Tài liệu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cuộc Cách mạng Công  
nghiệp Lần thứ tư  
Klaus Schwab  
Người dịch: Đồng Bích Ngọc  
Trần Thị Mỹ Anh  
Phụ lục: Biến đổi Sâu sắc  
88  
1. Công Nghệ Cấy Ghép trên Cơ thể Người  
2. Hiện diệnSố  
89  
91  
3. Ánh mắt Trở thành Phương tiện Giao tiếp mới  
4. Thiết bị đeo trên người kết nối Internet  
5. Mô hình Điện toán Phân tán rộng khắp  
6. Siêu Máy tính Bỏ túi  
92  
95  
97  
99  
7. Lưu trữ cho Tất cả  
103  
105  
109  
111  
113  
114  
117  
119  
122  
124  
125  
128  
129  
132  
134  
136  
138  
8. Mạng lưới Vạn vật Kết nối Internet  
9. Ngôi nhà Kết nối  
10. Các Thành phố Thông minh  
11. Dữ liệu Lớn cho Những Quyết định  
12. Những Chiếc Xe Không Người lái  
13. Trí tuệ Nhân tạo và Trình Ra Quyết định  
14. Trí Thông minh Nhân tạo AI và các Công việc Bàn giấy  
15. Người máy và Dịch vụ  
16. Bitcoin và Đầu mối phân phối Blockchain  
17. Nền Kinh tế Chia sẻ  
18. Chính phủ và Đầu mối phân phối (Blockchain)  
19. In và Sản xuất sử dụng công nghệ 3D  
20. Công nghệ In 3D và Sức khỏe con người  
21. Công nghệ in 3D và Các Sản phẩm Tiêu dùng  
22. Con người được Thiết kế [103]  
23. Công nghệ thần kinh Neurotechnologies [104]  
Notes  
141  
 
Lời mở đầu  
Trong vô vàn thách thức đa dạng và thú vị mà chúng ta phải đối mặt ngày nay, thách thức  
lớn nhất và quan trọng nhất là làm thế nào để nắm bắt và định hình được cuộc cách mạng  
công nghệ mới, cuộc cách mạng chắc chắn kéo theo sự biến đổi của nhân loại. Chúng ta  
đang đứng trước thềm một cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi căn bản cách chúng ta sống, làm  
việc, và liên hệ với nhau. Tôi cho là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này sẽ không  
giống với bất cứ điều gì nhân loại đã từng trải qua cả về quy mô, phạm vi và độ phức tạp của  
nó.  
Chúng ta vẫn chưa nắm bắt được đầy đủ tốc độ và phạm vi ảnh hưởng của cuộc cách mạng  
mới này. Khả năng hàng tỷ người được kết nối thông qua các thiết bị di động vốn sở hữu  
những tính năng chưa từng có trong tốc độ xử lý, dung lượng lưu trữ và tiếp cận các kiến  
thức là không giới hạn. Hoặc nghĩ về sự hội tụ đáng kinh ngạc của những đột phá công nghệ  
mới nổi, bao gồm các lĩnh vực trên quy mô rộng lớn có thể kể đến như trí thông minh nhân  
tạo (AI), rô bốt, mạng lưới vạn vật kết nối internet (Internet of things – IOT), các phương  
tiện không người lái, công nghệ in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật  
liệu, lưu trữ năng lượng và máy tính lượng tử. Nhiều công nghệ trong số đó đang ở giai đoạn  
“trứng nước” nhưng đã đạt được bước ngoặt trong sự phát triển bởi chúng dựa vào nhau và  
tăng cường lẫn nhau bằng sự kết hợp giữa các công nghệ của thế giới vật lý, kỹ thuật số và  
sinh học.  
Chúng ta đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc trên tất cả các ngành công nghiệp, đánh  
dấu bằng sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh mới, sự phá vỡ [1] của các mô hình hiện  
tại và sự định hình lại hệ thống sản xuất, tiêu thụ, vận chuyển và giao nhận. Về mặt xã hội,  
một sự thay đổi hệ hình (paradigm shift) cũng diễn ra trong cách chúng ta làm việc và giao  
tiếp, cũng như cách chúng ta thể hiện mình, tiếp cận thông tin và giải trí. Tương tự như vậy,  
các chính phủ và các tổ chức đang được định hình lại, một số trong đó phải kể đến như hệ  
thống giáo dục, y tế, giao thông vận tải. Những cách thức mới trong việc sử dụng công nghệ  
để thay đổi hành vi và các hệ thống sản xuất, tiêu thụ của chúng ta cũng thúc đẩy tiềm năng  
hỗ trợ quá trình tái tạo và bảo tồn môi trường tự nhiên, chứ không phải là tạo ra các chi phí  
ẩn dưới hình thức ngoại ứng.  
Những biến đổi này mang tính lịch sử cả về quy mô, tốc độ và phạm vi ảnh hưởng của nó.  
Khi những bất ổn sâu sắc xung quanh việc phát triển và áp dụng các công nghệ mới nổi đồng  
nghĩa với việc chúng ta vẫn chưa biết những biến đổi gây ra bởi cuộc cách mạng công  
nghiệp này sẽ diễn ra như thế nào, độ phức tạp và sự liên hệ lẫn nhau giữa các khu vực ngụ ý  
rằng tất cả các bên liên quan của xã hội toàn cầu – chính phủ, doanh nghiệp, giới học giả, và  
xã hội dân sự – có trách nhiệm làm việc cùng nhau để hiểu rõ hơn về xu hướng mới nổi này.  
1
Chia sẻ sự hiểu biết đặc biệt quan trọng nếu chúng ta muốn định hình một tương lai chung  
phản ánh những mục tiêu và giá trị chung. Chúng ta cần phải có một góc nhìn chia sẻ toàn  
diện và toàn cầu về việc công nghệ thay đổi cuộc sống của chúng ta và của những thế hệ  
tương lai như thế nào, và nó đang định hình lại các bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân  
loại mà chúng ta đang sống ra sao.  
Những biến đổi này sâu sắc đến mức, từ góc độ của lịch sử loài người, chưa từng có một sự  
hứa hẹn nào hoặc rủi ro tiềm tàng nào lớn hơn. Tuy nhiên, tôi lo ngại rằng những người ra  
quyết định thường bị mắc kẹt trong tư duy tuyến tính truyền thống (và thiếu sự đột phá) hoặc  
chú ý quá nhiều đến những mối bận tâm trước mắt ngăn cản họ có được những suy nghĩ  
mang tính chiến lược về các lực gây nên sự đổ vỡ và đổi mới vốn đang định hình tương lai  
của chúng ta.  
Tôi cũng nhận thấy rõ ràng là một số học giả và chuyên gia cho rằng sự phát triển mà tôi  
đang nói đến chỉ đơn thuần là một phần của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Tuy  
nhiên, có ba lý do củng cố niềm tin của tôi rằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang  
diễn ra, đó là:  
Tốc độ: Trái với những cuộc cách mạng trước đây, cuộc cách mạng này tiến triển với một  
tốc độ theo cấp số lũy thừa chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Đây là kết quả của một thế  
giới đa diện, kết nối sâu sắc nơi mà chúng ta đang sống và thực tế là công nghệ mới luôn  
sinh ra những công nghệ mới hơn và tân tiến hơn.  
