Nâng cao hiệu quả phát hiện xâm nhập mạng bằng huấn luyện DSD
Huỳnh Trọng Thưa, Nguyễn Hoàng Thành
NÂ NG CAO HIỆU QUẢ PHÁ T HIỆN XÂ M
NHẬP MẠNG BẰNG HUẤN LUYỆN DSD
Huỳnh Trọng Thưa*, Nguyễn Hoàng Thành*
*Học viện Cô ng nghệ Bưu chính Viễn thông Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
để cải thiện phát hiện xâm nhập.
Tóm tắt: Hầu hết các mô hình phát hiện xâm nhập
hiện đại đều ứng dụng học máy để cho ra kết quả
phát hiện và phân loại tấn công xâm nhập với độ
chính xác cao. Nghiên cứu này đề xuất mô hình kết
hợp mạng nơ-ron nhiều lớp với huấn luyện nhiều giai
đoạn DSD để cải tiến đồng thời các tiêu chí liên quan
đến hiệu quả thực thi của các hệ thống phát hiện xâm
nhập trên tập dữ liệu UNSW‑NB15, là tập được cập
nhật thường xuyên các đặc trưng dữ liệu với nhiều
hình thức tấn công mới. Chúng tôi tiến hành thực
nghiệm trên 3 mô hình mạng nơ-ron RNN, LSTM, và
GRU để đánh giá hiệu quả kết hợp với từng mô hình
thông qua nhiều tiêu chí như độ chính xác, tỷ lệ phát
hiện, tỷ lệ cảnh báo giả, Precision và F1-Score.
Hiệu quả của các IDS được đánh giá dựa trên hiệu
suất thực thi của chúng trong việc xác định các cuộc tấn
công. Điều này đòi hỏi một tập dữ liệu hoàn chỉnh với
đầy đủ các hành vi bình thường và bất thường. Các tập
dữ liệu chuẩn trước đây như KDDCUP 99 [1] và
NSLKDD [2] đã được áp dụng rộng rãi để đánh giá khả
năng thực thi của các IDS. Mặc dù hiệu quả của các tập
dữ liệu này đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu
trước đó, việc đánh giá IDS bằng cách sử dụng các tập dữ
liệu này không phản ánh đúng hiệu suất đầu ra thực tế do
một vài lý do. Lý do đầu tiên là tập dữ liệu KDDCUP 99
chứa một số lượng lớn các bản ghi dư thừa trong tập huấn
luyện. Các bản ghi dư thừa ảnh hưởng đến kết quả của
các độ lệch bias trong phát hiện xâm nhập đối với các bản
ghi thường xuyên. Thứ hai, nhiều bản ghi bị thiếu là một
yếu tố thay đổi bản chất của dữ liệu. Thứ ba, tập dữ liệu
NSLKDD là phiên bản cải tiến của KDDCUP 99, nó giải
quyết một số vấn đề như mất cân bằng dữ liệu giữa các
bản ghi bình thường và bất thường cũng như các giá trị bị
thiếu [3].Tuy nhiên, tập dữ liệu này không phải là đại
diện toàn diện cho môi trường tấn công thực tế hiện đại.
Tập dữ liệu chuẩn UNSW‑NB15 [4] được tạo ra nhằm
giải quyết các hạn chế của các tập dữ liệu trước đó, đặc
biệt là cập nhật thường xuyên các đặc trưng dữ liệu và
bám sát các hình thức tấn công mới.
Từ khóa: an ninh mạng, học máy, học sâu, IDS,
mạng nơ-ron.
I. GIỚI THIỆU
Hệ thống phát hiện xâm nhập (Intrusion Detection
System - IDS) là hệ thống giám sát lưu thông mạng, có
khả năng nhận biết những hoạt động khả nghi hay những
hành động xâm nhập trái phép trên hệ thống mạng trong
tiến trình tấn công, từ đó cung cấp thông tin nhận biết và
đưa ra cảnh báo cho hệ thống và nhà quản trị. Sự phát
triển của mã độc (malware) đặt ra một thách thức quan
trọng đối với việc thiết kế các hệ thống phát hiện xâm
nhập (IDS). Các cuộc tấn công bằng mã độc đã trở nên
tinh vi và nhiều thách thức hơn. Những kẻ tạo ra mã độc
có khả năng sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để che giấu
hành vi và ngăn chặn sự phát hiện của IDS, từ đó chúng
dễ dàng lấy cắp dữ liệu quan trọng cũng như phá hoại hoạt
động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ của nhiều
cá nhân tổ chức.
Đã có nhiều phương pháp học máy và mô hình mạng
nơ-ron áp dụng vào phát hiện xâm nhập mạng như RNN,
LSTM, GRU. Việc chọn mô hình phù hợp với bộ dữ liệu
UNSW-NB15 để cải thiện kết quả đánh giá cũng là vấn
đề đang được quan tâm [5]. Bên cạnh đó, một trong
những nghiên cứu gần đây để cải tiến chất lượng huấn
luyện [6], mô hình huấn luyện DSD (Dense Sparse
Dense) đã được áp dụng hiệu quả vào một số bài toán xử
lý hình ảnh, nhận dạng giọng nói. Trong nghiên cứu này,
chúng tôi tập trung vào việc đánh giá hiệu quả phát hiện
xâm nhập mạng dựa trên các mô hình mạng nơ-ron sâu
như RNN, LSTM, GRU bằng cách đề xuất mô hình kết
hợp phương pháp huấn luyện DSD vào từng mô hình
mạng nơ-ron này để cải tiến hiệu quả thực thi cho các hệ
thống phát hiện xâm nhập mạng.
IDS hoạt động theo ba phương thức chính gồm
Signature-base,
Abnormaly-base,
và
Stateful
Protocol1Analysis. Signature-base IDS so sánh các dấu
hiệu của đối tượng quan sát với các dấu hiệu của các mối
nguy hại đã biết. Abnormaly-base IDS so sánh định nghĩa
của những hoạt động bình thường và đối tượng quan sát
nhằm xác định các độ lệch để đưa ra cảnh báo. Stateful
Protocol Analysis IDS so sánh các profile định trước về
hoạt động của mỗi giao thức được coi là bình thường với
đối tượng quan sát từ đó xác định độ lệch. Ngoại trừ
phương thức Signature-base, hai phương thức còn lại rất
cần phải học để nhận biết các dấu hiệu bất thường. Vì
vậy mà trong vài thập kỷ qua, học máy đã được sử dụng
Bài viết này có 6 phần, các phần còn lại được trình
bày như sau. Phần II trình bày các nghiên cứu liên quan
gồm mô hình học sâu và phương pháp huấn luyện DSD.
