Mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ dựa trên đại số gia tử và tối ưu bầy đàn

Kỷ yếu Hội nghị KHCN Quốc gia lần thứ XI về Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng Công nghệ thông tin (FAIR); Hà Nội, ngày 09-10/8/2018  
DOI: 10.15625/vap.2018.00034  
MÔ HÌNH DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN MỜ DỰA TRÊN ĐẠI SỐ GIA TỬ  
VÀ TỐI ƯU BẦY ĐÀN  
Nghiêm Văn Tính1*, Nguyễn Công Điều2, Nguyễn Tiến Duy1  
1 Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên  
2 Trường Đại học Thăng Long  
TÓM TẮT: Những năm gần đây, nhiều mô hình dự báo dựa trên chuỗi thời gian mờ được đề xuất nhằm phân tích chuỗi thời gian.  
Trong mô hình dự báo, các yếu tố chính có thể ảnh hưởng đến độ chính xác dự báo của mô hình là độ dài của khoảng chia tập nền  
và nhóm quan hệ mờ. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ mới dựa trên đại số gia tử (ĐSGT)  
và thuật toán tối ưu bầy đàn (PSO). Trong đó, ĐSGT được sử dụng như một công cụ để chia tập nền thành các khoảng có độ dài  
khác nhau tương ứng với các khoảng ngữ nghĩa tính toán được của các hạng từ ngôn ngữ. Sau quá trình chia khoảng, các giá trị  
quan sát được biểu diễn bởi các tập mờ và sử dụng chúng để thiết lập các nhóm quan hệ mờ. Cuối cùng, mô hình đề xuất được kết  
hợp với kỹ thuật PSO để tìm ra khoảng chia phù hợp nhằm tăng độ chính dự báo của mô hình. Đánh giá hiệu quả của mô hình trên  
tập dữ liệu kinh điển về số lượng sinh viên nhập học tại Đại học Alabama. Thực nghiệm cho thấy mô hình đề xuất đưa ra kết quả dự  
báo chính xác hơn một số mô hình dự báo đã được công bố gần đây dựa vào chuỗi thời gian mờ bậc 1 và bậc cao.  
Từ khóa: Chuỗi thời gian mờ, Nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời gian, Tối ưu bày đàn, PSO, Tuyển sinh.  
I. GIỚI THIỆU  
Trong vài thập kỷ qua, nhiều mô hình dự báo đã được đề xuất nhằm giải quyết các bài toán dự báo khác nhau để  
giúp con người đưa ra các quyết định, như: dự báo tuyển sinh đại học cho năm tiếp theo, dự báo nhiệt độ cho các ngày  
tới, dự báo dân số hàng năm, dự báo tài chính,... Dựa trên lý thuyết tập mờ, Song và Chissom đã đưa ra hai mô hình  
chuỗi thời gian mờ không phụ thuộc thời gian [1] và phụ thuộc thời gian [2] bằng việc sử dụng các phép toán max -  
min trong quan hệ mờ để giải quyết bài toán dự báo tuyển sinh đại học của Trường Đại học Alabama. So sánh với các  
mô hình dự báo truyền thống trước đây như: Phân tích hồi huy, trung bình trượt, trung bình hàm mũ và mô hình  
ARIMA thì các mô hình [1], [2] có thể giải quyết tốt hơn đối với các bài toán dự báo có chuỗi số liệu được biểu diễn  
bởi giá trị ngữ nghĩa hay chuỗi dữ liệu không chắc chắn. Hơn nữa, các mô hình chuỗi thời gian mờ này, không yêu cầu  
số lượng quan sát lớn hay giả định tuyến tính như mô hình truyền thống. Tuy nhiên, các mô hình [1], [2] mất nhiều thời  
gian tính toán khi xử lý với ma trận mờ lớn. Do đó, để khắc phục hạn chế này, Chen [3] đã đưa ra phương pháp mới  
khá hiệu quả bằng việc sử dụng các phép tính số học đơn giản thay vì các phép tính kết hợp max-min phức tạp trong xử  
lý mối quan hệ mờ. Từ việc mở rộng của công trình [3] thành mô hình chuỗi thời gian mờ bậc cao [4] và mức ảnh  
hưởng của độ dài khoảng trong mô hình [5] cùng với việc phát triển từ các mô hình một nhân tố thành mô hình chuỗi  
thời gian mờ hai nhân tố [6] là nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ của mô hình chuỗi thời gian mờ trong những  
khoảng thời gian tiếp sau. Gần đây, nhiều tác giả đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau vào từng pha (giai đoạn) trong mô  
hình chuỗi thời gian mờ nhằm nâng cao độ chính xác dự báo. Chen và Tanuwijaya [7] đã sử dụng phương pháp phân  
cụm tự động để chia tập nền thành các khoảng có độ dài khác nhau trong pha mờ hóa dữ liệu của mô hình. Một số tác  
giả khác dựa dựa trên kỹ thuật tối ưu kết hợp với các mô hình chuỗi thời gian mờ khác nhau nhằm điều chỉnh lại các  
khoảng chia từ tập nền [8]-[19]. Dựa trên tư tưởng tìm độ dài khoảng tối ưu, một số mô hình lại dùng kỹ thuật phân  
cụm để phân tập dữ liệu quan sát thành các cụm, sau đó điều chỉnh các cụm này thành các khoảng có độ dài khác nhau  
như: Phân cụm K-mean [20], [21] phân cụm C-mean [22], [23]. Một cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt dựa trên lý  
thuyết đại số gia tử [24] để ngữ nghĩa hóa và giải ngữ phi tuyến [25] thay vì các phép mờ hóa dữ liệu và giải mờ dự  
báo trong mô hình chuỗi thời gian mờ. Cũng dựa trên đại số gia tử, trong công trình [26] sử dụng nó để phân chia tập  
nền thành các khoảng khác nhau bằng việc ánh xạ ngữ nghĩa của các hạng từ ngôn ngữ thành các khoảng mờ. Hai công  
trình theo hướng tiếp cận ĐSGT nêu trên chỉ tập trung vào xây dựng mô hình dự báo bậc 1 để dự báo số lượng sinh  
viên nhập học của Trường Đại học Alabama.  
Dựa vào sự phân tích của các công trình trên cho thấy, độ dài khoảng và bậc của nhóm quan hệ mờ là các yếu tố  
ảnh hưởng rất lớn đến độ chính xác dự báo của mô hình. Bài báo này, chúng tôi đề xuất mô hình dự báo chuỗi thời gian  
mờ bậc một và bậc cao dựa trên ĐSGT và PSO cho bài toán tuyển sinh đại học trong [3]. Trong nghiên cứu này, trước  
tiên ĐSGT được sử dụng để phân chia tập nền thành các khoảng có độ dài khác nhau bằng cách định lượng chính các  
hạng từ ngôn ngữ dùng để biểu diễn chuỗi dữ liệu quan sát. Sau đó, tính giá trị đầu ra dự báo cho các nhóm quan hệ  
mờ bậc 1 và bậc cao đã được chúng tôi đề xuất trong công trình [14] bằng quy tắc giải mờ mới. Cuối cùng, mô hình đề  
xuất được kết hợp với thuật toán PSO để hiệu chỉnh lại độ dài khoảng chia ban đầu nhằm cải thiện độ chính xác dự báo  
hơn nữa.  
Phần còn lại của bài báo được bố cục như sau: Phần II trình bày một số khái niệm liên quan đến chuỗi thời mờ  
và ĐSGT. Phần III giới thiệu từng bước của mô hình dự báo kết hợp giữa ĐSGT và PSO. Phần IV đánh giá hiệu quả  
dự báo của mô hình đề xuất so với các mô hình dự báo trước đây. Cuối cùng, các kết luận được đưa ra trong phần V.  
252  
MÔ HÌNH DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN MỜ DỰA TRÊN ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ TỐI ƯU BẦY ĐÀN  
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ THUẬT TOÁN LIÊN QUAN  
Trong phần này tóm tắt một số khái niệm cơ bản về chuỗi thời gian mờ [1]- [3] và đại số gia tử [24] để làm cơ  
sở cho nghiên cứu này.  
2. 1. Khái niệm cơ bản về chuỗi thời gian mờ (FTS)  
Điểm khác chủ yếu giữa chuỗi thời gian mờ và khái niệm chuỗi thời gian truyền thống là giá trị của chuỗi thời  
gian được biểu diễn bởi các tập mờ (hay các nhãn ngôn ngữ), trong khi chuỗi thời gian truyền thống được biểu diễn bởi  
các giá trị số. Một số định nghĩa cơ bản về chuỗi thời gian mờ được đưa ra như sau:  
Định nghĩa 1: Chuỗi thời gian mờ [1]  
Cho                                 là một tập con của tập số thực và cũng là tập nền trên đó xác định các tập mờ  
            là tập chứa các tập                            Khi đó ta gọi      là chuỗi thời gian mờ xác định trên tập nền    ).  
 
