatic garbage  
classification and without necessarily human intervention.  
CNN  
60.2  
23.6  
71.1  
VGG16  
1248.5  
VGG16+softmax  
545.2  
V. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, các thuật toán trí tuệ nhân tạo được  
nghiên cứu và thử nghiệm trong bài toán phân loại rác thải.  
Kết quả được đánh giá so sánh thông qua độ chính xác  
trong phân loại và thời gian huấn luyện của thuật toán.  
Thông qua kết quả thực nghiệm, các mô hình học sâu hứa  
hẹn trong tương lai gần có thể đáp ứng được các tác vụ  
công nghiệp thời gian thực. Từ nghiên cứu này, việc cài  
đặt nâng cấp mô hình và huấn luyện bộ dữ liệu lớn hơn để  
đạt được mục tiêu phân loại chính xác và tin cậy hơn, mang  
tính thực tiễn nhằm áp dụng cho ngành công nghiệp xử lý  
rác thải, đem lại môi trường sống tốt đẹp hơn.  
Keywords: CNN, Decision tree, Random forest, PCA,  
waste classification, SVM, VGG16  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] J.R. Quinlan, “Induction of decision trees”, Mach Learn 1,  
Lê Minh Hóa, tốt nghiệp Thạc  
sỹ Máy tính, chuyên ngành Đa  
phương tiện năm 2011, tại  
trường Soongsil, Hàn Quốc.  
Hiện là giảng viên Học Viện  
Công Nghệ Bưu Chính Viễn  
Thông, cơ sở TP. Hồ Chí  
Minh. Lĩnh vực nghiên cứu:  
HCI, trí tuệ nhân tạo, học sâu.  
[2] S.L. Salzberg, “C4.5: Programs for Machine Learning” by  
J. Ross Quinlan. Morgan Kaufmann Publishers, Inc., 1993.  
Mach  
Learn  
16,  
235–240  
(1994),  
[3] L. Breiman, “Random Forests”, Machine Learning 45, 5–32  
[4] C. Cortes, V. Vapnik, “Support-vector networks”, Mach  
Learn  
20,  
273–297  
(1995),  
[5] Karl Pearson F.R.S. (1901), “LIII. On lines and planes of  
closest fit to systems of points in space”, The London,  
Edinburgh, and Dublin Philosophical Magazine and Journal  
of  
Science,  
2:11,  
559-572,  
DOI:  
10.1080/14786440109462720  
[6] B. Schölkopf, A. Smola, K.R. Müller, “Nonlinear  
Component Analysis as a Kernel Eigenvalue Problem”,  
Neural Computation 1998 10:5, 1299-1319, DOI:  
10.1162/089976698300017467  
[7] R. Garg, H. Aggarwal, P. Centobelli, R. Cerchione,  
“Extracting Knowledge from Big Data for Sustainability: A  
Comparison of Machine Learning Techniques”,  
Sustainability 2019, 11, 6669, DOI: 10.3390/su11236669  
[8] A. Krizhevsky, I. Sutskever, G. Hinton, "ImageNet  
Classification with Deep Convolutional Neural Networks",  
In Advances in Neural Information Processing Systems 25,  
edited by F. Pereira, C. J. C. Burges, L. Bottou and K. Q.  
Weinberger, 1097—1105, Curran Associates, Inc., 2012.  
[9] Y. LeCun, B. Boser, J. S. Denker, D. Henderson, R. E.  
Howard, W. Hubbard, L. D. Jackel, “Backpropagation  
Applied to Handwritten Zip Code Recognition”, Neural  
Computation  
1989  
1:4,  
541-551,  
[10] K. Simonyan, A. Zisserman, “Very deep convolutional  
networks for large-scale image recognition”, ICLR 2015,  
arXiv:1409.1556  
[11] G. Thung, “Trashnet,” GitHub repository, 2016  
[12] LeCun, Y., Bengio, Y. and Hinton, G., 2015. Deep learning.  
Nature, 521(7553), pp.436-444  
[13] I. Goodfellow, Y. Bengio, and A. Courville, “Deep  
learning.” MIT Press, 2016  
SOÁ 04B (CS.01) 2020  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG  
60  
pdf 5 trang Thùy Anh 21840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu suất các thuật toán trí tuệ nhân tạo trong phân loại rác thải", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_suat_cac_thuat_toan_tri_tue_nhan_tao_trong_pha.pdf