Phần III trình bày mô hình kết hợp đề xuất. Phần IV và V
trình bày thực nghiệm, kết quả và đánh giá các mô hình
đề xuất. Phần VI sẽ kết luận cho nghiên cứu này.
Tác giả liên hệ: Huỳnh Trọng Thưa,
Email: htthua@ptithcm.edu.vn
II. CÁ C NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Đến tòa soạn: 08/2020, chỉnh sửa: 10/2020, chấp nhận đăng: 10/2020.
Trong phần này, chúng tôi trình bày các mô hình học
sâu liên quan và phương pháp huấn luyện DSD.
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
54
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT HIỆN XÂM NHẬP MẠNG BẰNG HUẤN LUYỆN DSD
ghi thông qua các cổng mở hoặc đóng, và mỗi khối bộ
A. Mạng nơ-ron hồi quy – Recurrent Neural Network
nhớ tương ứng với một thời điểm cụ thể. Các cổng truyền
thông tin dựa trên một tập các trọng số. Một số trọng số,
như trạng thái đầu vào và ẩn, được điều chỉnh trong quá
trình học. Các phương trình từ (3) đến (8) dùng để biểu
diễn mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra tại thời điểm t
trong kiến trúc khối LSTM:
(RNN)
RNN [7] là một phần mở rộng của mạng nơ-ron
chuyển tiếp thẳng, được thiết kế để nhận dạng các mẫu
trong chuỗi dữ liệu. Các mạng nơ-ron được gọi là hồi quy
vì chúng thực hiện cùng một nhiệm vụ cho mọi thành
phần của chuỗi với đầu ra phụ thuộc vào các tính toán
trước đó [8].
(3)
[
푓
]
푓 = 휎(푊 ℎ푡−1, 푥푡 + 푏푓)
푡
(
[
]
)
푖푡 = 휎 푊 ℎ푡−1, 푥푡 + 푏푖
(4)
(5)
푖
[
]
푗푡 = 휔(푊 ℎ푡−1, 푥푡 + 푏 )
푗
푗
푐푡 = 푓 × 푐푡−1 + 푖푡 × 푗푡
(6)
(7)
푡
[
]
푧푡 = 휎(푊 ℎ푡−1, 푥푡 + 푏 )
푗
푗
( )
ℎ푡 = 푧푡 × 휔 푐푡
(8)
Hì nh 1. Kiến trúc RNN đơn giản
Trong đó σ và tương ứng là hàm kích hoạt sigmoid
và tanh, xt là một vectơ đầu vào tại thời điểm t, ht là vectơ
đầu ra ở thời điểm t, W và b lần lượt là là ma trận trọng
số và hệ số bias, ft là hàm quên dùng để lọc bỏ các thông
tin không cần thiết, it và jt dùng để chèn thông tin mới
vào ô nhớ, zt xuất ra thông tin liên quan.
Có thể xem RNN là một cách để chia sẻ trọng số theo
thời gian, như được minh họa trong Hình 1. Các phương
trình (1) và (2) sau dùng để tính toán trạng thái ℎ푡và đầu
ra ẩn 푂푡 theo RNN:
(
)
ℎ푡 = 휎 푊 ℎ푡−1 + 푈푥푡 + 푏푡
(1)
(2)
푖
C. Mạng Gated Recurrent Unit (GRU)
(
)
푂푡 = 휏 푊 ℎ푡
표
GRU là một biến thể của LSTM được giới thiệu bởi
K.Cho [8]. GRU về cơ bản là LSTM không có cổng đầu
ra, do đó nó ghi tất cả nội dung từ bộ nhớ vào mạng lớn
hơn ở từng thời điểm. Tuy nhiên nó được tinh chỉnh bằng
cách sử dụng một cổng cập nhật được bổ sung vào trong
cấu trúc khối GRU. Cổng cập nhật là sự kết hợp giữa
cổng đầu vào và cổng quên. Mô hình GRU được đề xuất
để đơn giản hóa kiến trúc của mô hình LSTM. Cấu trúc
của GRU được thể hiện trong Hình 3 và các phương trình
từ (9) đến (12) thể hiện mối quan hệ giữa đầu vào và kết
quả dự đoán.
Trong đó σ và tương ứng là hàm kích hoạt sigmoid
và softmax, xt là một vectơ đầu vào tại thời điểm t, ht là
vectơ trạng thái ẩn ở thời điểm t, Wi là ma trận trọng số
đầu vào, U là ma trận trọng số giữa các lớp ẩn, Wo là ma
trận trọng số đầu ra và bt là hệ số bias.
Mô hình RNN có một nhược điểm lớn, đó là tại mỗi
thời điểm trong quá trình huấn luyện, các trọng số tương
tự nhau được sử dụng để tính toán đầu ra 푂푡, điều này
khiến cho kết quả tạo ra không còn chính xác. Mô hình
Long Short-Term Memory (LSTM) và Gated Recurrent
Unit (GRU) đã được đề xuất để giải quyết vấn đề này.
B. Mạng Long Short-Term Memory (LSTM)
Mạng bộ nhớ dài-ngắn LSTM (Long Short Term
Memory) [7] là một biến thể của mạng nơ-ron hồi quy
được đề xuất như một trong những kỹ thuật máy học để
giải quyết nhiều vấn đề dữ liệu tuần tự. LSTM giúp duy
trì lỗi có thể lan truyền ngược qua các lớp theo thời gian.
LSTM được dùng để tăng độ chính xác của kết quả đàu
ra, cũng như làm cho RNN trở nên hữu ích hơn dựa trên
các tác vụ bộ nhớ dài hạn. Kiến trúc LSTM như được
minh họa trong Hình 2, bao gồm bốn thành phần chính;
cổng đầu vào (i), cổng quên (f), cổng đầu ra (o) và ô nhớ
(c).