 
Định nghĩa 2: Quan hệ mờ (FLR) [1]  
Tại các thời điểm t và t-1 có tồn tại một mối quan hệ mờ giữa                  sao cho                   
           ; trong đó * là toán tử max-min xác định trên tập mờ.             là mối quan hệ mờ. Ta cũng có thể ký hiệu  
mối quan hệ mờ giữa                ) bởi                Nếu đặt                          thì mối quan hệ  
 
 
logic mờ giữa chúng được thay bởi quan hệ là:       Viết như thế này có thể hiểu là tập mờ Aj được suy ra từ tập  
 
 
mờ Ai.  
Định nghĩa 3: Nhóm quan hệ mờ (FLRGs) [3]  
Các quan hệ mờ trong tập luyện có thể gom thành một nhóm nếu các tập mờ bên vế phải của quan hệ có cùng  
các tập mờ bên vế trái thì gộp chúng thành một nhóm theo vế trái của quan hệ. Giả sử có các quan hệ logic mờ bậc một  
có cùng các tập mờ bên vế trái như sau:  
      ;                     .  
 
   
 
   
 
   
Theo Chen [3], các quan hệ này được gom thành một nhóm như sau:                 . Các quan hệ giống  
 
      
   
nhau (lặp lại) chỉ được tính duy nhất một lần khi tham gia vào nhóm quan hệ mờ.  
Định nghĩa 4: Nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời gian [14]  
    
    . Nếu, đặt             
Quan hệ mờ giữa hai quan sát liên tiếp F(t-1) và      được biểu diễn bởi F(t-1)  
 
 
 
và                    , thì quan hệ tại thời điểm t này được biểu diễn thành                  .  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nếu cũng tại thời điểm t, tồn tại các quan hệ sau:                                           và       
 
   
 
   
 
    
        với                    t. Nghĩa là các quan hệ tại thời điểm t1, t2, …, tp xảy ra trước quan hệ mờ tại thời điểm  
 
t, nhưng có cùng tập mờ bên vế trái là          . Khi đó các quan hệ này được nhóm thành một nhóm quan hệ mờ là  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
    
                                   và được gọi là nhóm quan hệ mờ phụ thuộc vào thời gian.  
 