Phạm vi và chiều sâu: Cuộc cách mạng này dựa trên cuộc cách mạng số và kết hợp nhiều  
công nghệ dẫn đến những thay đổi chưa có tiền lệ trong mô hình kinh tế, kinh doanh, xã hội,  
và cá nhân. Nó không chỉ thay đổi mục đích làm việc và cách thức thực hiện, mà còn thay  
đổi chính con người chúng ta.  
Tác động hệ thống: Nó bao gồm sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống, trên khắp (và giữa)  
các quốc gia, các công ty, các ngành công nghiệp và toàn thể xã hội.  
Khi viết cuốn sách này, mục đích của tôi là mang đến một cuốn sách hướng dẫn về cuộc  
công nghiệp lần thứ tư – nó là gì, nó sẽ đem tới những gì, nó sẽ ảnh hưởng đến chúng ta như  
thế nào, và cần phải làm gì để khai thác nó cho lợi ích chung. Cuốn sách này dành cho tất cả  
những ai quan tâm đến tương lai của chúng ta, những người được giao trọng trách tận dụng  
các cơ hội của sự thay đổi mang tính cách mạng này giúp cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.  
Tôi có ba mục tiêu chính:  
- Nâng cao nhận thức về sự toàn diện và tốc độ của cuộc cách mạng công nghệ và tác  
động đa diện của nó,  
2
- Tạo ra một khuôn khổ cho những tư duy về cuộc cách mạng công nghiệp – một khuôn  
khổ vạch ra những vấn đề cốt lõi và làm nổi bật những giải pháp khả thi, và  
- Chuẩn bị một nền tảng, từ đó để truyền cảm hứng cho sự hợp tác công-tư và hợp tác  
trên các vấn đề liên quan đến cách mạng công nghệ.  
Quan trọng hơn hết, cuốn sách này hướng đến mục đích nhấn mạnh cách thức mà công nghệ  
và xã hội cùng tồn tại. Công nghệ không phải là một lực lượng ngoại sinh mà chúng ta  
không thể kiểm soát. Chúng ta không bị bắt buộc phải lựa chọn, giữa – "chấp nhận và sống  
với nó" và "từ chối và sống mà không có nó". Thay vào đó, hãy xem những thay đổi công  
nghệ ấn tượng đó như một lời mời phản chiếu về bản thân chúng ta và cách chúng ta nhìn thế  
giới. Chúng ta càng nghĩ về cách khai thác cuộc cách mạng công nghệ thì chúng ta sẽ càng  
khám phá được bản thân và các mô hình xã hội cơ bản mà những công nghệ này đại diện và  
tạo ra, và chúng ta cũng sẽ càng có cơ hội để định hình cuộc cách mạng này theo hướng cải  
thiện tình trạng của thế giới.  
Định hình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đảm bảo rằng cuộc cách mạng này sẽ  
trao quyền và tập trung vào con người chứ không phải là chia rẽ và vô nhân đạo, đó không  
phải là nhiệm vụ của bất kỳ một bên liên quan hay lĩnh vực hoặc cho bất cứ khu vực, ngành  
công nghiệp hoặc nền văn hóa đơn lẻ nào. Tính chất căn bản và toàn cầu của cuộc cách mạng  
này có nghĩa là nó sẽ tác động và bị ảnh hưởng bởi tất cả các quốc gia, các nền kinh tế, các  
khu vực và người dân. Do đó, quan trọng là chúng ta cần đầu tư sự quan tâm và sức lực vào  
sự hợp tác giữa các bên liên quan trên các phương diện học thuật, xã hội, chính trị, quốc gia  
và công nghiệp. Những sự tương tác và hợp tác này là cần thiết để tạo ra những viễn cảnh  
chung tích cực, tràn đầy hy vọng, tạo điều kiện cho các cá nhân và các nhóm người từ mọi  
nơi trên thế giới đều có thể tham gia, và hưởng lợi, từ những chuyển biến đang diễn ra.  
Phần lớn thông tin và những phân tích của tôi trong cuốn sách này đều dựa trên những dự án  
đang diễn ra và những sáng kiến của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, và đã được phát triển, tranh  
luận và thử thách tại những kỳ họp Diễn đàn gần đây. Do đó, cuốn sách này cũng tạo ra một  
khuôn khổ để định hình các hoạt động tương lai của Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Tôi cũng đã  
đưa vào cuốn sách nhiều điều từ những cuộc trò chuyện của tôi với các nhà lãnh đạo doanh  
nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự, cũng như những người tiên phong trong công nghệ và  
những người trẻ tuổi. Theo nghĩa đó, đây là một cuốn sách “đa nguồn”, là sản phẩm của trí  
tuệ tập thể khai sáng của cộng đồng Diễn đàn.  
Cuốn sách này gồm ba chương. Chương đầu tiên là tổng quan về cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư. Chương thứ hai trình bày về các công nghệ biến đổi chính. Chương thứ ba  
đưa ra những góc nhìn sâu về tác động của cuộc cách mạng và một số thách thức chính sách  
mà nó đặt ra. Tôi kết luận bằng cách đề xuất những ý tưởng thực tế và những giải pháp tốt  
nhất để thích ứng, định hình và khai thác tiềm năng của sự biến đổi lớn này.  
3
1. Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư  
1.1. Bối cảnh lịch sử  
Từ “cách mạng” có nghĩa là một sự thay đổi đột ngột và căn bản. Các cuộc cách mạng trong  
lịch sử diễn ra khi những công nghệ và cách thức mới trong việc nhận thức thế giới gây ra sự  
thay đổi sâu sắc trong hệ thống kinh tế và cấu trúc xã hội. Lấy lịch sử làm khung tham chiếu,  
những thay đổi đột ngột này có thể mất nhiều năm để nhìn thấy.  
Biến đổi sâu sắc đầu tiên trong cách sống của chúng ta – sự chuyển đổi từ tìm kiếm thức ăn  
sang trồng trọt và chăn nuôi – xảy ra vào khoảng 10.000 năm trước và được thực hiện nhờ  
quá trình thuần hóa động vật. Cuộc cách mạng nông nghiệp đã kết hợp nỗ lực thuần hoá  
động vật với nỗ lực của con người nhằm mục đích tạo ra sản phẩm, vận chuyển và giao tiếp.  
Từng chút một, sản xuất lương thực được cải thiện, thúc đẩy tăng trưởng dân số và tạo điều  
kiện cho các khu định cư lớn hơn. Điều này cuối cùng dẫn đến quá trình đô thị hóa và sự trỗi  
dậy của các thành phố.  
Theo sau cuộc cách mạng nông nghiệp là một loạt các cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu  
vào nửa sau thế kỷ XVIII. Các cuộc cách mạng này đánh dấu sự chuyển đổi từ sức mạng cơ  
bắp sang năng lượng cơ học, tiến triển đến ngày nay, với cuộc cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư, trong đó năng lực nhận thức nâng cao đang giúp tăng năng suất con người.  
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trải dài từ năm 1760 đến khoảng năm 1840. Bắt đầu  
bằng việc xây dựng các tuyến đường sắt và phát minh ra động cơ hơi nước, cuộc cách mạng  
này đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên sản xuất cơ khí. Cuộc cách mạng công nghiệp lần  
thứ hai, diễn ra từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, với sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi  
sự ra đời của điện năng và dây chuyền lắp ráp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt  
đầu vào những năm 1960. Nó thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng  
số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, máy tính cỡ lớn (mainframe)  
(thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và internet (thập niên 1990).  