Hì nh 3. Kiến trúc lõ i của khối GRU [7]
(
[
]
)
푣푡 = 휎 푊 표푡−1, 푥푡 + 푥푡
(9)
(10)
(11)
(12)
푣
(
[
])
푠푡 = 휎 푊 표푡−1, 푥푡
푣
(
[
])
표′푡 = 휔 푊 푠푡 × 표푡−1, 푥푡
푣
(
)
표푡 = 1 − 푣푡 × 표푡−1 + 푣푡 × 표′푡
Trong đó không gian đặc trưng (đầu vào) được đại
diện bởi x và dự đoán được đại diện bởi ot, vt là hàm cập
nhật. W là trọng số được tối ưu hóa trong quá trình huấn
luyện. σ và tương ứng là hàm kích hoạt sigmoid và
tanh để giữ cho thông tin đi qua GRU trong một phạm vi
cụ thể.
D. Mô hình huấn luyện Dense Sparse Dense (DSD)
Hì nh 2. Kiến trúc lõ i của khối LSTM [7]
Các mô hình nơ-ron nhiều lớp phức tạp cho kết quả
tốt và có thể thu được các quan hệ phi tuyến cao giữa các
Khối LSTM đưa ra quyết định về việc lưu trữ, đọc và
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
55
Huỳnh Trọng Thưa, Nguyễn Hoàng Thành
mô tả trong các Bảng I, II và III.
dữ liệu đặc trưng và đầu ra. Nhược điểm của các mô hình
lớn này là chúng dễ bị nhiễu trong tập dữ liệu huấn luyện.
Việc này dẫn đến tình trạng quá khớp (over-fitting) [9] và
phương sai cao (high variance) [11].
Bảng I. Cấu hì nh của mô hình RNN đề xuất
Lớp (Kiểu)
Dạng đầu ra
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, 128)
# tham số
rnn_1 (SimpleRNN)
drop_out_1 (Dropout)
rnn_2 (SimpleRNN)
drop_out_2 (Dropout)
rnn_3 (SimpleRNN)
drop_out_3 (Dropout)
rnn_4 (SimpleRNN)
drop_out_4 (Dropout)
dense_1 (Dense)
21.888
0
32.896
0
32.896
0
Hì nh 4. Kiến trúc RNN/LSTM/GRU gốc với 4 lớp ẩn
Bảng II. Cấu hì nh của mô hình LSTM đề xuất
32.896
0
Lớp (Kiểu)
lstm_1 (LSTM)
Dạng đầu ra
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, 128)
# tham số
(None, 128)
87.552
(None, 1)
129
0
drop_out_1 (Dropout)
lstm_2 (LSTM)
0
activation_1(Activatio
n)
(None, 1)
131.584
Tổng số tham số
120.705
drop_out_2 (Dropout)
lstm_3 (LSTM)
0
Tuy nhiên, nếu đưa mô hình trở về dạng ít phức tạp sẽ
khiến hệ thống máy học có thể bỏ lỡ các quan hệ liên
quan giữa các đặc trưng và đầu ra, dẫn đến vấn đề under-
fitting [9] và bias cao (high bias) [10]. Đây là vấn đề vô
cùng thách thức vì độ lệch bias và phương sai rất khó để
tối ưu hóa cùng một lúc.
131.584
drop_out_3 (Dropout)
lstm_4 (LSTM)
0
131.584
0
drop_out_4 (Dropout)
dense_1 (Dense)
(None, 128)
(None, 1)
129
Trong nghiên cứu [6], Song và các đồng sự giới thiệu
DSD, một mô hình huấn luyện “dày đặc – thưa thớt – dày
đặc” bằng cách lựa chọn các kết nối để loại bỏ và phục
hồi các kết nối khác sau đó. Nhóm tác giả đã thử nghiệm
mô hình DSD của mình với GoogLeNet, VGGNet và
ResNet trên tập dữ liệu ImageNet, NeuralTalk BLEU trên
tập dữ liệu Flickr-8K, và DeepSpeech-1&2 trên tập dữ
liệu WSJ’93. Kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình
huấn luyện DSD đã mang lại hiệu quả đáng kể trên các
tập dữ liệu xử lý ảnh và nhận dạng giọng nói được áp
dụng trên các mạng rơ-ron sâu.
activation_1(Activation)
(None, 1)
0
Tổng số tham số
482.433
Huấn luyện thưa thớt chuẩn hóa mô hình và huấn
luyện dày đặc sau cùng khôi phục các trọng số đã được
cắt tỉa (màu đỏ), giúp tăng hiệu suất mô hình mà không bị
overfitting. Ngoài ra, để đánh giá đúng hiệu quả của việc
kết hợp, chúng tôi áp dụng kỹ thuật Cross Validation [11]
cho từng mô hình trên tập dữ liệu UNSW-NB15.
Bảng III. Cấu hì nh của mô hình GRU đề xuất
III. MÔ HÌ NH MẠNG NƠ-RON KẾT HỢP
Lớp (Kiểu)
Dạng đầu ra
# tham
số
Nhận thấy rằng các mạng nơ-ron hồi quy
(RNN/LSTM/GRU) có thể học hiệu quả để tạo ra các
quan hệ phi tuyến cao giữa các đặc trưng đầu vào và đầu
ra, nghiên cứu này đề xuất một mô hình kết hợp
RNN/LSTM/GRU với phương pháp huấn luyện 3 giai
đoạn DSD để nâng cao hiệu quả phát hiện xâm nhập
mạng. Chúng tôi đặt số lượng nơ-ron của tất cả các lớp
ẩn là 128. Mô hình đề xuất gồm:
gru_1 (GRU)
drop_out_1 (Dropout)
gru_2 (GRU)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, None, 128)
(None, 128)
65.644
0
98.688
0
drop_out_2 (Dropout)
gru_3 (GRU)
-
Mô hình mạng nơ-ron RNN/LSTM/GRU gốc 4
lớp ẩn được thể hiện trong Hình 4;
98.688
0
drop_out_3 (Dropout)
gru_4 (GRU)
-
Mô hình huấn luyện lai DSD-RNN/DSD-
LSTM/DSD-GRU sử dụng một quá trình ba giai
đoạn: dày đặc (Dense - D), thưa thớt (Sparse - S),
tái dày đặc (reDense - D) được áp dụng trên mô
hình mạng nơ-ron gốc 4 lớp ẩn. Các giai đoạn
được minh họa trong Hình 5;
98.688
0
drop_out_4 (Dropout)
dense_1 (Dense)
(None, 128)
(None, 1)
129
activation_1(Activation)
(None, 1)
0
Tổng số tham số
361.857
Cấu hình đề nghị của các mô hình tương ứng được
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
56
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT HIỆN XÂM NHẬP MẠNG BẰNG HUẤN LUYỆN DSD
trong 100 kết nối theo lần gần đây nhất; ct_src_dport_ltm
IV. THỰC NGHIỆM
A. Mô tả tập dữ liệu
là số kết nối có cùng địa chỉ nguồn và cổng đích trong
100 kết nối theo lần cuối cùng; ct_dst_sport_ltm là là số
kết nối có cùng địa chỉ đích và cổng nguồn trong 100 kết
nối theo lần cuối cùng; is_ftp_login cho biết nếu phiên ftp
được truy cập bởi người dùng và mật khẩu thì nhận vào
giá trị 1, ngược lại thì nhận giá trị 0; ct_ftp_cmd là số
luồng có lệnh trong phiên ftp; ct_flw_http_mthd là số
luồng có các phương thức như Get và Post trong dịch vụ
http; ct_src_ltm là số kết nối có cùng địa chỉ nguồn trong
100 kết nối theo lần gần đây nhất; ct_srv_dst là số lượng
kết nối có cùng dịch vụ và địa chỉ đích trong 100 kết nối
theo lần gần đây nhất; attack_cat là tên của từng loại tấn
công. Trong dữ liệu này, tập hợp chín loại; label nhận giá
trị 0 cho bình thường và 1 cho các bản ghi tấn công.