   
   
   
 
Ví dụ sau đây có thể hiểu rõ hơn về nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời gian và các nhóm quan hệ thông thường  
[3]. Giả sử tồn tại các quan hệ mờ tại các thời điểm khác nhau như sau:  
                                  
 
 
                                  
 
 
                                  
 
 
 
 
 
 
Trong các quan hệ trên có hai quan hệ mờ giống nhau xuất hiện tại các thời điểm         và         . Theo  
Chen [3], thì các quan hệ mờ giống nhau chỉ được tính một lần khi tham gia vào nhóm quan hệ mờ. Khi đó các quan hệ  
nói trên được gộp thành một nhóm quan hệ có dạng:           . Điều đó có nghĩa rằng các quan hệ trùng nhau không  
 
 
 
được xem xét và dẫn đến thiếu thông tin trong quá trình dự báo. Do vậy, trong nhóm quan hệ đề xuất, chúng tôi xem  
xét đến thời điểm xuất hiện của các quan hệ mờ bên phải ở tại thời điểm dự báo t nào đó. Cùng ví dụ trên, giả sử thời  
điểm t =2, chúng tôi chỉ xét đến các quan hệ có cùng trạng thái bên trái mà có tập mờ bên phải xuất hiện từ thời điểm  
dự báo trở về trước thì được gộp thành một nhóm quan hệ có dạng:           . Tương tự tại thời điểm dự báo t=3 thì  
 
 
 
nhóm quan hệ khác được thiết lập là               .  
 
 
 
 
Tư tưởng này cũng được áp dụng tương tự cho quan hệ bậc cao và được gọi là quan hệ mờ phụ thuộc thời gian  
bậc cao.  
2.2. Cơ bản về đại số gia tử (ĐSGT) [24]  
{
                                 
Giả sử ta có một tập các giá trị ngôn ngữ của biến ngôn ngữ  
                                                                                                       
}
  . Các giá trị ngôn ngữ này được sử dụng trong các bài toán lập luận xấp xỉ dựa trên tri thức bằng luật. Một vấn đề  
đặt ra là cần có một cấu trúc đủ mạnh dựa trên tính thứ tự vốn có của giá trị ngôn ngữ trong miền của biến ngôn ngữ.  
Từ đó, có thể tính toán được ngữ nghĩa trên giá trị ngôn ngữ của biến ngôn ngữ trong các bài toán suy luận xấp xỉ.  
Nghiêm Văn Tính, Nguyễn Công Điều, Nguyễn Tiến Duy  
253  
 
 
Mỗi biến ngôn ngữ được biểu thị như một cấu trúc đại số                   , gọi là đại số gia tử, trong đó  
 
 
{
}
,
  là tập các hạng từ trong  ;   biểu thị mối quan hệ thứ tự ngữ nghĩa tự nhiên của các hạng từ trên  ;           
      , được gọi là các phần tử sinh (ví dụ:                 );             là tập các hằng, với             
     , để chỉ các phần tử có ngữ nghĩa nhỏ nhất, lớn nhất và phần tử trung hoà (ví dụ:           );         
  , với     {              } là tập các gia tử âm,        thì        và     {              } là  
 
 
 
{
}
{
}
 
 
 
 
 
 
 
 
   
   
 
   
 
 
 
 
 
 
 
{
}
{
}
các gia tử dương,        thì        . Ví dụ                     ,                 . Với      ,  
        
     ,      ,      . Với quan hệ thứ tự giữa các phần tử sinh, các gia tử và chiều tác động của các gia  
 
    
    
tử như trên, có thể được biểu thị bằng dấu của chúng như sau:  
{
}
Hàm dấu:                   được định nghĩa một cách đệ quy như sau: Với         ,      ,       
 
 
 
 
 
 
 
           và            
(2. 1)  
(2. 2)  
 
{
    
}
{
    
}
                  và                   
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                nếu        hoặc                 nếu        và                 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
    
    
nếu        hoặc                 nếu        . Hay                      .  
(2. 3)  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                  nếu   là dương đối với   (             ) và                   nếu   là âm đối với   
 
(             ).  
(2. 4)  
 
 
            nếu         .  
(2. 5)  
    
Tổng quát:          , có thể được viết là:         
     ,      ,      .  
    
 
    
    
 
 
 
 
    
    
Khi đó:                   
                        
(2. 6)  
 
    
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                     và                      
Độ đo tính mờ: Khái niệm “mờ” của thông tin ngôn ngữ mờ là rất quan trọng trong việc tính toán giá trị ngữ  
nghĩa của từ ngữ. Ngữ nghĩa của giá trị ngôn ngữ trong AX được xây dựng từ các tập  
    
{ }  
    
      {        
                   }            , có thể coi như một mô hình mờ của  . Tập            , xác  
 
    
 
 
    
định độ đo tính mờ    của  , chính bằng “bán kính” của     và có thể được tính toán một cách đệ quy từ độ đo tính  
 
 
 
 
 
 
    
mờ của các phần tử sinh,      ,      và độ đo tính mờ của gia tử   ,      . Chúng được gọi là các tham số  
mờ của  .  
[
]
             gọi là độ đo tính mờ nếu thỏa mãn các điều kiện sau:  
 
 
 
 
 
 
                và  
∑
 
 
    
             , với        
(2. 7)  
    
Với các phần tử  ,   và  ,  
        
 
 
                       
(2. 8)  
(2. 9)  
 
 
 
 
      
      
Và với                  ,  
 
 
 
    
     
     
Đẳng thức (2. 9) không phụ thuộc vào các phần tử  ,  , nó đặc trưng cho gia tử  , gọi là độ đo tính mờ của  ,  
            
ký hiệu là   . Tính chất của      và   như sau:  
Ta có      ,              ,  
 
    
 
 
 
        
                        
(2. 10)  
(2. 11)  
(2. 12)  
 
 
 
 
    
    
 
    
 
    
       
        
 
               
 
    
 
 
 
   
 
∑
    
        và  
∑
    
       , với       và  
    
 
    
 
 
