Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mạng định nghĩa bằng phần mềm trong hệ thống IoT gateway cỡ nhỏ và linh hoạt

Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
Nghiên Cứu Ứng Dụng Công Nghệ Mạng Định  
Nghĩa Bằng Phần Mềm Trong Hệ Thống IoT  
Gateway Cỡ Nhỏ và Linh Hoạt  
Nguyễn Đức Hiếu, Phí Đức Nguyên Phương và Lê Hải Châu*  
Khoa Viễn Thông I,  
Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông  
Abstract— Sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và  
loại hình thiết bị thông minh kết nối Internet đã và đang  
đặt ra nhiều yêu cầu ngày càng đa dạng và khắt khe về  
tính linh hoạt, tính hiệu quả, tính khả dụng, khả năng  
bảo mật và khả năng mở rộng trong các hệ thống mạng  
IoT. Nhằm khắc phục các giới hạn của mạng truyền  
thống trong việc đáp ứng các yêu cầu trên, công nghệ  
mạng định nghĩa bằng phần mềm đang nổi lên là một  
trong các giải pháp hứa hẹn nhờ khả năng ảo hoá và  
cung cấp tài tài nguyên mạng linh hoạt và hiệu quả.  
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu và ứng dụng  
công nghệ mạng định nghĩa bằng phần mềm cùng các  
giải pháp phần cứng linh hoạt, hiệu quả về giá thành để  
xây dựng thành công thiết bị IoT gateway định nghĩa  
bằng phần mềm có khả năng đảm bảo QoS đa dạng.  
Thiết bị IoT gateway được trang bị 4 cổng Etherenet 100  
Mbps được phát triển dựa trên nền tảng máy tính đa  
dụng như Raspberry pi 3 kết hợp với các giải pháp phần  
mềm mã nguồn mở nhằm giảm thiểu chi phí và giá thành  
vận hành bảo dưỡng. Nhờ ứng dụng công nghệ SDN,  
thiết bị IoT gateway được xây dựng cũng có khả năng hỗ  
trợ linh hoạt các chức năng mạng đa dạng và nâng cao  
như định tuyến, đảm bảo QoS hay ảo hoá tài nguyên.  
Các kết quả khảo sát và đánh giá bằng thực nghiệm về  
hiệu năng của thiết bị IoT gateway cho thấy tính hiệu  
quả và khả năng đảm bảo chất lượng dịch vụ đa dạng,  
linh hoạt.  
nguyên mạng thành dạng khả lập trình, điều khiển  
mạng tự động với độ linh hoạt cao và khả năng nâng  
cấp hiệu quả theo mọi nhu cầu kinh doanh của các nhà  
khai thác viễn thông [3, 4]. Trong mạng SDN, chức  
năng điều khiển mạng thông minh được triển khai dựa  
vào các thành phần phần mềm (là các mô-đun tính  
năng của bộ điều khiển SDN) trong khi chức năng của  
các thiết bị kết nối mạng thì được thay bằng chức năng  
chuyển tiếp dữ liệu đơn giản dựa vào bảng chuyển tiếp  
luồng. Nhiều giải pháp thiết bị định nghĩa bằng phần  
mềm với tính năng linh hoạt, khả lập trình, triển khai  
dịch vụ nhanh chóng và giá thành hiệu quả đang được  
các hãng cung cấp thiết bị và các đơn vị cung cấp giải  
pháp mạng trên thế giới tập trung đầu tư nghiên cứu và  
phát triển [4]. Ở Việt nam, công nghệ SDN đang bắt  
đầu được tìm hiểu, nghiên cứu và phát triển trong một  
số trường Đại học và nghiên cứu ứng dụng trong trung  
tâm dữ liệu của một số doanh nghiệp.  