Để đánh giá được hiệu quả của các IDS cần có một bộ
dữ liệu xâm nhập chuẩn. Các bộ dữ liệu này rất quan
trọng để thử nghiệm và đánh giá các phương pháp phát
hiện xâm nhập. Chất lượng của dữ liệu thu thập ảnh
hưởng đến hiệu quả của các kỹ thuật phát hiện bất
thường. Một trong số tập dữ liệu chuẩn được dùng rộng
rãi là KDD Cup 1999 [1] và NLS-KDD [2]. Tuy nhiên,
chúng vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Tập dữ liệu
chuẩn UNSW-NB15 [4] được tạo ra nhằm giải quyết các
thách thức trên. Các gói mạng thô của tập dữ liệu
UNSW-NB15 được tạo bởi công cụ IXIA PerfectStorm
trong Phòng thí nghiệm Cyber Range của Trung tâm An
ninh mạng Úc (ACCS) để tạo ra một hỗn hợp các hoạt
động bình thường thực sự và các hành vi tấn công tổng
hợp hiện đại. Tập dữ liệu đầy đủ chứa tổng cộng
2.540.044 bản ghi.
Bảng IV. Mô tả đặc trưng tập dữ liệu rút gọn UNSWNB-15
#
Đặc
Kiểu
#
Đặc
Kiểu
trưng
trưng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
dur
proto
service
state
float
23
dtcpb
dwin
integer
integer
float
nominal 24
nominal 25
nominal 26
tcprtt
synack
ackdat
smean
float
Hì nh 5. Mô hì nh huấn luyện lai DSD-RNN/DSD-LSTM
/DSD-GRU với 3 giai đoạn
spkts
dpkts
sbytes
dbytes
rate
integer
integer
integer
integer
float
27
28
29
30
float
integer
integer
integer
integer
Tập dữ liệu được rút gọn được mô tả trong Bảng IV
chỉ có 44 đặc trưng kèm theo nhãn phân lớp, loại bỏ 6
đặc trưng (dstip, srcip, sport, dsport, Ltime và Stime)
khỏi tập dữ liệu đầy đủ.
dmean
trans_depth
31 response_bod
y_len
Trong Bảng IV, dur là thông tin về tổng thời gian;
proto là giao thức; service là là loại dịch vụ (http, ftp,
smtp, ssh,...); state biểu thị trạng thái giao thức; spkts là
số gói từ nguồn đến đích; dpkts là số gói từ đích đến
nguồn; sbytes là số byte từ nguồn tới đích; dbytes là số
bytes từ đích đến nguồn; sttl là giá trị TTL từ nguồn tới
đích; dttl là giá trị TTL từ đích tới nguồn; sload là số bit
nguồn; dload là số bit đích; sloss là các gói nguồn được
truyền lại hoặc bị loại bỏ; dloss là các gói đích được
truyền lại hoặc bị loại bỏ (mili giây); sinpkt là thời gian
đến giữa các gói nguồn (mili giây); dinpkt là thời gian
đến giữa các gói đích; sjit là jitter nguồn (mili giây); djit
là jitter đích (mili giây); swin là giá trị của kích thước
TCP quảng bá nguồn; stcpb là số thứ tự của TCP nguồn;
is_sm_ips_ports cho biết nếu địa chỉ IP nguồn và đích
bằng nhau và số cổng nguồn và đích bằng nhau thì biến
này nhận giá trị 1 ngược lại biến này nhận giá trị 0; dtcpb
là số thứ tự của TCP đích; dwin là giá trị của kích thước
TCP quảng bá đích; tcprtt là thời gian khứ hồi thiết lập
kết nối TCP, là tổng của synack và ackdat; synack là thời
gian thiết lập kết nối TCP giữa gói SYN và SYN_ACK;
ackdat là thời gian thiết lập kết nối TCP, là thời gian giữa
SYN_ACK và các gói ACK; smean là giá trị trung bình
kích thước gói luồng được truyền bởi src; dmean là giá trị
trung bình kích thước gói luồng được truyền bởi dst;
trans_depth đại diện cho chiều sâu liên kết trong kết nối
của giao dịch yêu cầu/phản hồi http; response_body_len
là kích thước nội dung thực tế không nén của dữ liệu
được truyền từ dịch vụ http máy chủ; ct_srv_src là số
lượng kết nối chứa cùng một dịch vụ và địa chỉ nguồn
trong 100 kết nối gần đây nhất; ct_state_ttl là số cho mỗi
trạng thái theo phạm vi giá trị cụ thể cho TTL
nguồn/đích; ct_dst_ltm là số kết nối có cùng địa chỉ đích
10
11
12
13
sttl
dttl
integer
integer
float
32
33
34
ct_srv_src
ct_state_ttl
ct_dst_ltm
integer
integer
integer
integer
sload
dload
float
35 ct_src_dport_l
tm
14
sloss
integer
36 ct_dst_sport_l
tm
integer
15
16
17
18
dloss
sinpkt
dinpkt
sjit
integer
float
37 ct_dst_src_ltm
integer
binary
integer
integer
38
39
is_ftp_login
ct_ftp_cmd
float
float
40 ct_flw_http_m
thd
19
20
21
djit
float
41
42
43
44
ct_src_ltm
ct_srv_dst
attack_cat
label
integer
integer
nonimal
binary
Swin
stcpb
integer
integer
binary
22 is_sm_i
ps_ports
Một phần của tập dữ liệu đầy đủ được chia thành tập
huấn luyện và tập kiểm thử, cụ thể là
UNSW_NB15_training-set.csv và UNSW_NB15_testing-
set.csv. Tập dữ liệu huấn luyện bao gồm 175.341 bản ghi
trong khi tập dữ liệu kiểm thử chứa 82.332 bản ghi. Số
lượng đặc trưng trong tập dữ liệu rút gọn khác với số
lượng đặc trưng trong tập dữ liệu đầy đủ.