     
2.3. Thuật toán PSO [27]  
PSO là thuật toán tìm kiếm ngẫu nhiên dựa trên việc mô phỏng hành vi tương tác của bầy chim hay đàn cá tìm  
nguồn thức ăn. Mỗi con chim (hay cá thể, phần tử) trong đàn (quần thể) được đặc trưng bởi hai tham số là véctơ vị trí  
 
   
và véctơ vận tốc (dịch chuyển)   . Ban đầu PSO được khởi tạo bởi vị trí và vận tốc một cách ngẫu nhiên. Sau mỗi  
   
bước dịch chuyển (lặp) mỗi cá thể đánh giá khả năng tìm kiếm bằng hàm đo độ thích nghi (fitness function). Đồng thời  
mỗi cá thể cập nhật vận tốc   và vị trí   của mình theo công thức (2.13) và (2.14). Cũng tại mỗi bước lặp, mỗi cá  
   
   
thể phản ánh bởi hai thông tin: Thông tin thứ nhất là vị trí tốt nhất mà nó đạt được cho tới thời điểm hiện tại, gọi là  
. Thông tin thứ hai là vị trí tốt nhất trong quá trình tìm kiếm của quần thể từ trước cho tới thời điểm hiện tại, gọi  
 
        
là   . Mô hình hóa việc cập nhật vị trí của mỗi cá thể theo vị trí tốt nhất của nó và của tất cả các cá thể trong quần  
     
thể tính tới thời điểm hiện tại được minh họa trong Hình 2.1.  
    
 
 
 
 
 
                  ( )   (  
    )           ( )   (       )  
     
(2.13)  
(2.14)  
(2.15)  
 
        
 
   
    
   
    
   
   
 
 
        
   
   
   
      
   
 
    
    
 
 
    
 
    
         
     
254  
MÔ HÌNH DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN MỜ DỰA TRÊN ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ TỐI ƯU BẦY ĐÀN  
Vị trí tốt nhất của các cá thể được đặc trưng bởi một véctơ   
  [               
] và giá trị   
               
        
          
của mỗi cá thể id,     [              ] được tính như sau:  
       
   
          
 
    
 
 
            (  )     
        
   
        
    
    
=       {  
 
(2.16)  
(2.17)  
        
    
    
 
       (  )            (  )     
   
   
        
 
Giá trị   
tại lần lặp thứ k là:   
        
 
     
   
     
     
III. MÔ HÌNH DỰ BÁO ĐỀ XUẤT KẾT HỢP GIỮA ĐSGT VÀ PSO  
Trong mục này, chúng tôi giới thiệu mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ dựa trên việc kết hợp giữa đại số gia tử  
và tối ưu bày đàn cho dự báo tuyển sinh đại học. Trước tiên ĐSGT được áp dụng để chia tập nền thành các khoảng có  
độ dài khác nhau bằng việc ánh xạ định lượng các hạng từ ngôn ngữ thành các khoảng mờ. Dựa trên các khoảng mới  
đạt được này, chúng tôi xác định các tập mờ và mờ hóa dữ liệu trên mỗi khoảng đã chia. Sau đó, thực hiện nhóm quan  
hệ mờ theo [14] và tính giá trị đầu ra dự báo bằng quy tắc dự báo đề xuất. Cuối cùng, để tăng độ chính xác dự báo hơn  
nữa, mô hình đề xuất được kết hợp với PSO trong việc hiệu chỉnh lại độ dài khoảng nhằm tìm ra các khoảng chia tối ưu  
từ tập nền. Để xác minh tính hiệu của mô hình đề xuất, toàn bộ dữ liệu liệu về số lượng sinh viên nhập học trong tài  
liệu [3] được sử dụng làm minh chứng cho quá trình dự báo dự trên chuỗi thời gian mờ bậc 1 và bậc cao. Mô hình dự  
báo đề xuất bao gồm các bước sau:  
Bước 1: Xác định tập nền của chuỗi dữ liệu quan sát  
Giả sử tập nền hay miền trị tham chiếu U = [      ] = [Imin - N1, Imax + N2], trong đó Imin, Imax là giá trị nhỏ  
    
    
nhất và lớn nhất của chuỗi dữ liệu quan sát và N1, N2 là hai số dương được chọn sao cho tập nền U bao trọn vẹn chuỗi  
dữ liệu lịch sử và đảm bảo nhiễu của dữ liệu kiểm thử. Không mất tính tổng quát, chúng tôi xác định tập nền U giống  
như trong công trình [3] là U = [            ]. Trong đó Imin =13055, Imax = 19337 và N1= 55, N2 = 663.  
Bước 2: Chia tập nền U thành n khoảng khác nhau dựa vào ĐSGT  
Như đã biết, chuỗi thời gian là một tập các dữ liệu quan sát được diễn biến theo thứ tự thời gian. Các dữ liệu  
quan sát này, theo tiếp cận mờ thì chúng được biểu diễn bởi các tập mờ (hạng từ ngôn ngữ) và gọi đó là chuỗi thời gian  
mờ. Nếu nhìn trên phương diện ĐSGT thì mỗi hạng từ ngôn ngữ đại diện cho một vài giá trị quan sát thuộc vào khoảng  
mờ nào đó, mà các hạng từ này luôn đảm bảo về thứ tự ngữ nghĩa. Điều đó có thể thấy rằng, khi sử dụng ĐSGT để ánh  
xạ định lượng ngữ nghĩa các hạng từ ngôn ngữ thành các giá trị trên miền mờ luôn thỏa mãn tính chất chia khoảng trên  
miền thực. Vì vậy, trong phần này chúng tôi áp dụng ĐSGT để chia tập nền U hay miền trị tham chiếu thành các  
khoảng tương ứng với các hạng từ ngôn ngữ dùng để định tính giá trị quan sát trong chuỗi thời gian mờ. Trong phần  
này, bài báo sử dụng ĐSGT có cấu trúc như sau: ĐSGT   = ( ,  ,  ,  , ≤) với X là tập các hạng từ của biến ngôn  
 
 
ngữ “enrollment”; G = {      }   {Low, High}, Low ≤ High là tập các phần tử sinh; Tập các hằng C = {0, 1, W}, hai  
gia tử là H   {Very, Little}. Để so sánh kết quả dự báo của mô hình đề xuất với các mô hình khác. Trong bài báo này  
chúng tôi sử dụng số khoảng chia bằng với số lượng hạng từ ngôn ngữ dùng để định tính các giá trị quan sát. Cụ thể,  
xuất phát từ số lượng hạng từ ngôn ngữ cho trước là 7 và 14 được đưa ra trong Bảng 3.1, chúng tôi xác định được các  
số khoảng tương ứng là 7 và 14 khoảng.  
   