Bên cạnh đó, Internet vạn vật (IoT) cũng đã và  
đang phát triển với tốc độ ngày càng cao cả về loại  
hình thiết bị, công nghệ kết nối mạng cũng như về các  
yêu cầu đối với băng thông, độ trễ, và các tham số thể  
hiện chất lượng của kết nối [5-8]. Hạ tầng truyền thông  
đang được tích cực cải tiến và nâng cao, hướng đến các  
kiến trúc và thiết bị mạng mới nhằm cung cấp khả năng  
hỗ trợ kết nối cho hàng tỉ thiết bị với các yêu cầu đa  
dạng về băng thông, chất lượng dịch vụ và đặc tính  
khác nhau [9-10]. Các thiết bị mạng trong IoT cũng cần  
phải đảm bảo linh hoạt trong triển khai và hiệu quả về  
giá thành trong khi hỗ trợ được các dịch vụ IoT đa tạp  
với dải rộng nhu cầu về chất lượng dịch. Trong khi đó,  
công nghệ mạng truyền thống dựa trên nền tảng IP  
đang cho thấy nhiều bất cập và tỏ ra khó có khả năng  
đáp ứng được các yêu cầu mới từ các ứng dụng và dịch  
vụ IoT. Với hạn chế về tài nguyên, thiết bị trong mạng  
truyền thống được lập trình sẵn với tập các thủ tục, quy  
tắc phức tạp khác nhau và không thể sửa đổi linh hoạt  
theo thời gian thực cũng như không khả lập trình thích  
ứng với sự thay đổi nhu cầu sử dụng. Do vậy, nhờ tính  
năng ưu việt của SDN, hướng tiếp cận ứng dụng công  
nghệ này trong hạ tầng thông tin truyền thông IoT (gọi  
tắt là công nghệ SD-IoT) đang thu hút được nhiều sự  
quan tâm, đầu tư nghiên cứu trên thế giới [8-10]. Trên  
Keywords- IoT, mạng định nghĩa bằng phần mềm,  
QoS, hiệu năng.  
I.  
GIỚI THIỆU  
Hiện nay, việc ứng dụng và triển khai công nghệ  
mạng định nghĩa bằng phần mềm (SDN) đang dần trở  
thành xu hướng phát triển tất yếu trong hầu hết các  
mạng truyền thông từ mạng lõi cho đến mạng biên và  
các mạng người dùng hoặc mạng riêng khác nhằm khắc  
phục những yếu điểm của kiến trúc mạng truyền thống  
trong việc đáp ứng nhu cầu băng thông ngày càng cao  
và khắt khe của người dùng và của các loại hình dịch  
vụ mới [1, 2]. Công nghệ SDN cung cấp khả năng trừu  
tượng hóa các phân lớp mạng và ảo hóa tài nguyên dựa  
trên việc tách biệt giữa mặt phẳng điều khiển với thiết  
bị chuyển tiếp thông tin (vật lý), qua đó, chuyển đổi tài  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
114  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
thực tế, một số nghiên cứu phát triển sản phẩm SDN  
kích thước nhỏ đã được đề xuất cho IoT trong đó hầu  
hết chỉ tập trung chính vào một số triển khai phần cứng  
với một vài chức năng đơn giản như là kiến tạo lại các  
chức năng của các phần tử mạng truyền thông trên thiết  
bị SDN hay các chức năng định tuyến [11-16].  
cứng đa dụng và các công cụ phần mềm mã nguồn mở  
(như thể hiện trên Hình 1 và 2).  
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu và xây  
dựng thử nghiệm hệ thống IoT gateway cỡ nhỏ có khả  
năng đảm bảo QoS đa dạng trên cơ sở ứng dụng công  
nghệ mạng định nghĩa bằng phần mềm kết hợp với các  
giải pháp phần cứng đa dụng và phần mềm mã nguồn  
mở linh hoạt, hiệu quả về giá thành. Thiết bị IoT  
gateway mẫu (prototype) tương thích với giao thức  
Openflow 1.3 trở lên, hỗ trợ đa dạng chuẩn kết nối, bao  
gồm cổng USB, cổng nối tiếp, WiFi, Bluetooth và 4  
cổng Ethernet 100 Mbps. Hệ thống này được phát triển  
trên nền tảng máy tính đa dụng như Raspberry pi 3 kết  
hợp với các giải pháp phần mềm mã nguồn mở như  
OpenWrt và OpenvSwitch nhằm giảm thiểu chi phí và  
giá thành. Nhờ vào công nghệ SDN và các phần mềm  
mã nguồn mở, thiết bị này có thể triển khai thành các  
thiết bị mạng với chức năng đa dạng bằng phần mềm  
cài đặt trong bộ điều khiển. Chúng tôi cũng phát triển  
các tính năng đảm bảo QoS cho các loại hình dữ liệu  
tiêu biểu trong mạng như tốc độ cao, băng thông cố  
định hay best-effort. Cuối cùng, hiệu năng của thiết bị  
IoT gateway mẫu cùng khả năng đảm bảo chất lượng  
dịch vụ đa dạng, linh hoạt của nó được khảo sát và  
đánh giá bằng các kết quả thực nghiệm.  