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
57
Huỳnh Trọng Thưa, Nguyễn Hoàng Thành
3) Các phương pháp đánh giá
B. Tiền xử lý dữ liệu
Chúng tôi sử dụng 5 metric phổ biến để đánh giá hiệu
suất phát hiện xâm nhập bao gồm độ chính xác
(Accuracy), tỷ lệ phát hiện (Detection Rate), Precision, tỷ
lệ cảnh báo giả (False Alarm Rate) và F1-score. Bảng VI
thể hiện ma trận nhầm lẫn bao gồm dương tính thật (TP),
âm tính thật (TN), dương tính giả (FP) và âm tính giả
(FN). TP và TN chỉ ra rằng trạng thái bị tấn công và trạng
thái bình thường được phân loại chính xác. FP chỉ ra rằng
một bản ghi bình thường được dự đoán không chính xác,
nghĩa là IDS cảnh báo một cuộc tấn công không đúng
thực tế. FN chỉ ra rằng một bản ghi tấn công được phân
loại không chính xác, nghĩa là IDS không cảnh báo gì mà
ghi nhận đây vẫn là bản ghi bình thường.
1) Chuyển đổi đặc trưng nominal thành dạng số
Quá trình chuyển đổi đặc trưng nominal thành dạng
số còn gọi là Numericalization. Trong bộ dữ liệu rút gọn
UNSW-NB15 có 40 đặc trưng dạng numeric và 4 đặc
trưng nominal. Vì giá trị đầu vào của RNN, LSTM, GRU
phải là một ma trận số nên chúng tôi phải chuyển đổi một
số đặc trưng nominal, chẳng hạn như các đặc trưng
"proto", "service" và "state" thành dạng số. Chúng tôi
chuyển các bộ số này bằng thư viện scikit-sklearn
LabelEncoder [12]. Chẳng hạn, đặc trưng proto trong tập
dữ liệu có các giá trị không trùng gồm tcp, udp, rdp thì sẽ
được mã hóa nhãn tương ứng thành số 1, 2, 3.
Tập dữ liệu rút gọn chứa 10 loại, một loại là normal
và 9 loại tấn công gồm: generic, exploits, fuzzers, DoS,
reconnaissance, analysis, backdoor, shellcode và worms.
Bảng V cho thấy chi tiết phân loại lớp của tập dữ liệu rút
gọn UNSW-NB15.
Bảng VI. Ma trận nhầm lẫn
Dự đoán -
Tấn công
Dự đoán -
Bình thường
Thực tế - Tấn công
TP
FP
FN
TN
2) Chuẩn hóa dữ liệu Min-Max
Thực tế - Bình thường
Chuẩn hóa là một kỹ thuật chia tỷ lệ trong đó các giá
trị được dịch chuyển và định cỡ lại sao cho chúng kết
thúc trong khoảng từ 0 đến 1. Chuẩn hóa đòi hỏi chúng ta
phải biết hoặc có thể ước tính chính xác các giá trị tối
thiểu và tối đa có thể quan sát được.
Độ chính xác (Accuracy) – là mức độ gần của các
phép đo với một giá trị cụ thể, thể hiện số lượng các
trường hợp dữ liệu được phân loại chính xác trên tổng số
dự đoán. Độ chính xác có thể không phải là thước đo tốt
nếu tập dữ liệu không được cân bằng (cả hai lớp âm và
dương có số lượng dữ liệu khác nhau). Công thức tính độ
chính xác được định nghĩa trong công thức (14).
Do phạm vi giá trị của dữ liệu thô rất rộng và khác
nhau, trong một số thuật toán học máy, các hàm mục tiêu
sẽ không hoạt động đúng nếu không được chuẩn hóa.
Một lý do khác cho việc chuẩn hóa đặc trưng được áp
dụng là độ chính xác dự đoán sẽ tăng lên so với không có
chuẩn hóa [13].
푇푃 + 푇푁
(14)
퐴푐푐푢푟푎푐푦 =
푇푃 + 푇푁 + 퐹푃 + 퐹푁
Tỷ lệ cảnh báo giả (False Alarm Rate - FAR) - còn
được gọi là False Positive Rate (tỷ lệ dương tính giả).
Thước đo này được tính theo công thức (15). Tỷ lệ lý
tưởng cho thước đo này càng thấp càng tốt, tức là số phân
loại nhầm một phân loại bình thường sang dự đoán tấn
công (FP) càng thấp càng tốt.
Bảng V. Phâ n loại tấn cô ng trong tập dữ liệu rút gọn
UNSW-NB15
Phân loại
Tập dữ liệu huấn
luyện
Tập dữ liệu
kiểm thử
UNSW_NB_trai
ning-set
UNSW_NB_tes
ting-set
퐹푃
(15)
퐹퐴푅 =
퐹푃 + 푇푁
Normal
Generic
56.000
40.000
33.393
18.184
12.264
10.491
2.000
37.000
18.871
11.132
6.062
4.089
3.496
677
Độ chính xác phép đo (Precision) – là mức độ gần
của các phép đo, có giá trị gần với 1 khi kết quả là một
tập phân loại tốt. Precision là 1 chỉ khi tử số và mẫu số
bằng nhau (TP = TP + FP), điều này cũng có nghĩa là FP
bằng 0. Khi FP tăng giá trị dẫn đến mẫu số lớn hơn tử số
và giá trị chính xác giảm. Công thức tính Precision được
định nghĩa trong công thức (16).