Cùng với việc xem xét những định nghĩa khác nhau và các tranh luận khoa học về đặc trưng  
của ba cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, tôi tin rằng ngày nay chúng ta đang ở giai đoạn  
đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nó đã bắt đầu vào vào thời điểm chuyển  
giao sang thế kỷ này và hình thành dựa trên cuộc cách mạng số. Nó được đặc trưng bởi mạng  
internet ngày càng phổ biến và di động, bởi các cảm biến nhỏ và mạnh mẽ hơn với giá thành  
rẻ hơn, và bởi trí thông minh nhân tạo và máy học.  
Công nghệ kỹ thuật số với phần cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng trong cấu trúc  
của nó không phải là mới, nhưng sau một thời gian ngừng trệ với cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ ba, nó đã trở nên ngày càng phức tạp và được tích hợp nhiều hơn, và kết quả  
là đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu. Đây là lý do tại sao Giáo sư Erik  
4
   
Brynjolfsson và Andrew McAfee, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), lấy tên giai đoạn  
này làm tiêu đề của cuốn sách năm 2014 của họ - "thời đại máy tính thứ hai" [2]. Họ tuyên  
bố rằng thế giới đang ở một bước ngoặt, mà tại đó ảnh hưởng của các công nghệ kỹ thuật số  
này sẽ chứng tỏ với "toàn bộ sức mạnh" thông qua sự tự động hóa và tạo ra "những điều  
chưa từng có".  
Tại Đức, đã có những cuộc thảo luận về chủ đề "Công nghiệp 4.0", một thuật ngữ được nêu  
ra tại Hội chợ Hannover vào năm 2011, để mô tả rằng điều này sẽ cách mạng hóa việc tổ  
chức các chuỗi giá trị toàn cầu như thế nào. Bằng cách kích hoạt các “nhà máy thông minh”,  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra một thế giới mà ở trong đó các hệ thống sản  
xuất ảo và vật lý trên toàn cầu có thể liên kết với nhau một cách linh hoạt. Điều này cho phép  
việc hoàn toàn tùy biến các sản phẩm và tạo ra các mô hình hoạt động mới.  
Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ là về máy móc và hệ thống  
thông minh và được kết nối. Phạm vi của nó rộng lớn hơn nhiều. Các làn sóng đột phá trong  
các lĩnh vực khác nhau xảy ra đồng thời, từ giải mã trình tự gen cho tới công nghệ nano, từ  
năng lượng tái tạo đến tính toán lượng tử. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự dung  
hợp giữa các công nghệ này và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số  
và sinh học khiến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này về cơ bản khác với những  
cuộc cách mạng trước đó.  
Trong cuộc cách mạng này, những công nghệ mới nổi và sự đổi mới trên diện rộng được  
khuếch tán nhanh hơn và rộng rãi hơn so với những lần trước, điều vẫn tiếp tục diễn ra ở một  
số nơi trên thế giới. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai vẫn chưa đến được với 17%  
dân số của thế giới – tức ước tính khoảng gần 1,3 tỉ người chưa tiếp cận được với điện. Điều  
này cũng chính xác với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, với hơn một nửa dân số thế  
giới, 4 tỷ người mà phần lớn đang sống ở những nước đang phát triển, chưa tiếp cận internet.  
Trục quay của công nghệ (dấu hiệu phân biệt cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên) đã mất  
gần 120 năm để được lan tỏa ra ngoài châu Âu. Ngược lại, internet đã tràn ngập khắp nơi  
trên thế giới chỉ trong vòng hơn một thập kỷ.  
Bài học từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên vẫn còn giá trị đến ngày nay – đó là mức độ  
chấp nhận đổi mới công nghệ của một xã hội là nhân tố chính quyết định sự tiến bộ. Chính  
phủ và các tổ chức công cộng, cũng như khu vực tư nhân, cần phải thực hiện bổn phận của  
họ, nhưng một điều cũng quan trọng là người dân phải thấy được những lợi ích lâu dài.  
Tôi tin rằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chắc chắn sẽ diễn ra một cách mạnh mẽ,  
có sức ảnh hưởng và có tầm quan trọng với lịch sử như ba cuộc cách mạng trước. Tuy nhiên  
tôi có hai mối lo ngại chính về các yếu tố có thể hạn chế khả năng cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư được diễn ra một cách hiệu quả và có tính liên kết.  
Trước tiên, tôi cảm thấy rằng trình độ yêu cầu về năng lực lãnh đạo và sự hiểu biết về những  
thay đổi đang diễn tiến trên tất cả các lĩnh vực, nhưng vẫn còn thấp khi đặt trong sự tương  
5
phản với nhu cầu phải xem xét lại những hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị của chúng ta để  
đáp ứng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Do đó, cả ở cấp quốc gia và toàn cầu,  
khung thể chế cần thiết để quản lý việc phổ biến sự đổi mới và giảm thiểu sự xáo trộn là  
không đủ, tệ hơn là hoàn toàn không có.  
Thứ hai, thế giới đang thiếu một lời dẫn giải nhất quán, tích cực và chung để vạch ra những  
cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một dẫn giải mang tính  
thiết yếu nếu chúng ta muốn trao quyền cho một tập hợp đa dạng các cá nhân và cộng đồng  
và tránh một phản ứng phổ biến của người dân trước những thay đổi cơ bản đang diễn ra.  
1.2. Thay đổi sâu sắc và hệ thống  
Tiền đề của cuốn sách này là công nghệ và số hóa sẽ cách mạng hóa mọi thứ, khiến cho câu  
châm ngôn thường bị lạm dụng “lần này sẽ khác” trở nên đúng. Nói một cách đơn giản, các  
đổi mới công nghệ chủ yếu đều đang trên bờ vực của sự thay đổi quan trọng trên toàn thế  
giới – chắc chắn là như vậy.  
Quy mô và phạm vi của sự thay đổi giải thích vì sao có thể cảm thấy sự phá vỡ và đổi mới  
ngày nay lại xảy ra một cách dữ dội như thế. Tốc độ đổi mới xét trên cả hai phương diện bao  
gồm sự phát triển và khả năng khuếch tán của nó đều nhanh hơn bao giờ hết. Những nhân tố  
gây phá vỡ ngày nay –Airbnb, Uber, Alibaba và những công ty tương tự – giờ đây là những  
cái tên mà ai cũng biết – từng khá vô danh chỉ cách đây vài năm. Chiếc điện thoại Iphone  
đầy rẫy khắp mọi nơi đã được tung ra vào năm 2007. Song đến cuối năm 2015, ước tính có  
đến 2 tỷ chiếc điện thoại thông minh được bán ra. Năm 2010, Google lần đầu tiên công bố  
chiếc xe hoàn toàn tự vận hành mà không cần người lái của họ. Những chiếc xe như vậy có  
thể sớm trở thành một thực tế phổ biến trên đường phố.  