Hình 1. Thiết kế phần cứng thiết bị IoT gateway  
Hình 2. Mô hình kiến trúc chức năng thiết bị IoT gateway  
II. GIẢI PHÁP IOT GATEWAY ĐỊNH NGHĨA  
BẰNG PHẦN MỀM HỖ TRỢ ĐẢM BẢO QOS ĐA  
DẠNG  
Nhờ vào công nghệ SDN và các phần mềm mã  
nguồn mở, thiết bị này có thể triển khai thành các thiết  
bị mạng với chức năng đa dạng bằng phần mềm cài  
đặt trong bộ điều khiển. Nhằm đáp ứng các yêu cầu  
thiết bị IoT cơ bản, các yêu cầu thiết kế đặt ra cho thiết  
bị bao gồm:  
Những khảo sát và phân tích yêu cầu đối với thiết  
bị IoT cho thấy có nhiều khác biệt cơ bản giữa thiết bị  
mạng IoT và các thiết bị mạng thông thường. Trong  
khi các thiết bị mạng thông thường cần có tốc độ giao  
diện cao, dung lượng lớn và khá ổn định thì các thiết  
bị mạng IoT thường không yêu cầu dung lượng lớn (số  
lượng cổng/giao diện không cần nhiều, tốc độ không  
quá cao) nhưng lại đòi hỏi phải đáp ứng tính hỗn tạp  
của lưu lượng phục vụ (nhiều loại hình lưu lượng), số  
lượng các loại lưu lượng thấp thường chiếm đa số, và  
phải linh hoạt và mềm dẻo trong triển khai (đáp ứng sự  
thay đổi nhanh về cấu hình, loại hình lưu lượng cần hỗ  
trợ, dung lượng hệ thống, …). Thậm chí, các loại hình  
giao diện trên thiết bị mạng IoT cũng có thể được yêu  
cầu thay đổi để có thể thích ứng với việc triển khai các  
dịch vụ mới. Bên cạnh đó, giá thành thiết bị cũng là  
vấn đề có độ ưu tiên cao. Do vậy, với mục tiêu thiết kế  
và xây dựng một thiết bị IoT gateway kích thước nhỏ  
(với 4 cổng Ethernet 100 Mbps, hỗ trợ các kết nối  
chuẩn như Bluetooth, WiFi, USB, …), tính năng linh  
hoạt và mềm dẻo với giá thành phải chăng để có thể áp  
dụng được trong các hệ thống IoT, chúng tôi đã phát  
triển mẫu thiết bị IoT gateway dựa trên nền tảng phần  
✓
Hỗ trợ kết nối theo các giao diện chuẩn (Ethernet,  
USB, WiFi và Bluetooth): Giao diện kết nối cần  
đơn giản, phổ biến để có thể dễ dàng kết nối và  
tương thích với các hệ thống IoT hiện tại.  
✓
✓
Dung lượng nhỏ: Số lượng cổng kết nối nhỏ trong  
khi vẫn đảm bảo hệ thống có thể đáp ứng tốt dải  
rộng các loại hình mạng và dịch vụ IoT.  
Hỗ trợ giao thức OpenFlow: Hệ thống cần hỗ trợ  
được các giao thức Openflow, đặc biệt là giao  
thức OpenFlow version 1.3 (giao thức SDN phổ  
biến nhất hiện nay).  