Exploits
Fuzzers
DoS
Reconnaissance
Analysis
Backdoor
Shellcode
Worms
푇푃
(16)
푃푟푒푐푖푠푖표푛 =
푇푃 + 퐹푃
1.746
583
Tỷ lệ phát hiện (Detection Rate – DR hay Recall) –
Giá trị DR càng gần với 1 sẽ cho một phân loại tốt. DR là
1 chỉ khi tử số và mẫu số bằng nhau (TP = TP + FN),
điều này cũng có nghĩa là FN bằng 0. Khi FN tăng giá trị
dẫn đến mẫu số lớn hơn tử số và giá trị DR giảm. Chỉ số
này nhằm đánh giá mức độ tổng quát hóa mô hình tìm
được và được xác định theo công thức (17).
1.133
378
130
44
Tổng cộng
175.341
82.332
Trong thực nghiệm này, chúng tôi sử dụng chuẩn hóa
Min-Max được cho bởi phương trình (13):
푇푃
(17)
퐷푒푡푒푐푡푖표푛 푅푎푡푒 =
푇푃 + 퐹푁
( )
푥 − 푚푖푛 푥
푥′ =
(13)
Chúng ta luôn mong muốn cả Precision và DR đều
tốt, nghĩa là một trong hai giá trị FP và FN phải gần bằng
( )
( )
푚푎푥 푥 − 푚푖푛 푥
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
58
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT HIỆN XÂM NHẬP MẠNG BẰNG HUẤN LUYỆN DSD
0 càng tốt. Do đó, chúng ta cần một tham số đo có tính
đến cả Precision và DR, đó chính là F1-Score, được xác
định theo công thức (18).
Các trường hợp trên đều được huấn luyện với Cross
validation [11]. Kết quả đánh giá được trình bày trong
Bảng VII (trường hợp 1) và Bảng VIII (trường hợp 2).
F1-Score được gọi là một trung bình điều hòa
(harmonic mean) của các tiêu chí Precision và DR. Nó có
xu hướng lấy giá trị gần với giá trị nào nhỏ hơn giữa 2
giá trị Precision và DR và đồng thời nó có giá trị lớn nếu
cả 2 giá trị Precision và DR đều lớn. Chính vì thế F1-
Score thể hiện được một cách khách quan hơn hiệu quả
của một mô hình học máy. So với độ chính xác
(Accuracy), F1-Score phù hợp hơn để đánh giá hiệu suất
phát hiện của các mẫu dữ liệu không cân bằng.
Bảng VII. Đánh giá Mô hình RNN, LSTM, GRU trên bộ dữ
liệu rút gọn UNSW-NB15
FAR% Acc% Prec% DR%
F1-S%
86.78
86.85
86.19
RNN
LSTM
GRU
34.17
33.37
34.22
83.54
83.70
82.90
77.87
78.23
77.67
98.01
97.95
96.88
(
)
2 푃푟푒푐푖푠푖표푛 × 퐷푅
Kết quả thực nghiệm ba mô hình RNN, LSTM và
GRU như trong Bảng VII cho thấy mô hình mạng nơ-ron
LSTM có kết quả tốt nhất với Accuracy, Precision, F1
Score có chỉ số cao nhất, tỷ lệ dương tính giả FAR thấp
nhất, chỉ có thông số DR là thấp hơn RNN không đáng
kể. Mô hình cho kết quả xấu nhất trong thực nghiệm là
mô hình mạng nơ-ron GRU với tất cả các thông số
Accuracy, Precision, F1 Score đều có kết quả thấp nhất
và tỷ lệ dương tính giả FAR cao.
(18)
퐹1 − 푆푐표푟푒 =
푃푟푒푐푖푠푖표푛 + 퐷푅
2푇푃
=
2푇푃 + 퐹푃 + 퐹푁
V. KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ
Trong phạm vi nghiên cứu này, mô hình phân loại nhị
phân dựa trên mạng RNN, LSTM, GRU được lựa chọn.
Mô hình này được huấn luyện trên bộ dữ liệu rút gọn
UNSW-NB15. Thuật toán được xây dựng trên ngôn ngữ
Python và thư viện Keras, Sklearn, chạy trên nền tảng
Tensorflow và môi trường của Anaconda.
Bảng VIII. Đánh giá mô hình huấn luyện DSD-RNN, DSD-
LSTM, DSD-GRU trên bộ dữ liệu rút gọn UNSW-NB15
FAR% Acc% Prec% DR%
F1-S%
87.36
Thử nghiệm được thực hiện trên laptop Acer Nitro5,
có cấu hình CPU Intel Core i5-9300 2.4 GHz, bộ nhớ 16
GB và GPU 3 Gibytes. Thực nghiệm đã được thiết kế để
nghiên cứu hiệu suất giữa 3 mô hình mạng nơ-ron RNN,
LSTM và GRU trong phân loại nhị phân (bình thường,
bất thường).
DSD-
RNN
32.62
33.10
32.63
84.27
84.21
84.16
78.88
78.67
78.80
98.06
98.35
97.87
DSD-
LSTM
87.35
87.25
DSD-
GRU
Cả ba mô hình RNN, LSTM, GRU đều được huấn
luyện với số epoch là 100, trong quá trình compile mô
hình với thông số hàm optimize là Adam với learning
rate theo mặc định (0.001), batch_size là 256, hàm 푙표푠푠
là 푏푖푛푎푟푦_푐푟표푠푠푒푛푡푟표푝푦, tiêu chí tối ưu là theo độ chính
xác (accuracy).
Kết quả thực nghiệm ba mô hình DSD-RNN, DSD-
LSTM và DSD-GRU như trong Bảng VIII cho thấy mô
hình kết hợp DSD-RNN cho kết quả tốt nhất với
Accuracy, Precision, F1-Score có chỉ số cao nhất, tỷ lệ
dương tính giả FAR thấp nhất, chỉ có thông số DR là thấp
hơn mô hình kết hợp DSD-LSTM. Mô hình kết hợp cho
kết quả xấu nhất trong thực nghiệm là DSD-GRU với tất
cả các thông số Accuracy, Precision, F1-Score đều có kết
quả thấp nhất và tỷ lệ dương tính giả FAR cao.