Điều đó có thể xảy ra. Nhưng nó không phải chỉ là tốc độ; hiệu suất theo quy mô cũng gây  
sự đáng ngạc nhiên không kém. Số hóa có nghĩa là tự động hóa, và cũng có nghĩa là các  
công ty không phải gánh chịu việc lợi tức theo quy mô giảm xuống (hoặc ít nhất là ít công ty  
sẽ phải chịu điều đó hơn). Để có thể hiểu điều này ở mức độ tổng hợp, thử so sánh thành phố  
Detroit năm 1990 (sau đó trở thành một trung tâm lớn của các ngành công nghiệp truyền  
thống) với Thung lũng Silicon vào năm 2014. Năm 1990, ba công ty lớn nhất tại Detroit có  
tổng giá trị vốn hóa thị trường là 36 tỷ đô la, doanh thu là 250 tỷ đô la, và có 1,2 triệu nhân  
viên. Năm 2014, ba công ty lớn nhất của Thung lũng Silicon có giá trị vốn hóa thị trường cao  
hơn đáng kể (1,09 nghìn tỷ đô la), tạo ra số doanh thu tương tự (247 tỷ đô la), nhưng chỉ với  
khoảng một phần mười số lao động (137.000).[3]  
Thực tế một đơn vị của cải vật chất được tạo ra ngày hôm nay có khả năng sử dụng ít nhân  
công hơn so với 10 hay 15 năm trước đây bởi vì các doanh nghiệp số có chi phí cận biên có  
xu hướng gần bằng 0. Ngoài ra, một thực tế của thời đại kỹ thuật số là nhiều doanh nghiệp  
mới cung cấp “các hàng hóa thông tin” với chi phí lưu trữ, vận chuyển và tái tạo gần như  
6
 
bằng 0. Một số công ty có công nghệ đột phá dường như đòi hỏi ít vốn để phát triển. Ví dụ,  
các doanh nghiệp như Instagram hay WhatsApp không cần nhiều kinh phí để khởi nghiệp, đã  
thay đổi vai trò của vốn và quy mô kinh doanh trong bối cảnh của cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư. Nhìn chung, điều này cho thấy hiệu suất theo quy mô sẽ tiếp tục thúc đẩy  
sự thay đổi quy mô và tầm ảnh hưởng trên toàn bộ hệ thống như thế nào.  
Bên cạnh tốc độ và phạm vi, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn có thể được xem là  
độc đáo bởi sự hài hòa và khả năng tích hợp nhiều lĩnh vực và phát minh khác nhau. Các  
sáng kiến hữu hình là kết quả của sự tương tác giữa các công nghệ không còn là khoa học  
viễn tưởng. Ví dụ, ngày nay công nghệ chế tạo kỹ thuật số có thể tương tác với thế giới sinh  
học. Một số nhà thiết kế và kiến trúc sư đã kết hợp thiết kế trên máy tính, công nghệ sản xuất  
đắp dần, kỹ thuật vật liệu và sinh học tổng hợp để tiên phong tạo ra các hệ thống cho phép sự  
tương tác giữa các vi sinh vật, cơ thể của chúng ta, những sản phẩm mà chúng ta tiêu thụ, và  
thậm chí cả những tòa nhà mà chúng ta đang sống. Bằng cách đó, họ đang tạo ra (và thậm  
chí là đang “kích thích phát triển”) các đối tượng có thể liên tục biến đổi và thích nghi  
(những điểm đặc trưng của giới thực vật và động vật).[4]  
Trong cuốn Thời đại máy tính thứ hai, Brynjolfsson và McAfee cho rằng máy tính tinh vi  
đến mức hầu như không thể dự đoán được những ứng dụng nào sẽ được sử dụng trong vài  
năm tới. Trí thông minh nhân tạo (AI) có mặt khắp nơi xung quanh chúng ra, từ những chiếc  
xe và máy bay không người lái đến trợ lý ảo và phần mềm dịch thuật. Nó đang thay đổi cuộc  
sống của chúng ta. AI đã đạt được những tiến bộ ấn tượng, nhờ hiệu năng máy tính tăng  
nhanh theo cấp số nhân và sự sẵn có của một lượng dữ liệu đồ sộ, từ các phần mềm trước  
đây dùng để phát minh ra loại thuốc mới đến các thuật toán dự đoán mối quan tâm văn hóa  
của chúng ta. Nhiều thuật toán trong số đó được học hỏi từ vô số “mẩu” dữ liệu mà chúng ta  
đã bỏ lại trong thế giới kỹ thuật số. Điều này dẫn đến sự ra đời của các loại “máy học” mới  
và phát minh tự động cho phép những con rô bốt và máy tính “thông minh” tự lập trình và  
tìm ra các giải pháp tối ưu từ những nguyên tắc đầu tiên.  
Các ứng dụng như Siri của Apple, thứ được gọi là trợ lý thông minh, mang đến một cái nhìn  
thoáng qua về sức mạnh của một nhánh trong những lĩnh vực AI đang tiến bộ nhanh. Chỉ hai  
năm trước, những trợ lý cá nhân thông minh mới chỉ bắt đầu xuất hiện. Ngày nay, nhận dạng  
giọng nói và trí thông minh nhân tạo đang phát triển nhanh đến nỗi việc nói chuyện với máy  
tính sẽ sớm trở thành một tiêu chuẩn, tạo ra thứ mà các kỹ sư công nghệ gọi là “môi trường  
xung quanh máy tính”, trong đó các trợ lý cá nhân rô bốt luôn sẵn sàng ghi chép và trả lời  
các truy vấn của người dùng. Các thiết bị của chúng ta sẽ ngày càng trở thành một phần quan  
trọng của hệ sinh thái cá nhân, lắng nghe chúng ta, dự đoán nhu cầu của chúng ta, và giúp  
chúng ta khi cần – thậm chí ngay cả khi không yêu cầu.  
Bất bình đẳng như một thách thức hệ thống  
7
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra nhiều lợi ích to lớn và cũng chừng đó  
những thách thức. Một mối lo ngại đặc biệt là sự bất bình đẳng trầm trọng. Những thách thức  
đặt ra bởi sự gia tăng bất bình đẳng rất khó để định lượng bởi vì một phần lớn trong số chúng  
ta là những người tiêu dùng và nhà sản xuất, do vậy, đổi mới và sự phá vỡ sẽ ảnh hưởng cả  
hai mặt tích cực và tiêu cực đến mức sống và phúc lợi của chúng ta.  
Những người tiêu dùng dường như được hưởng lợi nhất. Cuộc cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư đã giúp tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới cho phép gia tăng hiệu quả cuộc sống cá  
nhân của chúng ta trong vai trò là người tiêu dùng, với chi phí gần như bằng không. Gọi một  
chiếc taxi, tìm kiếm một chuyến bay, mua một sản phẩm, thực hiện thanh toán, nghe nhạc  
hay xem một bộ phim - bất kỳ công việc nào giờ đây cũng có thể được thực hiện từ xa. Lợi  
ích của công nghệ đối với tất cả chúng ta – những người tiêu dùng, là không thể chối cãi.  
Internet, điện thoại thông minh và hàng ngàn ứng dụng đang làm cho cuộc sống của chúng ta  
trở nên dễ dàng hơn, và – nhìn chung – hiệu quả hơn. Một thiết bị đơn giản như chiếc máy  
tính bảng mà chúng ta dùng để đọc sách, lướt web và giao tiếp, sở hữu khả năng xử lý tương  
đương 5.000 máy tính để bàn của 30 năm trước, trong khi chi phí lưu trữ thông tin gần bằng  
không (chi phí lưu trữ 1GB hiện nay trung bình ở mức dưới 0,03 đô la mỗi năm, so với hơn  
10.000 đô la thời điểm cách đây 20 năm).  