Nghiêm Văn Tính, Nguyễn Công Điều, Nguyễn Tiến Duy  
255  
Bảng 3.1. Số lượng hạng từ ngôn ngữ  
Các hạng từ có thứ tự  
  = Very Very Low (VVL) <   = Little Verry Low (LVL) <   = Little Little Low (LLL) <   =Very  
Số lượng hạng từ  
7
 
 
 
 
Little Low (VLL) <   =Verry Little High (VLH) <   = Little Little High (LLH) <   = Very High (VH).  
 
 
 
14  
  = VVS <   = LLVS <          <        L<          <          <          <     
                
     <          <          <          <          <                   
 
   
    
   
   
   
Bước này, sử dụng 7 khoảng chia để minh họa từng bước cho việc xác định khoảng mờ dựa trên ĐSGT như sau:  
Bước 2.1: Miền trị tham chiếu U = [13000, 20000] được ánh xạ sang miền [0, 1]  
Giả sử trong tập dữ liệu lịch sử chọn giá trị 16807 là giá trị trung bình khi đó khoảng tính mờ của các phần tử  
             
    
       ,                            .  
sinh được thiết lập là           
             
Từ đây, có thể tính được khoảng mờ của các từ ngôn ngữ trên miền [0,1] là:         = 0,1471,         =  
0,1358,         = 0,1253,         = 0,1358,         = 0,11138,         = 0,1051,        = 0,2371.  
Bước 2.2: Ánh xạ ngược lại miền U  
 
 
 
 
Giả sử gọi         là độ rộng của hai phần tử sinh là                                     
     và                                             , trong đó độ dài của miền U ký hiệu là LU =  
20000-13000 =7000.  
Bước 2.3: Xác định khoảng mờ của nhãn ngôn ngữ trên tập nền U  
 
 
Trong bài báo này, chúng tôi chọn độ đo tính mờ của các gia tử âm và gia tử dương tương ứng là            
 
 
 
 
     và                         0,52.  
Kết hợp Bước 2.2, ta có thể tính được giá trị cho các hạng từ thuộc vào các khoảng mờ như sau:  
         = µ(Verry) µ(Very) cofm(Low) = 0,52 0,52 3808 = 1029,683;  
 
         = µ(      ) µ(Very) cofm(Low) = 0,48 0,52 3808 = 950,477;  
 
Một cách tương tự cho các hạng khác chúng tôi xác định được 7 khoảng chia trên miền thực U như sau:  
  = [13000, 14029,68),   = [14029.68, 14980),   = [14980, 15858),   = [15858, 16808),   = [16808, 17605),   =  
 
 
 
 
 
 
[17605, 18340),   = [18340, 20000].  
 
Thực hiện tương tự các bước trên đối với số hạng từ là 14, chúng tôi đưa ra 14 khoảng chia tương ứng với các  
hạng từ trong tập nền U như sau:  
  = [13000, 13539,5),   = [13539,5, 14079) ,   = [14079, 14438,5),   = [14438,5, 14798),   = [14798, 15157,5),  
 
 
 
 
 
  = [15157,5, 15517),   = [15517, 15756,5),   = [15756,5, 15996),   = [15996, 16316,5) ,   = [16316,5, 16637),  
 
 
 
 
   
  = [16637, 17117,5),   = [17117,5, 17598),   = [17598, 18799),   = [18799, 20000].  
    
   
   
   
Bước 3: Khởi tạo ngẫu nhiên m các cá thể trong quần thể  
Theo thuật toán 2, mỗi cá thể trong PSO được đặc trưng bởi hai thành phần là vị trí và vận tốc; Giả sử id là một  
cá thể trong quần thể. Khi đó:  
- Vị trí   và vận tốc   là các véctơ gồm n-1 (n=7) phần tử được biểu diễn như hình 3.1.  
   
   
푥
푥
푥
푖푑 푘  
푥푖푑     
푣푖푑   푣푖푑   
푣푖푑 푘  
푣푖푑   
…
…
…
…
푖푑   푖푑   
Hình 3.1. Cấu trúc vị trí và vận tốc của cá thể id, (1  푘   n-1 )  
Trong đó, các phần tử   được khởi tạo một cách ngẫu nhiên trong tập nền và được sắp xếp theo thứ tự  
   
tăng dần như sau:   
    
        
    và các phần tử   được khởi tạo ngẫu nhiên trong miền  
       
    
     
       
[-      ].  
        
- Vị trí tốt nhất của cá thể id ghi nhận được là một véctơ   
  [               ] và ban đầu được khởi  
               
        
tạo giống như khởi tạo vị trí của cá thể id.  
Bước 4: Hiệu chỉnh lại độ dài các khoảng chia tại bước 2 và tính giá trị hàm mục tiêu cho mỗi cá thể trong PSO.  
3.1. Xác định các tập mờ và mờ hóa dữ liệu quan sát  
Dựa trên véctơ vị trí của mỗi cá thể id gồm n-1 phần tử này, chúng tôi xác định n khoảng chia từ tập nền. Để  
thuận tiện và không mất tính tổng quát, chúng tôi chọn số lượng khoảng giống như số khoảng đã chia ở bước 2. Giả sử  
256  
MÔ HÌNH DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN MỜ DỰA TRÊN ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ TỐI ƯU BẦY ĐÀN  
số khoảng chia là n =7, khi đó các khoảng đạt được là:   =    ,   ],   = (  ,   ], …,   = (  ,   ]. Từ  
 