Các mô hình RNN, LSTM, GRU cơ bản giống nhau,
chỉ khác nhau về kiến trúc lõi của nơ-ron, cụ thể:
•
Các lớp RNN/LSTM/GRU gồm 128 đơn vị
nơ-ron;
Qua thực nghiệm, so sánh hiệu quả giữa mô hình
mạng nơ-ron RNN, LSTM, GRU với mô hình kết hợp
huấn luyện 3 giai đoạn DSD-RNN, DSD-LSTM, DSD-
GRU như trong Bảng IX, Bảng X và Bảng XI đều giúp
tăng hiệu quả mô hình với các thông số Accuracy,
Precision, DR, F1 Score đều tăng và tỷ lệ dương tính giả
FAR giảm.
•
•
Các lớp Dropout với hệ số là 0.1;
Lớp Dense với hàm kích hoạt là sigmoid.
Trong đó, lớp Dropout giúp tránh tình trạng
overfitting, lớp Dense cuối cùng là lớp đầu ra để đánh giá
đầu ra là 1 hay 0, tức là bất thường hay bình thường.
Mỗi pha đều áp dụng DSD cho cả 3 mô hình DSD-
RNN/DSD-LSTM/DSD-GRU. Tuy nhiên ở pha cuối
cùng là pha tái dày đặc khôi phục kết nối thì tỷ lệ học
được giảm xuống còn 0.0001.
B. Đánh giá
Giữa ba mô hình mạng nơ-ron RNN, LSTM, GRU có
kết quả khá tương đồng nhau. RNN cho kết quả tốt nhất
với tiêu chí tỷ lệ phát hiện 98.01%. LSTM cho kết quả tốt
nhất với tỷ lệ cảnh báo giả (FAR) 33.37%, độ chính xác
83.70%, Precision 78.23% và F1 Score 86.85%. GRU
không có kết quả nào là tốt nhất trong thử nghiệm này.
A. Kết quả
Thử nghiệm mô hình huấn luyện được thực hiện với 2
trường hợp sau:
Trường hợp 1: Mô hình RNN, LSTM, GRU trên tập
dữ liệu rút gọn UNSW-NB15.
Tương tự, chúng tôi cũng so sánh giữa 3 mô hình
DSD-RNN, DSD-LSTM và DSD-GRU. Kết quả giữa ba
mô hình này tương đồng nhau. DSD-RNN cho tỷ lệ cảnh
báo giả tốt nhất với 32.62%, độ chính xác 84.27%,
Precision 78.88%, F1-Score 87.36%. DSD-LSTM cho
Trường hợp 2: Mô hình RNN, LSTM, GRU trên tập
dữ liệu rút gọn UNSW-NB15 kết hợp với mô hình huấn
luyện DSD.
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
59
Huỳnh Trọng Thưa, Nguyễn Hoàng Thành
VI. KẾT LUẬN
kết quả tốt nhất với tỷ lệ phát hiện 98.35%. DSD-GRU
không có kết quả nào là tốt nhất trong thử nghiệm này.
Từ kết quả thực nghiệm cho thấy cả 3 mô hình mạng
nơ-ron RNN, LSTM, GRU đều cho kết quả tốt trên tập
dữ liệu rút gọn UNSW-NB15. Mô hình ©mạng nơ-ron
LSTM cho thấy hiệu quả tốt nhất. Việc đưa mô hình huấn
luyện DSD vào mạng nơ-ron RNN, LSTM, GRU giúp cải
thiện hiệu suất với hầu hết các tiêu chí. Trong đó mô hình
mạng nơ-ron RNN được cải thiện hiệu quả nhất sau khi
áp dụng mô hình huấn luyện DSD. Trong phạm vi thực
nghiệm của nghiên cứu này, chúng tôi dùng độ cắt tỉa là
25%. Hướng tiếp cận trong tương lai, chúng tôi sẽ nghiên
cứu việc thay đổi độ cắt tỉa bao nhiêu là phù hợp trên tập
dữ liệu đầy đủ UNSW-NB15 và áp dụng mô hình huấn
luyện vào các mạng nơ-ron khác với thiết kế chi tiết hơn
nhằm đánh giá đầy đủ hơn nữa về hiệu quả của sự kết
hợp này.
Bảng IX. Đánh giá mô hình huấn luyện DSD-RNN và
RNN trên bộ dữ liệu rút gọn UNSW-NB15
FAR% Acc% Prec%
DR%
98.06
98.01
F1-S%
87.36
DSD-
RNN
32.62
84.27
78.88
RNN
34.17
83.54
77.87
86.78
Bảng X. Đánh giá mô hình huấn luyện DSD-LSTM và
LSTM trên bộ dữ liệu rút gọn UNSW-NB15
FAR% Acc% Prec% DR%
F1-S%
87.35
DSD-
LSTM
33.10
84.21
78.67
98.35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LSTM
33.37
83.70
78.23
97.95
86.85
Bảng XI. Đánh giá mô hình huấn luyện DSD-GRU và
GRU trên bộ dữ liệu rút gọn UNSW-NB15
[1] Hettich, S. and Bay, S. D., “KDD Cup 1999 Data,” 28
[Accessed 02 Feb 2020].
FAR% Acc% Prec% DR%
F1-S%
87.25
[2] M. Tavallaee, E. Bagheri, W. Lu, and A. Ghorbani, “A
Detailed Analysis of the KDD CUP 99 Data Set,” 2009.
DSD-
GRU
32.63
84.16
78.80
97.87
GRU
34.22
82.90
77.67
96.88
86.19
[3] Nour Moustafa, Jill Slay, “UNSW-NB15:
A
Comprehensive Data set for Network,” in Military
Communications and Information Systems Conference
(MilCIS), Canberra, Australia, 2015.
RNN có vấn đề về “vanishing gradient” (gradient
được sử dụng để cập nhật giá trị của weight matrix trong
RNN và nó có giá trị nhỏ dần theo từng layer khi thực
hiện back propagation). Khi gradient trở nên rất nhỏ (có
giá trị gần bằng 0) thì giá trị của weight matrix sẽ không
được cập nhật thêm và do đó mạng nơ-ron sẽ dừng việc
học tại lớp này. Tuy nhiên khi dùng DSD, mạng RNN sẽ
được cắt tỉa trọng số và được huấn luyện lại lần nữa.