✓
✓
Hỗ trợ khả năng ảo hóa chức năng mạng (NFV):  
Hệ thống cần cho phép một số kỹ thuật ảo hóa  
chức năng mạng đơn giản như chia lát băng thông  
(bandwidth slicing), …  
Hỗ trợ điều khiển lưu lượng linh hoạt, mềm dẻo:  
Hệ thống cần hỗ trợ khả năng điều khiển lưu  
lượng linh hoạt theo từng loại hình lưu lượng khác  
nhau không chỉ trên các kết nối vật lý khác nhau  
mà còn cả trong cùng một kết nối vật lý.  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
115  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
✓
✓
Có khả năng mở rộng: Hệ thống được thiết kế sẽ  
vẫn phải có khả năng hỗ trợ thêm được các kết nối  
khác cũng như mở rộng thêm dung lượng.  
Giá thành phải chăng: Hệ thống cần có tổng chi  
phí thực hiện vừa phải, trong khi lại dễ thực hiện  
trong điều kiện hiện tại ở Việt nam.  
khiển theo giao thức OpenFlow được trao đổi qua hệ  
thống bus nội bộ của thiết bị. Trong khuôn khổ bài báo  
này, chúng tôi sẽ chỉ tập trung thử nghiệm hai tính  
năng cơ bản đó là việc chuyển mạch thông tin theo  
luồng theo cơ chế SDN và điều khiển các loại hình lưu  
lượng theo băng thông đã cắt lắt (ảo hóa chức năng  
mạng) theo các lớp chất lượng dịch vụ định trước.  
Để đạt được hiệu quả về chi phí, khả năng mở rộng  
Cơ chế thực hiện điều khiển chất lượng dịch vụ  
trong SDN theo luồng sử dụng hàng đợi cũng được  
minh họa trên Hình 4 [20]. Chức năng cốt lõi trước tiên  
là việc lấy gói tin đến từ một cổng và sau đó, chuyển  
nó qua một cổng khác nhờ việc xử lý và thực hiện các  
thay đổi nội dung thông tin điều khiển gói tin cần thiết  
trên đường đi. Quá trình xử lý luồng thông tin đầu vào  
được thực hiện theo phương pháp so khớp gói tin đầu  
tiên của luồng nhờ thông tin cập nhật trong bảng luồng  
(Flow Table). Nếu thông tin về luồng thông tin đến  
chưa có sẵn trong bảng luồng, bản tin điều khiển  
OpenFlow sẽ được tạo ra để gửi đến bộ điều khiển  
SDN. Trên cơ sở các thông tin nhận được, bộ điều  
khiển SDN sẽ xác định quy tắc và cập nhật thông tin xử  
lý tương ứng cho luồng vào này theo thuật toán và  
phần mềm cài sẵn vào bảng luồng. Sau đó, toàn bộ gói  
dữ liệu của luồng thông tin đầu vào sẽ được xử lý theo  
thông tin của bảng luồng đã được cập nhật mà không  
cần sự can thiệp tiếp theo của bộ điều khiển SDN.  
và khả năng cung cấp QoS đối với hệ thống IoT  
gateway định nghĩa bằng phần mềm, chúng tôi đề xuất  
và sử dụng nền tảng máy tính đa dụng cỡ nhỏ, cụ thể  
như Raspberry pi [17] và sử dụng phần mềm hỗ trợ mã  
nguồn mở bao gồm hệ điều hành quản trị tài nguyên  
phần cứng (Raspbian/Debian) [18], phần mềm quản trị  
mạng và tính năng kết nối (ví dụ OpenWrt, …) và các  
phần mềm hỗ trợ IoT như Kura, … cũng như bộ phần  
mềm thực hiện tính năng SDN (như OpenvSwitch [19]  
và bộ điều khiển Ryu, …) để định nghĩa phần mạng lớp  
dưới cho các ứng dụng nằm ở lớp trên, giúp chuyển đổi  
tài nguyên mạng thành khả lập trình, có thể cấp phát và  
điều khiển tự động bằng phần mềm. Các bộ chuyển đổi  
USB sang Ethernet 100 Mbps cũng được sử dụng để  
cung cấp đủ 4 cổng Ethernet cho hệ thống. Hình 3  
minh hoạ mẫu thiết bị IoT gateway được phát triển.  