Những thách thức đặt ra bởi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư dường như xuất hiện  
chủ yếu ở phía cung – trong thế giới của lao động và sản xuất. Trong vài năm qua, đa số các  
nước phát triển nhất và cả một số nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Trung Quốc đã trải qua  
một mức sụt giảm đáng kể trong tỷ trọng lao động trên GDP. Phần nhiều lý giải cho sự suy  
giảm này là do giá tương đối của các hàng thiết bị đã giảm,[5] mà tiến trình đổi mới cũng  
được coi là nguyên nhân (điều này buộc các công ty phải dùng lao động để thay thế cho  
vốn).  
Kết quả là, những người hưởng lợi lớn từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là các nhà  
cung cấp vốn tri thức hoặc vốn vật chất – các nhà cải cách, nhà đầu tư, và các bên liên quan,  
điều này giúp giải thích khoảng cách ngày càng gia tăng về của cải giữa những người sở hữu  
vốn và những người lao động. Nó cũng giải thích tại sao rất nhiều người lao động thất vọng  
và tin chắc rằng thu nhập thực tế của họ có thể không tăng suốt cuộc đời họ và rằng con cái  
họ có thể sẽ không có cuộc sống tốt hơn họ.  
Bất bình đẳng gia tăng và những mối lo ngại lớn dần về bất bình đằng là một thách thức lớn  
mà tôi sẽ dành một phần để nói đến trong Chương Ba. Sự tập trung lợi ích và giá trị trong tay  
một số ít người càng trầm trọng hơn bởi cái được gọi là hiệu ứng nền tảng, trong đó các tổ  
chức định hướng số tạo ra các mạng kết nối những người mua và người bán các sản phẩm  
dịch vụ đa dạng và do đó có được mức tăng trong hiệu suất theo quy mô.  
Hiệu ứng nền tảng đã tạo nên sự tập trung của một số ít nền tảng mạnh mẽ đang thống trị thị  
trường. Lợi ích là rõ ràng, đặc biệt đối với người tiêu dùng: giá trị cao hơn, thuận tiện hơn và  
chi phí thấp hơn. Tuy nhiên cũng tiềm ẩn những rủi ro về mặt xã hội. Để ngăn chặn sự tập  
8
trung của giá trị và quyền lực trong một vài bàn tay, chúng ta cần phải tìm ra cách để cân  
bằng lợi ích và rủi ro của các nền tảng kỹ thuật số (bao gồm cả các nền tảng công nghiệp)  
bằng cách đảm bảo sự công khai và các cơ hội đổi mới hợp tác.  
Đây là tất cả những thay đổi cơ bản ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị của  
chúng ta, mà khó có thể xóa bỏ, ngay cả khi quá trình toàn cầu hóa vì một lý do nào đó bị  
đảo ngược. Câu hỏi dành cho mọi ngành công nghiệp và các công ty, mà không có ngoại lệ  
nào, không còn là “Tôi sẽ bị đổ vỡ?” mà là “Khi xảy ra sự đổ vỡ, nó sẽ diễn ra dưới hình  
thức nào và nó sẽ tác động như thế nào đến tôi và tổ chức của tôi?”  
Thực tế của sự đổ vỡ và những tác động mà chúng ta không thể tránh khỏi không có nghĩa là  
chúng ta bất lực khi đối mặt với nó. Trách nhiệm của chúng ta là phải đảm bảo rằng chúng ta  
thiết lập được tập hợp các giá trị chung để định hướng những lựa chọn chính sách và để thực  
thi những thay đổi mà sẽ khiến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trở thành cơ hội đối  
với tất cả mọi người.  
9
2. Các nhân tố thúc đẩy  
Có vô số tổ chức đã công bố những danh sách xếp hạng các công nghệ khác nhau sẽ thúc đẩy  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Những đột phá khoa học và các công nghệ mới mà  
nó tạo ra dường như vô hạn, diễn ra trên rất nhiều mặt khác nhau và ở nhiều nơi khác nhau.  
Sự lựa chọn của tôi về các công nghệ chính để xem xét dựa trên nghiên cứu thực hiện bởi  
Diễn đàn Kinh tế Thế giới và một vài công trình của Hội đồng Chương trình nghị sự toàn  
cầu tại Diễn đàn.  
2.1. Các xu thế lớn  
Tất cả những sự phát triển và công nghệ mới đều có một đặc điểm chung: đó là tận dụng sức  
mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Tất cả những đổi mới được mô tả trong  
chương này được kích hoạt và được tăng cường nhờ sức mạnh kỹ thuật số. Ví dụ, việc giải  
mã trình tự gen không thể được thực hiện nếu thiếu tiến bộ trong sức mạnh tính toán và phân  
tích dữ liệu. Tương tự vậy, những con rô bốt cao cấp sẽ không tồn tại mà không có trí thông  
minh nhân tạo, mà trong đó, bản thân trí thông minh nhân tạo lại phần lớn phụ thuộc vào sức  
mạnh điện toán.  
Để xác định các xu thế lớn và truyền đạt cái nhìn bao quát về các yếu tố thúc đẩy công nghệ  
của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tôi đã chia danh sách các yếu tố thành ba nhóm:  
vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cả ba nhóm đều liên quan chặt chẽ với nhau và các công nghệ  
khác nhau đều hưởng lợi từ mỗi nhóm dựa trên những khám phá và tiến bộ mà các nhóm này  
tạo ra.  
2.1.1. Vật lý  
Có bốn đại diện vật lý chính của các xu hướng lớn về công nghệ, dễ dàng nhận thấy nhất do  
tính chất hữu hình của nó:  
- Xe tự lái  
- Công nghệ in 3D  
- Rô bốt cao cấp  
- Vật liệu mới  
Xe tự lái  
Chiếc xe hơi không người lái đang thống trị các bản tin nhưng hiện nay còn có nhiều phương  
tiện tự lái khác bao gồm xe tải, thiết bị bay không người lái, máy bay và tàu thuyền. Khi các  
công nghệ chẳng hạn như những cảm biến và trí tuệ nhân tạo phát triển, khả năng của tất cả  
10  
     
các phương tiện tự hành này cũng được cải thiện với tốc độ nhanh chóng. Nó chỉ là là một  
câu hỏi cách đây vài năm, trước khi mà thiết bị bay không người lái bắt đầu được thương  
mại hoá có sẵn trên thị trường và chi phí thấp, cùng với tàu ngầm, được sử dụng trong nhiều  
ứng dụng khác nhau.  
Khi những thiết bị bay không người lái có khả năng cảm nhận và phản ứng với môi trường  
(thay đổi định tuyến để tránh va chạm), nó có thể thực hiện những nhiệm vụ như kiểm tra  
đường dây tải điện hoặc cung cấp vật tư y tế trong vùng chiến tranh. Ví dụ, trong nông  
nghiệp, việc sử dụng thiết bị bay không người lái – kết hợp với phân tích dữ liệu – sẽ cho  
phép sử dụng phân bón và nước chính xác và hiệu quả hơn.  
Công nghệ in 3D  
Còn được gọi là công nghệ sản xuất đắp dần (additive manufacturing), công nghệ in 3D là  
việc tạo ra một đối tượng vật lý bằng cách in ra từng lớp từ một bản vẽ kỹ thuật số 3D hoặc  
một mô hình có trước. Công nghệ này khác hoàn toàn so với sản xuất cắt gọt vẫn thường  
được dùng để chế tạo từ trước tới nay, mà theo đó từng lớp sẽ được loại bỏ khỏi một khối vật  
liệu ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong muốn. Ngược lại, công nghệ in 3D bắt  
đầu với vật liệu rời và sau đó tạo nên một vật thể dưới dạng ba chiều từ một mẫu kỹ thuật số.  