Điều này giúp khôi phục trọng số, khắc phục được vấn đề
“vanishing gradient” và làm tăng hiệu quả huấn luyện ở
pha Dense cuối cùng. Trong khi đó, LSTM và GRU đã
thêm các cổng (cổng quên, cổng cập nhật và hàm tanh)
để khắc phục vấn đề “vanishing gradient”, vì vậy cải tiến
hiệu quả phát hiện xâm nhập của LSTM và GRU bằng
huấn luyện DSD không bằng khi áp dụng DSD vào RNN.
[4] Moustafa, Nour Moustafa Abdelhameed, “The UNSW-
NB15 Dataset Description,” 14 November 2018. [Online].
cyber/cybersecurity/ADFA-NB15-Datasets/. [Accessed 02
August 2020].
[5] Vinayakumar R et al., “A Comparative Analysis of Deep
learning Approaches for Network Intrusion Detection
Systems (N-IDSs),” International Journal of Digital Crime
and Forensics, vol. 11, no. 3, p. 25, July 2019.
[6] Song Han∗, Huizi Mao, Enhao Gong, Shijian Tang,
William J. Dally, “DSD: Dense-Sparse-Dense Traning For
Deep Neural Networks,” in ICLR 2017, 2017.
Ngoài ra, qua thực nghiệm cũng cho thấy khi áp dụng
mô hình huấn luyện DSD vào 3 mạng nơ-ron RNN,
LSTM, GRU đều cho kết quả khả quan hơn. Bảng XII
minh họa kết quả của mô hình huấn luyện DSD-
[7] Anani, Wafaa, “Recurrent Neural Network Architectures
Toward Intrusion Detection,” in Recurrent Neural Network
Architectures Toward Intrusion Detection, Electronic
Thesis and Dissertation Repository. 5625, 2018.
(RNN/LSTM/GRU)
so
với
mô
hình
gốc
[8] K. Cho, J. Chung, C .Gulcehre, and Y. Bengio, “Empirical
evaluation of gated recurrent neural networks on sequence
modeling,” Computing Research Repository (CoRR), 2014.
RNN/LSTM/GRU. Với tiêu chí FAR, “-” là tốt hơn và
các tiêu chí còn lại thì “+” là tốt hơn.
Bảng XII. Bảng đánh giá mô hình huấn luyện DSD (DSD-
RNN, DSD-LSTM, DSD-GRU) so với mô hì nh mạng nơ-
ron gốc (RNN, LSTM, GRU)
[9] Brownlee, Jason, “Overfitting and Underfitting With
Machine Learning Algorithms,” 12 August 2019. [Online].
Available:
FAR
(%)
Acc
(%)
Prec
(%)
DR
(%)
F1-S
(%)
underfitting-with-machine-learning-algorithms/. [Accessed
03 August 2020].
DSD-
RNN
-
+
+
+
+
1.556
0.7249
1.0044
0.0463
0.5760
[10] Brownlee, Jason, “Gentle Introduction to the Bias-
Variance Trade-Off in Machine Learning,” 25 October
DSD-
LSTM
-
+
+
+
+
2019.
[Online].
Available:
0.270
0.5123
0.4422
0.3944
0.5009
to-the-bias-variance-trade-off-in-machine-learning/.
[Accessed 03 August 2020].
DSD-
GRU
-
+
+
+
+
1.595
1.2646
1.1272
0.9949
1.0612
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
60
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT HIỆN XÂM NHẬP MẠNG BẰNG HUẤN LUYỆN DSD
[11] Gupta, Prashant, “Cross-Validation in Machine Learning,”
Towards Data Science, 05 June 2017. [Online]. Available:
machine-learning-72924a69872f. [Accessed 02 August
2020].
[12] Pedregosa et al., “Scikit-learn: Machine Learning in
Python,” 2011. [Online]. Available: https://scikit-
learn.org/stable/modules/.
[13] Sergey Ioffe, Christian Szegedy, “Batch Normalization:
Accelerating Deep Network Training by Reducing Internal
Covariate Shift,” 2015.
ENHANCING NETWORK INTRUSION
DETECTION EFFICIENCY USING DSD
Abstract: Most modern intrusion detection models are
applying machine learning to produce intrusion detection
and classification results with high accuracy. This study
proposes a model combining multi-layered neural
networks with DSD multi-stage training method to
simultaneously improve many criteria related to the
performance of intrusion detection systems on the UNSW
‑ NB15 dataset which is regularly updated for the features
and follows new attack patterns. We conduct experiments
on 3 neural network models RNN, LSTM, and GRU to
evaluate the efficiency associated with each model
through many criteria such as accuracy, detection rate,
false alarm rate, precision and F1-Score.
Keywords: network security, machine learning, deep
learning, IDS, neural network.
Huỳnh Trọng Thưa, Trưởng Bộ
mô n An toàn Thô ng tin, Khoa Cô ng
nghệ Thông tin 2, Học viện Công nghệ
Bưu chính Viễn thông cơ sở tại TP.
Hồ Chí Minh. Thưa nhận bằng Cử
nhân Công nghệ Thông tin của Đại
học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí
Minh, bằng Thạc sĩ Kỹ thuật Máy tính
tại Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc và
bằng Tiến sĩ Khoa học Máy tính tại Đại
học Bách Khoa - Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh. Lĩnh vực nghiên cứu: An
toàn và bảo mật thông tin, blockchain,
mật mã học, điều tra.
Email: [email protected]n
Nguyễn Hoàng Thành, Nhận bằng
Kỹ sư Hệ thống thông tin của Học viện
Công nghệ Bưu chính Viễn thông năm
2013. Hiện tại, Thành đang là học viên
cao học của Học viện Công nghệ Bưu
chính Viễn thông cơ sở tại TP. Hồ Chí
Minh. Lĩnh vực nghiên cứu chính: An
toàn thô ng tin, học máy
Email: [email protected]om
SOÁ 03 (CS.01) 2020
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC COÂNG NGHEÄ THOÂNG TIN VAØ TRUYEÀN THOÂNG
61
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao hiệu quả phát hiện xâm nhập mạng bằng huấn luyện DSD", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_hieu_qua_phat_hien_xam_nhap_mang_bang_huan_luyen_ds.pdf