    
     
 
          
 
     
    
các khoảng mới đạt được, chúng tôi xác định các tập mờ dựa theo [1] đưa ra trong công thức (3.1) như sau:  
 
 
 
 
   
   
   
   
    
 
⁄
 
⁄
         
⁄
 
      
⁄
 
 
(3.1)  
(3.2)  
 
 
 
 
 
 
      
                         
          
 
  {  
   
 
Trong đó,     [0,1], (1   i    , 1   j   7) chỉ cấp độ của khoảng uj vào tập mờ Ai , uj là khoảng thứ j của tập  
   
nền U. Để đơn giản, mỗi giá trị độ thuộc của tập mờ Ai được lựa chọn theo công thức (3.2), có dạng hàm thuộc tam  
giác với cấp độ thuộc tương ứng là 1, 0,5 và 0.  
3.2. Mờ hóa dữ liệu lịch sử thành các tập mờ  
Mờ hóa các dữ liệu rõ thành dữ liệu mờ được biểu diễn bằng tập mờ, trước tiên cần gán giá trị ngôn ngữ liên  
quan đến mỗi tập mờ đã xác định trong bước 4.2 vào mỗi khoảng tương ứng. Cách đơn giản là tìm ra một khoảng   
 
mà giá trị lịch sử của biến chuỗi thời gian tại thời điểm nào đó thuộc vào khoảng này mà có cấp độ thuộc cao nhất của  
khoảng   tại tập mờ Ai, khi đó dữ liệu lịch của biến chuỗi thời gian được mờ hóa là   .  
 
 
Ví dụ: Giá trị lịch sử của năm 1972, Y(1972) là 13563 thuộc vào khoảng   = (13000, 14029.68] mà cấp độ  
 
thuộc lớn nhất của khoảng này xảy ra tại   là 1, vậy giá trị mờ hóa tại thời điểm t =1972, F(t)=F(1972) là A1 có nhãn  
 
ngôn ngữ là “not many”. Bằng cách tương tự cho các giá trị quan sát khác trong chuỗi thời gian.  
3.3. Xác định các quan hệ mờ  
Dựa trên định nghĩa 2 và 3 về khái niệm quan hệ logic mờ bậc 1 và bậc cao, một quan hệ mờ được xác định bởi  
một hay nhiều tập mờ liên tiếp trong chuỗi thời gian. Để xác định các quan hệ logic mờ với bậc khác nhau, chúng ta  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
tìm ra các quan hệ có dạng:                                             ; trong đó,                                     
 
  và      được gọi là trạng thái hiện tại và trạng thái tương lai của quan hệ. Sau đó quan hệ này được thay thế bởi  
quan hệ giữa các tập mờ là:       
                . Hai ví dụ minh họa cho quan hệ mờ bậc 1 và bậc 2 được  
        
 
       
trình bày như sau:  
.
Trong trường hợp quan hệ mờ bậc 1( =1), hai tập mờ liên tiếp được sử dụng để xác định quan hệ mờ bậc 1. Giả sử  
ở bước 4.2, dữ liệu tại năm F(1973) được mờ hóa là   và dữ liệu tại năm F(1974) được mờ hóa là   . Khi đó quan  
 
 
hệ giữa thời điểm F(1993) với F(1994) là                   và được thay bởi quan hệ mờ là       . Hoàn  
 
 
toàn tương tự có thể thiết lập được các quan hệ mờ bậc 1 khác.  
.
Trong trường hợp quan hệ mờ bậc cao (giả =2), ba tập mờ liên tiếp theo thứ tự thời gian được sử để tạo thành  
quan hệ mờ bậc 2. Giả sử ba năm liên tiếp F(1973), F(1974), F(1975) được mờ hóa tương ứng với các tập mờ là   ,  
 
      . Khi đó quan hệ mờ bậc hai tại thời điểm t =1975 được biểu diễn là:           . Một cách tương tự để xác  
 
 
 
 
 
định các quan hệ mờ bậc hai khác tại thời điểm khác nhau.  
3.4. Thiết lập nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời gian  
Trong bước này, chúng tôi tạo nhóm quan hệ mờ dựa trên định nghĩa 4 về nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời  
gian bậc 1 và bậc cao. Giả sử tồn tại các quan hệ mờ tại các thời điểm khác nhau như sau:  
                                        
 
 
 
 
                                        
 
                                        
 
Khi đó, tại các thời điểm t lần lượt là 1973, 1974, 1975 chúng ta nhận được ba nhóm quan hệ theo thứ tự thời  
gian trên là G1:       ; G2:       và G3:           . Một cách tương tự cho nhóm quan hệ mờ bậc cao.  
 
 
 
 
 
 
 
3.5. Giải mờ và tính giá trị dự báo đầu ra  
Để giải mờ dữ liệu đã mờ hóa và tính toán giá trị cho nhóm quan hệ mờ bậc 1 và bậc cao. Thứ nhất, chúng tôi  
đề xuất các kỹ thuật giải mờ mới để tính toán giá trị dự báo cho các nhóm quan hệ mờ với các bậc khác nhau trong giai  
đoạn huấn luyện. Thứ hai, sử dụng quy tắc giải mờ được đề xuất trong [11] để tính toán giá trị dự báo cho các nhóm  
quan hệ mờ trong giai đoạn thử nghiệm. Các giá trị dự báo cho các nhóm quan hệ mờ dựa vào chuỗi thời gian mờ bậc 1  
và bậc cao được tính theo các quy tắc sau:  
Quy tắc 1: Trong trường hợp nhóm quan hệ mờ bậc 1(bậc =1)  
Để tính toán giá trị dự báo cho tất cả các nhóm quan hệ mờ bậc 1, chúng tôi xem xét thứ tự xuất hiện của các tập mờ  
bên vế phải trong cùng nhóm quan hệ kể cả các tập mờ lặp lại, sau đó gán các trọng số có tầm quan trọng khác nhau cho các  
tập mờ này theo thứ tự xuất hiện. Tức là các quan hệ xuất hiện gần đây hơn thì được gán với trọng số cao hơn. Điều này đã  
   