Công nghệ này đang được sử dụng trong một loạt các ứng dụng, từ những ứng dụng với kích  
thước lớn (tua-bin gió) đến nhỏ (cấy ghép y học). Hiện nay, nó chủ yếu bị giới hạn trong các  
ngành công nghiệp chế tạo máy móc tự động, hàng không vũ trụ và y tế. Không giống như  
các loại hàng hóa được sản xuất hàng loạt, các sản phẩm in 3D có thể được tùy chỉnh dễ  
dàng. Khi mà những hạn chế hiện tại về kích thước, chi phí và tốc độ đang dần được khắc  
phục, công nghệ in 3D sẽ trở nên phổ biến hơn, áp dụng đổi với cả các thành phần điện tử  
tích hợp như bảng mạch in và thậm chí cả các tế bào và cơ quan của con người. Các nhà  
nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu về công nghệ 4D, một quá trình tạo ra một thế hệ mới các  
sản phẩm có khả năng tự biến chuyển để đáp ứng với những thay đổi môi trường như nhiệt  
độ và độ ẩm. Công nghệ này có thể được sử dụng trong sản xuất quần áo và giày dép, cũng  
như những sản phẩm liên quan đến sức khoẻ như các mô cấy được thiết kế để thích ứng với  
cơ thể con người.  
Rô bốt cao cấp  
Cho đến gần đây, việc sử dụng rô bốt vẫn bị hạn chế ở những nhiệm vụ được kiểm soát chặt  
chẽ trong một số ngành công nghiệp cụ thể như tự động hóa. Tuy nhiên, ngày nay rô bốt  
ngày càng được sử dụng nhiều hơn trên mọi lĩnh vực và cho một loạt các công việc từ nông  
nghiệp chính xác đến chăm sóc bệnh nhân. Tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ rô bốt sẽ  
sớm khiến sự hợp tác giữa con người và máy móc trở thành hiện thực. Hơn nữa, nhờ vào  
những tiến bộ công nghệ khác, rô bốt đang trở nên thích nghi và linh hoạt hơn, với thiết kế  
cấu trúc và chức năng của nó được lấy cảm hứng từ các cấu trúc sinh học phức tạp (sự mở  
11  
rộng của quá trình mô phỏng sinh học, trong đó mô hình và các đặc tính của tự nhiên được  
bắt chước lại).  
Những tiến bộ trong cảm biến cho phép rô bốt hiểu và phản ứng tốt hơn với môi trường và  
tham gia vào nhiều công việc hơn, ví dụ như làm việc nhà. Đối lập với quá khứ, khi mà rô  
bốt được lập trình thông qua một đơn vị độc lập, hiện nay rô bốt có thể tiếp cận với thông tin  
từ xa thông qua điện toán đám mây và từ đó có thể kết nối với một mạng lưới các rô bốt  
khác. Khi thế hệ tiếp theo của rô bốt xuất hiện, nó có thể sẽ phản ánh ngày càng rõ nét sự  
hợp tác giữa con người-máy móc. Ở Chương Ba, tôi sẽ trình bày những vấn đề đạo đức và  
tâm lý đặt ra bởi mối quan hệ con người-máy móc.  
Vật liệu mới  
Với những thuộc tính dường mà cách đây vài năm vẫn còn được coi là không thể tưởng  
tượng được, các vật liệu mới đang được giới thiệu trên thị trường. Về tổng thể, chúng nhẹ  
hơn, bền hơn, có thể tái chế và dễ thích ứng. Hiện nay có nhiều ứng dụng cho các vật liệu  
thông minh có khả năng tự phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại với bộ nhớ có thể khôi  
phục lại hình dạng ban đầu, gốm sứ và pha lê có khả năng biến áp lực thành năng lượng, và  
nhiều vật liệu khác nữa.  
Cũng như nhiều đổi mới của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, rất khó để biết vật liệu  
mới sẽ phát triển tới đâu. Lấy ví dụ là những vật liệu nano cao cấp như graphene, bền hơn  
khoảng 200 lần so với thép, mỏng hơn một triệu lần so với tóc của người, và là một dây dẫn  
nhiệt và điện hiệu quả.[6] Khi giá của graphene trở nên cạnh tranh hơn (so sánh với những  
vật liệu khác thì đây là một trong những vật liệu đắt nhất hành tinh, một mẫu với kích thước  
một micromet có giá hơn 1.000$), thì nó có thể gây xáo trộn đáng kể các ngành công nghiệp  
sản xuất và cơ sở hạ tầng.[7] Nó cũng có thể gây ảnh hưởng lớn đến các quốc gia phụ thuộc  
nhiều vào một mặt hàng cụ thể.  
Các vật liệu mới khác có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các rủi ro  
toàn cầu mà chúng ta phải đối mặt. Ví dụ, các cải tiến mới trong sản xuất nhựa nhiệt rắn1 có  
thể cho phép tái sử dụng những vật liệu tưởng như đã không thể tái chế vào mọi thứ, từ điện  
thoại di động và các bảng mạch in cho đến các bộ phận trong ngành công nghiệp hàng không  
vũ trụ. Những khám phá mới đây về các loại polyme nhiệt rắn có thể tái chế được, gọi là  
polyhexahydrotriazines (PHTs), là một bước tiến lớn hướng tới nền kinh tế tuần hoàn  
(circular economy), nền kinh tế được tái tạo theo ý muốn và hoạt động bằng cách tách tăng  
trưởng khỏi nhu cầu nguồn lực.[8]  
2.1.2. Kỹ thuật số  
1 Loại nhựa khi gia nhiệt đến một nhiệt độ nhất định bị rắn lại và có nâng nhiệt độ lên nữa cũng  
không nóng chảy  
12  
 
Một trong những cây cầu chính kết nối các ứng dụng vật lý và kỹ thuật số được tạo ra bởi  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là mạng lưới vạn vật kết nối Internet (IoT) – đôi khi  
được gọi là “Internet kết nối vạn vật”. Ở dạng đơn giản nhất, nó có thể được mô tả như một  
mối quan hệ giữa các sự vật (các sản phẩm, dịch vụ, địa điểm, v.v) và con người, thông qua  
các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau.  
Cảm biến và các giải pháp kết nối các sự vật của thế giới thực vào mạng không gian ảo đang  
phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc. Các cảm biến nhỏ hơn, rẻ hơn và thông minh hơn  
được cài đặt trong nhà, quần áo và phụ kiện, các thành phố, mạng lưới giao thông và năng  
lượng, cũng như các quy trình sản xuất. Ngày nay, có hàng tỉ các thiết bị trên thế giới như  
điện thoại thông minh, máy tính bảng và máy tính được kết nối với internet. Số lượng này dự  
kiến sẽ tăng đáng kể trong vài năm tới, ước tính từ vài tỷ đến hơn một nghìn tỷ thiết bị. Điều  
này sẽ thay đổi hoàn toàn cách thức chúng ta quản lý chuỗi cung ứng bằng cách cho phép  
chúng ta giám sát và tối ưu hóa tài sản và các hoạt động đến một mức độ rất chi tiết. Trong  
quá trình đó, mạng lưới vạn vật kết nối internet IoT sẽ có những tác động biến đổi trên tất cả  
các ngành công nghiệp, từ sản xuất đến cơ sở hạ tầng cho tới chăm sóc sức khỏe.  