Hình 4. Nguyên lý điều khiển luồng dữ liệu trong hệ thống  
IoT gateway định nghĩa bằng phần mềm  
Hình 3. Mẫu thiết bị IoT gateway  
Với sự hỗ trợ của bộ điều khiển SDN, mặt phẳng  
điều khiển trong mạng SDN được tách biệt và có khả  
năng biên dịch các yêu cầu từ tầng ứng dụng cũng như  
cung cấp cho tầng ứng dụng tài nguyên mạng trừu  
tượng và ảo hóa. Do vậy, trạng thái mạng có thể được  
cập nhật và tổng hợp, ví dụ thông qua các gói tin  
chuyển qua bộ điều khiển, và có thể gồm nhiều loại dữ  
liệu khác nhau (cả các sự kiện hoặc các dữ liệu thống  
kê). Với các thông tin này, các chính sách điều khiển  
và các thỏa thuận mức dịch vụ (SLA) có thể được đặc  
tả bởi người quản trị ở mức trừu tượng cao hơn và  
thậm chí có thể hiệu chỉ động linh hoạt. Các kỹ thuật  
đảm bảo chất lượng có thể được phân thành hai loại  
Ngoài ra, các phần mềm tính năng và điều khiển  
mềm cơ bản cho hệ thống thiết bị IoT gateway thông  
qua giao thức OpenFlow cũng được phát triển dựa trên  
ngôn ngữ Python. Các phần mềm này có thể hoạt động  
ở chế độ từ xa hoặc tại chỗ. Trong chế độ từ xa, các  
phần mềm này được cài đặt trên hệ thống điều khiển  
SDN đặt trên một hệ thống máy tính/thiết bị khác và  
điều khiển thiết bị chuyển mạch SDN thông qua một  
kênh kết nối tin cậy được thiết lập giữa hai thiết bị theo  
giao thức OpenFlow. Còn trong chế độ tại chỗ, hệ  
thống điều khiển SDN được cài đặt trên cùng thiết bị  
vật lý của thiết bị chuyển mạch, khi đó, thông tin điều  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
116  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
như sau: kỹ thuật có trước công nghệ SDN và kỹ thuật  
dựa trên công nghệ SDN. Đối với các kỹ thuật đảm bảo  
QoS truyền thống (chưa xem xét đến công nghệ SDN)  
cũng bao gồm hai loại chính đã được chuẩn hóa là:  
IntServ và DiffServ. Ngược lại với các kỹ thuật đảm  
bảo chất lượng dịch vụ truyền thống, các kỹ thuật đảm  
bảo QoS dựa trên SDN có khả năng khắc phục hoàn  
toàn các hạn chế nêu trên. Thông qua việc trừu tượng  
mức cao hơn nhờ bộ điều khiển, người ta có thể đặc tả  
các chính sách mà không cần phải cấu hình lại các thiết  
lập ở mức thấp cho mỗi thiết bị chuyển tiếp dữ liệu.  
Tập các chính sách này và kể cả các lớp lưu lượng khác  
nhau cũng không bị giới hạn và cho phép tinh chỉnh  
dựa theo nhu cầu của người dùng. Do vậy, các quy  
định, chính sách có thể được định nghĩa theo từng  
luồng (nếu cần thiết) và bộ điều khiển có nhiệm vụ áp  
dụng chúng một cách hiệu quả vào các phần tử mạng  
khác nhau.  
III. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ  
HIỆU NĂNG HỆ THỐNG IOT GATEWAY  
Dựa trên các kết quả thu được ở trên, để kiểm thử  
nghiệm khả năng quản lý QoS trong hạ tầng thông tin  
IoT của mẫu thiết bị IoT định nghĩa bằng phần mềm,  
chúng tôi đã giả lập mô hình mạng truyền thông trong  
nhà thông minh đơn giản với hai loại hình lưu lượng  
khác nhau bao gồm: 1) lưu lượng được đảm bảo tốc độ  
tối thiểu (ký hiệu là QoS-guaranteed) và 2) lưu lượng  
best-effort thông thường (ký hiệu là non-QoS). Hình 6  
thể hiện mô hình kết nối hệ thống thử nghiệm. Trong  
hệ thống thử nghiệm này, thiết bị mẫu IoT gateway  
định nghĩa bằng phần mềm (SD-IoT gateway) được sử  
dụng như là thiết bị biên trong mạng SDN với yêu cầu  
giám sát các loại hình lưu lượng đề cập ở trên, trong  
đó, tổng lưu lượng kết nối nhà thông minh giới hạn là  
10 Mbps, lưu lượng băng thông giới hạn dưới có băng  
thông tối thiểu là 4 Mbps.  
Theo cách tiếp cận này, việc cung cấp QoS cũng có  
thể được thực hiện theo một trong hai khía cạnh đó là  
đảm bảo QoS cho luồng dữ liệu khách hàng/doanh  
nghiệp hay cho mỗi luồng ứng dụng cụ thể. Phương  
pháp này gần giống như dự trữ tài nguyên trong đó,  
mỗi luồng được gán một phần dung lượng truyền dẫn.  
Bên cạnh đó còn có kỹ thuật định tuyến động theo  
luồng cũng được đề xuất để không gán trực tiếp tài  
nguyên cho mỗi luồng hoặc kỹ thuật dựa vào việc xếp  
hàng vào hàng đợi và tuân thủ chính sách. Trong khuôn  
khổ bài báo này, chúng tôi áp dụng kỹ thuật này để  
phát triển và thử nghiệm tính năng đảm bảo QoS trong  
hệ thống. Các thuật toán áp dụng cho việc xử lý gói tin  
đưa vào và đưa ra khỏi hàng đợi theo các mức QoS  
được thể hiện trong Hình 5.  
Hình 6. Mô hình thử nghiệm hạ tầng thông tin đảm bảo QoS  
sử dụng mẫu thiết bị IoT gateway định nghĩa bằng phần mềm  
Hình 7 thể hiện kết quả xác nhận thiết lập và cấu  
hình hệ thống thành công cho thiết bị SD-IoT gateway.  
Thông tin trên các cổng kết nối thể hiện rằng hệ thống  
được trang bị 04 cổng Ethernet, trong đó có 01 cổng  
gốc được trang bị sẵn trên hệ thống phần cứng  
Raspberry pi và 03 cổng bổ sung khác, được điều khiển  
thông qua giao thức OpenFlow 1.3 và có trạng thái  
hoạt động bình thường.  
Hình 5. Thuật toán xử lý luồng lưu lượng theo QoS  
Hình 7. Kiểm tra cấu hình cổng kết nối trên thiết bị  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
117  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
Hình 8 thể hiện sự so sánh về hiệu năng của hệ  
thống SD-IoT gateway trong việc hỗ trợ đảm bảo chất  
lượng dịch vụ theo xác suất tỉ lệ mất gói tin khi lưu  
lượng đưa vào hệ thống tăng dần. Các kết quả thể hiện  
trên đồ thị là kết quả trung bình sau 10 lần chạy với độ  
dài mỗi kịch bản chạy là 240 ms. Kết quả cho thấy, lưu  
lượng dịch vụ được đảm bảo QoS (QoS-guaranteed) bị  
mất gói tin ít hơn nhiều so với dịch vụ không được đảm  
bảo (non-QoS). Lý do là vì cơ chế thiết lập ưu tiên cho  
các luồng gói tin thuộc loại hình dịch vụ đảm bảo QoS  
được áp dụng bởi bộ điều khiển SDN cho hệ thống khi  
xử lý các luồng tin đầu vào. Điều này cũng cho thấy  
khả năng “mềm hoá” để triển khai nhanh và linh hoạt  
các cơ chế đảm bảo QoS đa dạng đối với nhiều loại  
hình dịch vụ khác nhau của hệ thống SD-IoT.  
cả hệ thống đạt mức tối ưu và ổn định với xác suất mất  
gói xấp xỉ bằng 0. Sau giá trị này, việc tăng kích thước  
hàng đợi không đem lại hiệu quả đáng kể.  