Nghiêm Văn Tính, Nguyễn Công Điều, Nguyễn Tiến Duy  
257  
thể hiện rõ sự khác biệt so với các quan hệ mờ được xây dựng trong các công trình trước đây trong [3], [11]. Giả sử có nhóm  
    
 
 
 
 
    
   
quan hệ mờ bậc 1 xuất hiện cùng vế trái là   như sau:                                  …; Khi đó, giải mờ dự báo  
 
 
   
   
cho năm t có nhóm này được tính theo công thức (3.3) sau đây:  
                         
   
   
   
   
             
(3.3)  
            
Trong đó:  
           là điểm giữ của các khoảng ui1, ui2 và uik tương ứng, mà cấp độ thuộc cao nhất của các tập mờ  
   
   
   
Ai1, Ai2 , . .. ,Aik xảy ra tại các khoảng này.  
k            là các trọng số được xác định theo thứ tự thời gian  
Quy tắc 2: Trường hợp nhóm quan hệ mờ bậc cao        
Để thiết lập giá trị dự báo cho các nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời gian bậc cao, chúng tôi xem xét thêm thông  
tin của các tập mờ xuất hiện bên vế phải của các quan hệ mờ trong cùng nhóm. Cụ thể của quy tắc được tính như sau:  
Đối với mỗi nhóm quan hệ mờ bậc cao, chúng tôi chia mỗi khoảng tương ứng với các tập mờ bên vế phải trong  
cùng nhóm thành 4 khoảng con có độ dài bằng nhau và giải mờ dự báo cho mỗi nhóm này trong giai đoạn huấn luyện  
được tính theo công thức (3.4):  
 
 
∑
           
 
     
(3.4)  
       
   
    
 
Trong đó, (1     n, 1     4 )  
n là tổng số tập mờ bên vế phải của nhóm;  
     là điểm giữa của một trong 4 khoảng con (điểm giữa của khoảng con thứ k) tương ứng với tập mờ  
   
thứ j bên vế phải của nhóm quan hệ.  
Quy tắc 3: Trường hợp nhóm quan hệ rỗng (Nhóm quan hệ mờ có vế phải chưa xác định tập mờ).  
Để tính toán giá trị dự báo cho nhóm quan hệ trong giai đoạn thử nghiệm, chúng tôi sử dụng lược đồ đề xuất  
trong [11]. Ý tưởng của lược đồ như sau:  
Đối với nhóm quan hệ chưa có mẫu luyện, tức là nhóm quan hệ chưa có tập mờ hóa bên vế phải của quan hệ.  
Giả xử xuất hiện nhóm quan hệ mờ bậc như sau:       
           . Khi đó, lược đồ gắn trọng số cao nhất   
     
 
       
đối với tập mờ xuất hiện gần nhất về tương lai   và trọng số bằng 1 cho các tập xuất hiện trước đó nằm bên vế trái  
   
của nhóm quan hệ mờ và giải mờ dự báo được tính theo công thức (3.5) sau:  
               
   
 
   
 
          
 
(3.5)  
     
 
 
 
 
   
 
Trong đó,   là phiếu bầu cử cao nhất (trọng số lớn nhất) được cho trước bởi người dùng. Trong báo cáo này,  
 
để so sánh với các mô hình dự báo trước đây, chúng tôi chọn   =15 giống như công trình được công bố trong [11].  
 
  ,   , …,  là giá trị điểm giữa của các khoảng   ,           , với (        ).  
   
   
 
      
 
3.6. Tính giá trị hàm mục tiêu cho mỗi cá thể trong PSO  
Mỗi cá thể đạt một giải pháp tối ưu thông qua giá trị hàm mục tiêu MSE (mean square error) or RMSE (root  
mean square error) như sau:  
      
 
 
 
∑
         
(3.6)  
(3.7)  
   
   
    
 
 
 
    
 
∑
R      √  
         
      
 
Trong đó;   giá trị dự báo tại thời điểm id,   là giá trị thực tại thời điểm id, n là tổng số dữ liệu tham gia dự  
   
   
báo, là bậc của quan hệ.  
Bước 5: Cập nhật vị trí tốt nhất   
của mỗi cá thể và   
của quần thể  
        
     
Trong PSO mỗi cá thể trong quần thể được đặc trưng bởi hai thành phần tốt nhất đó là: Véctơ vị trí tốt nhất của  
từng cá thể id   = [   ,   ,   , …,   ] và vị trí tốt nhất trong cả quần thể. Mỗi cá thể id được cập nhật  
        
               
       
theo giá trị của hàm mục tiêu MSE (3.6). Nếu giá trị của MSE ở thời điểm hiện tại k nhỏ hơn giá trị MSE ở thời điểm  
 
trước đó k-1 thì   
=MSE (  ) và   
= min (  
)
        
     
        
   
Bước 6: Cập nhật lại các thành phần của mỗi cá thể trong PSO  
- Cập nhật trọng số theo công thức (2.15);  
- Cập nhật vận tốc của mỗi cá thể theo công thức (2.13);  
- Cập nhật vị trí của mỗi cá thể theo công thức (2.14).  
         