Xem xét việc giám sát từ xa – một ứng dụng phổ biến của IoT. Bất kỳ một kiện, pa-lét hay  
container nào giờ đây cũng có thể được trang bị một thẻ cảm ứng, máy phát hoặc thiết bị  
nhận dạng tần số sóng vô tuyến (RFID) cho phép công ty có thể theo dõi nó đang di chuyển  
đến đâu trong chuỗi cung ứng – nó hoạt động như thế nào, được sử dụng như thế nào, vv.  
Tương tự, khách hàng có thể liên tục theo dõi (hầu như là ở thời gian thực) tiến độ của gói  
hàng hay tài liệu mà họ đang mong đợi. Đối với các công ty đang kinh doanh có chuỗi cung  
ứng dài và phức tạp, đây là sự đổi mới. Trong tương lai gần, những hệ thống giám sát tương  
tự cũng sẽ được áp dụng trong việc di chuyển và theo dõi con người.  
Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã tạo ra cách tiếp cận hoàn toàn mới, làm cách mạng hóa cách  
thức mà các cá nhân và tổ chức hoạt động và cộng tác. Ví dụ, công nghệ đầu mối phân phối  
(blockchain), thường được miêu tả như một “sổ cái phân phối”, là một giao thức an toàn mà  
tại đó, mạng lưới các máy tính cùng kiểm chứng một giao dịch trước khi nó được ghi chép  
và chấp nhận. Các công nghệ nền tảng của blockchain tạo niềm tin bằng cách cho phép  
những người không biết nhau (và do đó không có nền tảng cơ bản cho sự tin tưởng) cộng tác  
với nhau mà không cần phải qua một cơ quan trung ương trung lập nào – tức là người giám  
hộ hoặc sổ kế toán trung tâm. Về bản chất, blockchain là một sổ cái được chia sẻ, lập trình,  
mã hóa an toàn và do đó đáng tin cậy mà không bị kiểm soát chỉ bởi một người dùng đơn lẻ  
nào và có thể được kiểm tra bởi tất cả mọi người.  
Bitcoin cho đến nay là ứng dụng công nghệ blockchain được nhiều người biết đến nhất,  
nhưng công nghệ sẽ sớm làm phát sinh vô số những ứng dụng khác. Nếu tại thời điểm này,  
công nghệ blockchain ghi lại các giao dịch tài chính được thực hiện với loại tiền tệ ảo như  
Bitcoin, trong tương lai nó sẽ thực hiện chức năng như một cơ quan đăng kiểm cho mọi thứ  
như khai sinh và chứng tử, xác nhận chủ sở hữu, giấy đăng ký kết hôn, trình độ giáo dục,  
13  
khiếu nại bảo hiểm, thủ tục y tế và bàu cử – về cơ bản là bất kỳ loại giao dịch nào có thể  
được mã hóa. Một số quốc gia hay tổ chức đã nghiên cứu tiềm năng của blockchain. Ví dụ,  
chính phủ Honduras đang sử dụng công nghệ này để xử lý về quyền sử dụng đất, trong khi  
Đảo Man (Isle of Man) đang thử nghiệm sử dụng nó trong việc đăng ký công ty.  
Trên một quy mô rộng lớn hơn, các nền tảng công nghệ có tính kích hoạt đã tạo ra cái mà  
ngày nay gọi là nền kinh tế theo yêu cầu (một số người gọi là nền kinh tế chia sẻ). Những  
nền tảng dễ sử dụng trên điện thoại thông minh này có thể tập hợp người, tài sản và dữ liệu,  
tạo ra các cách thức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới. Nó giảm bớt các rào cản đổi  
với các doanh nghiệp và cá nhân trong việc tạo ra của cải, làm thay đổi môi trường cá nhân  
và làm việc.  
Mô hình Uber là biểu tượng cho sức mạnh đột phá của những nền tảng công nghệ này. Các  
hoạt động kinh doanh nền tảng này đã nhanh chóng được nhân rộng để tạo ra các dịch vụ  
mới từ giặt là đến mua sắm, từ những việc vặt cho đến đỗ xe, từ dịch vụ lưu trú tại các gia  
đình bản địa đến chia sẻ phương tiện di chuyển trong những chặng đường dài. Chúng có một  
điểm chung là: bằng cách kết nối cung và cầu theo một cách rất dễ tiếp cận (chi phí thấp),  
cung cấp cho người tiêu dùng các hàng hóa đa dạng, và cho phép cả hai bên tương tác và  
phản hồi, những nền tảng này do đó đã “gieo mầm” niềm tin. Nó cho phép sử dụng hiệu quả  
các tài sản vẫn chưa được tận dụng hết hiệu suất – tức là những gì thuộc quyền sở hữu của  
người mà trước đây chưa từng có ý niệm coi mình là bên cung (ví dụ chia sẻ một chỗ ngồi  
trong xe của họ, một phòng ngủ không dùng đến trong nhà của họ, một liên kết thương mại  
giữa các nhà bán lẻ và nhà sản xuất, hoặc thời gian và kỹ năng cung cấp một dịch vụ như  
giao hàng, sửa chữa nhà cửa hoặc các các công việc hành chính).  
Nền kinh tế theo yêu cầu đặt ra một câu hỏi cơ bản: Cái gì đáng để sở hữu – nền tảng hay tài  
sản cơ bản? Như chiến lược gia truyền thông Tom Goodwin đã viết trong một bài báo trên tờ  
TechCrunch vào tháng ba năm 2015: “Uber, công ty taxi lớn nhất thế giới, không sở hữu một  
cái ô tô nào. Facebook, chủ sở hữu phương tiện truyền thông phổ biến nhất thế giới, không  
tạo ra một nội dung nào. Alibaba, nhà bán lẻ có giá trị nhất, không có chút hàng tồn kho nào.  
Và Airbnb, nhà cung cấp nơi ăn nghỉ lớn nhất thế giới, không sở hữu bất cứ một bất động  
sản nào.”[9]  
Nền tảng kỹ thuật số đã giảm đáng kể các chi phí giao dịch và vận hành phát sinh khi các cá  
nhân hoặc tổ chức chia sẻ việc sử dụng một tài sản hoặc cung cấp một dịch vụ. Mỗi giao dịch  
giờ đây có thể được chia thành từng phần lợi tức rõ ràng, với lợi ích kinh tế cho mọi bên liên  
quan. Ngoài ra, khi sử dụng các nền tảng kỹ thuật số, chi phí cận biên của việc sản xuất thêm  
mỗi sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ có xu hướng về không. Điều này có hàm ý lớn đối với  
các doanh nghiệp và xã hội mà tôi sẽ trình bày tại Chương Ba.  
2.1.3. Sinh học  
14  
 
Những sáng kiến trong lĩnh vực sinh học – và đặc biệt trong lĩnh vực di truyền – đều vô cùng  
ngoạn mục. Trong những năm gần đây, chúng ta đã và đang đạt được những tiến bộ đáng kể  
trong việc giảm chi phí và ngày càng dễ dàng hơn trong giải mã trình tự gen, và gần đây, là  
việc kích hoạt hay chỉnh sửa gen. Phải mất hơn 10 năm, với chi phí 2,7 tỷ đô la, để hoàn  
thành Dự án Bộ Gen người. Ngày nay, một bộ gien có thể được giải mã chỉ trong vài giờ và  
chi phí không tới một ngàn đô la.[10] Với những tiến bộ trong sức mạnh máy tính, các nhà  
khoa học không còn phải giải mã bằng các phép thử đúng sai; thay vào đó, giờ đây, họ thử  
nghiệm cách thức các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù.  