IV. KẾT LUẬN  
Trong bài báo này, chúng tôi giới thiệu mẫu thiết bị  
IoT gateway được phát triển thành công dựa trên sự kết  
hợp giữa nền tảng máy tính nhỏ đa dụng có chi phí hợp  
lý và các phần mềm mã nguồn mở như hệ điều hành,  
bộ giao thức IoT, các thành phần hệ thống SDN  
(OpenvSwitch và bộ điều khiển Ryu), ... Nhờ việc tận  
dụng các lợi thế của công nghệ SDN, phần mềm mã  
nguồn mở và nền tảng máy tính cỡ nhỏ giá thành phù  
hợp, hệ thống SD-IoT gateway được phát triển có chi  
phí hợp lý đồng thời có khả năng hoạt động linh hoạt,  
hỗ trợ đầy đủ các chức năng mạng nâng cao. Hệ thống  
đáp ứng các yêu cầu đối với các loại hình dịch vụ IoT,  
có khả năng mở rộng và khả năng cung cấp QoS đa  
dạng và linh hoạt. Thiết bị này cũng có khả năng tương  
thích với giao thức OpenFlow 1.3 trở lên, hỗ trợ chuẩn  
kết nối phong phú như 4 cổng Ethernet 100 Mbps,  
USB, cổng nối tiếp, WiFi hay Bluetooth. Hiệu năng  
của hệ thống trong việc đảm bảo QoS cũng được khảo  
sát và đánh giá thông qua các thử nghiệm trong hệ  
thống IoT cơ bản.  
Trong giai đoạn tiếp theo của nghiên cứu, chúng tôi  
sẽ mở rộng hơn nữa các tính năng của hệ thống, thử  
nghiệm đa dạng giao thức IoT hơn và phát triển các  
giao thức thời gian thực nâng cao, mang tính hiệu quả  
dựa trên hệ thống IoT.  
Hình 8. Xác suất mất gói đối với các loại hình lưu lượng khác  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
nhau  
[1] Hu, Fei, Qi Hao, and Ke Bao, "A survey on software-defined  
network and openflow: From concept to implementation, "  
IEEE Communications Surveys & Tutorials, vol. 16, no. 4, pp.  
2181-2206, 2014.  
[2] Andreas, Arsanasty Ba, Martin Reisslein, and Wolfgang  
Kellerer, “Survey on network virtualization hypervisors for  
software defined networking,” IEEE Communications Surveys  
& Tutorials, vol. 18, no. 1, pp. 655-685, 2016.  
[3] Omnes, Nathalie, Marc Bouillon, Gael Fromentoux, and  
Olivier Le Grand, "A programmable and virtualized network  
& IT infrastructure for the internet of things: How can NFV &  
SDN help for facing the upcoming challenges," 18th  
International Conference on Intelligence in Next Generation  
Networks (ICIN), pp. 64-69, 2015.  
[4] Diego Kreutz, Fernando M.V. Ramos, Paulo Esteves  
Verıssimo,  
Christian  
Esteve  
Rothenberg,  
Siamak  
Azodolmolky, and Steve Uhlig, “Software-defined  
networking: A comprehensive survey,” Proceedings of the  
IEEE, vol. 103, no. 1, pp. 14-76, 2015.  
Hình 9. Ảnh hưởng của dung lượng bộ đệm hàng đợi  
[5] Vermesan Ovidiu, and Peter Friess, “Internet of things-from  
research and innovation to market deployment,” Vol. 29,  
Aalborg: River Publishers, 2014.  
Ngoài ra, để làm rõ hơn ảnh hưởng của các tham số  
hệ thống phần cứng/mềm đến hiệu năng của giải pháp  
đảm bảo QoS trong hệ thống, sự phụ thuộc của hiệu  
năng hệ thống vào một trong các tham số đặc tính quan  
trọng của thiết bị là kích thước bộ đệm hàng đợi đầu ra.  
Kết quả thử nghiệm đo trên hệ thống được thể hiện trên  
Hình 9. Tỉ lệ mất gói sẽ giảm nhanh chóng khi dung  
lượng hàng đợi được tăng lên. Khi dung lượng hàng  
đợi đạt giá trị nhất định (ví dụ, 2.5 MB), hiệu năng của  
[6] Wollschlaeger Martin, Thilo Sauter, and Juergen Jasperneite,  
“The future of industrial communication: Automation  
networks in the era of the internet of things and industry 4.0,”  
IEEE Industrial Electronics Magazine, vol. 11, no. 1, pp. 17-  
27, 2017.  
[7] Alasdair Gilchrist, “Industry 4.0: The Industrial Internet of  
Things,” Apress, 2016.  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
118  
Hội nghị Quốc gia lần thứ 23 về Điện tử, Truyền thông và Công nghệ Thông tin (REV-ECIT2020)  
[8] Samaresh Bera, Sudip Misra, and Athanasios V. Vasilakos,  
“Software-Defined Networking for Internet of Things: A  
Survey,” IEEE Internet of Things Journal, vol. 4, no. 6, pp.  
1994-2008, 2017.  
Networking Switch Using Raspberry Pi,” Next-Generation  
Networks, pp. 147-152. Springer, Singapore, 2018.  
[14] A. Ishimori et al., “Control of Multiple Packet Schedulers for  
Improving QoS on OpenFlow/SDN Networking,” EWSDN,  
Berlin, 10-11 Oct, 2013.  
[9] Jararweh, Yaser, Mahmoud Al-Ayyoub, Elhadj Benkhelifa,  
Mladen Vouk, and Andy Rindos, "SDIoT: a software defined  
based internet of things framework," Journal of Ambient  
Intelligence and Humanized Computing, vol. 6, no. 4, pp. 453-  
461, 2015.  
[15] S. Sharma, D. Staessens, D. Colle, and D. Palma,  
“Implementing Quality of Service for the Software Defined  
Networking Enabled Future Internet”, EWSDN, Budapest, 1-3  
Sep, 2014.  
[10] Bizanis, Nikos, and Fernando A. Kuipers, "SDN and  
virtualization solutions for the Internet of Things: A survey,"  
IEEE Access, vol. 4, pp. 5591-5606, 2016.  
[16] Quang Huy Nguyen, Ngoc Ha Do and Hai Chau Le,  
“Development of a QoS Provisioning Capable Cost-Effective  
SDN-based Switch for IoT Communication,” ATC 2018, pp.  
220-225, 2018.  
[11] Kim, Hyunmin, Jaebeom Kim, and Young-Bae Ko.  
"Developing a cost-effective OpenFlow testbed for small-scale  
Software Defined Networking," IEEE 16th International  
Conference on Advanced Communication Technology  
(ICACT), pp. 758-761, 2014.  
[17] John C. Shovic, “Raspberry pi IoT projects,” Apress, 2016.  
[20] Mirchev, A., “Survey of Concepts for QoS improvements via  
SDN,” Future Internet (FI) and Innovative Internet  
Technologies and Mobile Communications (IITM), 33, p.1,  
2015.  
[12] Austin, Ron, Peter Bull, and Shaun Buffery, "A Raspberry Pi  
Based Scalable Software Defined Network Infrastructure for  
Disaster Relief Communication," IEEE 5th International  
Conference on Future Internet of Things and Cloud (FiCloud),  
pp. 265-271, 2017.  
[13] Vipin Gupta, Karamjeet Kaur and Sukhveer Kaur,  
“Developing Small Size Low-Cost Software-Defined  
ISBN: 978-604-80-5076-4  
119  
pdf 6 trang Thùy Anh 20420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mạng định nghĩa bằng phần mềm trong hệ thống IoT gateway cỡ nhỏ và linh hoạt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_dung_cong_nghe_mang_dinh_nghia_bang_phan_mem.pdf