Sinh học tổng hợp là bước tiếp theo. Nó sẽ giúp chúng ta có khả năng tùy biến cơ thể bằng  
cách viết lại ADN. Đặt những vấn đề sâu sắc về đạo đức sang một bên, những tiến bộ này sẽ  
không chỉ tạo ra tác động sâu rộng và tức thì tới y học mà còn tới nông nghiệp và sản xuất  
nhiên liệu sinh học.  
Nhiều căn bệnh khó chữa của chúng ta, từ bệnh tim cho đến ung thư, đều chứa đựng yếu tố  
di truyền. Do đó, khả năng xác định cấu trúc di truyền cá nhân một cách hiệu quả và với chi  
phí hợp lý (thông qua máy giải mã được sử dụng trong việc chẩn đoán bệnh thông thường) sẽ  
cách mạng hóa việc chăm sóc sức khỏe theo hướng cá nhân hoá. Khi biết về cấu trúc di  
truyền của khối u, các bác sĩ sẽ có thể đưa ra quyết định về việc điều trị ung thư cho bệnh  
nhân.  
Trong khi sự hiểu biết của chúng ta về mối liên hệ giữa các dấu hiệu di truyền và những căn  
bệnh vẫn còn nghèo nàn, lượng dữ liệu ngày càng tăng sẽ giúp lựa chọn chính xác các loại  
thuốc, cho phép phát triển các phương pháp điều trị nhằm mục tiêu chủ yếu để cải thiện kết  
quả điều trị. Hiện tại, hệ thống siêu máy tính Watson của IBM có thể giúp đưa ra khuyến  
nghị, chỉ trong vài phút, về các phương pháp điều trị cá nhân cho các bệnh nhân ung thư  
bằng cách so sánh lịch sử bệnh lý và quy trình điều trị, kết quả chụp cắt lớp và dữ liệu di  
truyền với (gần như) tất cả những kiến thức y học cập nhật trên toàn cầu.[11]  
Khả năng chỉnh sửa sinh học có thể được áp dụng cho bất kỳ một loại tế bào cụ thể nào, cho  
phép tạo ra các thực vật hoặc động vật biến đổi gen, cũng như thay đổi tế bào của các cá thể  
trưởng thành bao gồm cả con người. Điều này khác với kỹ thuật di truyền được thực hiện  
vào những năm 1980 ở chỗ là nó chính xác, hiệu quả và dễ dàng hơn so với các phương pháp  
trước đây. Trên thực tế, khoa học đang tiến triển nhanh đến mức những hạn chế về kỹ thuật  
hiện nay là ít hơn so với các vấn đề về pháp luật, quản lý và đạo đức. Danh sách các ứng  
dụng tiềm năng dường như là vô tận – từ khả năng làm biến đổi động vật để chúng có thể  
được nuôi với chế độ thức ăn kinh tế hơn và phù hợp hơn với điều kiện địa phương, đến việc  
tạo ra cây lương thực có khả năng chịu được khí hậu khắc nghiệt hoặc hạn hán.  
Nhờ sự tiến bộ của các nghiên cứu về kỹ thuật di truyền (ví dụ, sự phát triển của phương  
pháp CRISPR/Cas9 về chỉnh sửa và trị liệu gen), những hạn chế về sự cung cấp hiệu quả và  
tính đặc trưng của kiểu gen sẽ được khắc phục, để lại cho chúng ta một câu hỏi ngay trước  
mắt và cũng thách thức nhất, đặc biệt là từ quan điểm đạo đức: Việc chỉnh sửa gen sẽ cách  
15  
mạng hóa nghiên cứu y học và điều trị y tế như thế nào? Về nguyên tắc, cả thực vật và động  
vật đều có thể được bào chế để sản xuất các dược phẩm và các hình thức điều trị khác. Ngày  
mà loài bò được biến đổi để tạo ra chất đông máu trong sữa của nó, yếu tố mà các bệnh nhân  
máu khó đông bị thiếu, là không còn xa. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu thiết kế bộ gen của  
loài lợn với mục tiêu phát triển các cơ quan phù hợp với việc cấy ghép vào người (một quá  
trình được gọi là cấy ghép dị chủng, đến giờ vấn chưa thể được xem xét bởi nguy cơ đào thải  
miễn dịch của cơ thể người và nguy cơ lây truyền bệnh từ động vật sang người).  
Cùng với quan điểm trước đó về cách mà các công nghệ khác nhau phối hợp và tương trợ lẫn  
nhau, sản xuất 3D sẽ được kết hợp với chỉnh sửa gen để tạo ra các mô sống với mục đích sửa  
chữa và tái sinh mô – một quá trình gọi là in sinh học. Công nghệ này đã được sử dụng để tái  
tạo da, xương và các mô mạch. Cuối cùng, các lớp tế bào sống được in sẽ được sử dụng để  
tạo ra các cơ quan cấy ghép.  
Chúng ta đang phát triển những cách thức mới để cấy và sử dụng các thiết bị theo dõi mức  
độ hoạt động và đặc tính hóa học trong máu của chúng ta, và theo dõi cách mà tất cả những  
điều này có ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần và năng suất làm việc tại nhà và ở nơi làm  
việc. Chúng ta cũng đang tìm hiểu thêm về cách bộ não con người hoạt động và chúng ta  
cũng đang chứng kiến sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực công nghệ thần kinh. Điều  
này được nhấn mạnh bởi thực tế rằng – trong vài năm qua – hai trong số các chương trình  
nghiên cứu được tài trợ lớn nhất trên thế giới là về khoa học não bộ.  
Lĩnh vực sinh học là nơi tôi thấy những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của cả các  
chuẩn mực xã hội và các quy định phù hợp. Chúng ta đang đối mặt với những câu hỏi mới về  
việc là con người có ý nghĩa thế nào, dữ liệu và thông tin nào về cơ thể và sức khỏe của  
chúng ta có thể hoặc nên được chia sẻ với những người khác, và những quyền lợi và trách  
nhiệm nào mà chúng ta có khi thay đổi mã di truyền của các thế hệ tương lai.  
Trở lại với vấn đề chỉnh sửa di truyền, mà hiện nay được thực hiện dễ hơn với việc xác định  
bộ gen người ngay trong phôi sống, có nghĩa là chúng ta có thể thấy sự ra đời của các em bé  
“được thiết kế” trong tương lai – những em bé sở hữu những nét đặc thù hoặc có khả năng  
kháng một loại bệnh cụ thể. Không cần phải nói, các cuộc tranh luận về cơ hội và thách thức  
của những khả năng này đang diễn ra. Đáng chú ý, vào tháng 12 năm 2015, Viện Hàn lâm  
Khoa học Quốc gia và Học viện Y khoa Quốc gia của Mỹ, Viện Khoa học Trung Quốc và  
Hội Hoàng gia Anh đã triệu tập một Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về chỉnh sửa gen người.  
Dù có các cuộc thảo luận như vậy, chúng ta vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với thực tế và hậu  
quả của những kỹ thuật di truyền mới nhất này, cho dù nó đang dần xuất hiện. Những thách  
thức về xã hội, y tế, đạo đức và tâm lý mà nó đặt ra là rất lớn và cần phải được giải quyết,  
hoặc ít nhất, là phải được đề cập đến một cách thích đáng.  
Những động lực của khám phá  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 91 trang Thùy Anh 19660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_cach_mang_cong_nghiep_lan_thu_tu.pdf