258  
MÔ HÌNH DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN MỜ DỰA TRÊN ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ TỐI ƯU BẦY ĐÀN  
Bước 7: Kiểm tra điều kiện dừng  
Nếu số lượng lần lặp hiện tại còn nhỏ hơn số lần lặp tối đa (k < iter_max) hay (chưa tìm thấy giải pháp tối ưu),  
quay lại bước Bước 4. Trái lại đưa ra kết quả dự báo và độ chính xác dự báo của mô hình bằng giá trị MSE.  
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM  
Mục này thảo luận về một số kết quả dự báo đạt được từ tập dữ liệu huấn luyện và dữ liệu kiểm thử. Chúng tôi  
thực hiện mô hình dự báo bằng việc sử dụng ngôn ngữ lập trình C# trên máy tính Intel Core i7 PC, 8 GB RAM để dự  
báo tuyển sinh đại học với bộ dữ liệu về số lượng sinh viên nhập học [3] từ giai đoạn 1971 đến 1992. Các tham số để  
thực hiện mô hình dự báo được đưa ra trong Bảng 4.1.  
Bảng 4.1. Các tham số sử dụng trong mô hình dự báo trên hai tập dữ liêu  
Các tham số  
Giá trị cho dữ liệu tuyển sinh Đại học  
Số lượng cá thể trong quần thể: N =  
Số lần lặp tối đa (số thế hệ): iter_max =  
Trọng số quán tính ω (Giảm tuyến tính)  
Các hệ số tự tin cậy và hệ số xã hội C1 = C2  
Miền giới hạn vận tốc của mỗi cá thể: V =  
Miền giới hạn vị trí của mỗi cá thể: X =  
50  
150  
0,9 to 0,4  
2
[-100,100]  
[13000, 20000]  
Để đánh giá hiệu quả của mô hình đề xuất dựa trên chuỗi thời gian mờ bậc 1 với số lượng khoảng chia bằng 7,  
các mô hình trong các công trình sau được lựa chọn cho việc so sánh: mô hình [28], mô hình [29], mô hình của Wei Lu  
[30], mô hình [26] và mô hình [25]. Từ các tham số thiết lập cho dữ liệu tuyển sinh trong Bảng 4.1, mô hình đề xuất  
thực hiện 20 lần chạy, kết quả của lần chạy có giá trị MSE (3.6) hoặc RMSE (3.7) nhỏ nhất được chọn là giá trị dự báo  
cuối cùng. Hiệu quả của mô hình dự báo đề xuất được so sánh với các mô hình trước đây chỉ ra trong Bảng 4.2. Trong  
đó, cột thứ 1, cột thứ 2 và cột thứ 3 thể hiện dữ liệu năm dự báo, dữ liệu tuyển sinh, các tập mờ biểu diễn dữ liệu tuyển  
sinh. Các cột còn lại là kết quả dự báo tương ứng với các mô hình được chọn để so sánh trong giai đoạn huấn luyện.  
Bảng 4.2. So sánh mô hình đề xuất với các mô hình khác dựa trên chuôi thời gian bậc 1 với 7 khoảng chia  
Dữ liệu  
thực  
Mô hình  
Mô hình  
Mô hình  
Mô hình  
Mô hình  
Mô hình đề  
xuất  
Tập mờ  
Năm  
1971  
1972  
1973  
1974  
1975  
1976  
1977  
1978  
1979  
1980  
1981  
1982  
1983  
1984  
1985  
1986  
1987  
1988  
1989  
1990  
1991  
1992  
1993  
RMSE  
MSE  
A1  
A1  
A1  
A2  
A3  
A3  
A4  
A4  
A6  
A6  
A5  
A3  
A3  
A2  
A2  
A5  
A6  
A7  
A7  
A7  
A7  
A7  
N/A  
-
-
-
-
-
-
13563  
13867  
14696  
15460  
15311  
15603  
15861  
16807  
16919  
16388  
15433  
15497  
15145  
15163  
15984  
16859  
18150  
18970  
19328  
19337  
18876  
N/A  
13486  
14156  
15215  
15906  
15906  
15906  
15906  
16559  
16559  
16559  
16559  
15906  
15906  
15906  
15906  
16559  
16559  
19451  
18808  
18808  
18808  
13944  
13944  
13944  
15328  
15753  
15753  
15753  
16279  
17270  
17270  
16279  
15753  
15753  
15753  
15753  
16279  
17270  
19466  
18933  
18933  
18933  
14279  
14279  
14279  
15392  
15392  
15392  
16467  
16467  
17161  
17161  
14916  
15392  
15392  
15392  
15470  
16467  
17161  
19257  
19257  
19257  
19257  
13820  
13820  
13820  
15402  
15536  
15536  
16461  
16461  
17444  
17444  
15402  
15536  
15536  
15536  
15536  
16461  
17444  
19135  
19135  
19135  
19135  
13865  
14082  
14514  
15391  
15219  
15219  
16219  
16625  
16951  
16439  
15219  
15219  
15219  
16219  
15812  
17439  
19165  
19165  
19165  
19165  
15219  
13848  
13848  
14426  
15420  
15420  
15644  
15757  
16765  
17270  
16548  
15420  
15532  
15321  
15142  
15664  
16653  
17811  
19075  
19075  
19075  
19075  
19170  
196.1  
38422.7  
578.3  
334430.9  
506  
256036  
445.2  
198203  
441.3  
194745.7  
210.9  
44507  
Thêm nữa, mô hình đề xuất được so sánh với các mô hình trước đây dựa trên chuỗi thời gian mờ bậc 1 với số  
lượng khoảng chia là 14 khoảng. Các mô hình sau được lựa chọn cho việc so sánh là: C96 [3], H01[5], CC06a [8],  
HPSO [11], AFPSO [12], VGPSO [14], Wei Lu [30]. Từ các kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình dự báo đề xuất  
hiệu quả hơn so với các mô hình trước đây dựa trên chuỗi thời gian mờ bậc 1. Cụ thể với số khoảng chia bằng 7 mô  
   
Nghiêm Văn Tính, Nguyễn Công Điều, Nguyễn Tiến Duy  
259  
hình đề xuất đưa ra sai số dự báo (MSE =38422.7) nhỏ nhất trong số mô hình đưa ra so sánh trong Bảng 4.2, trong  
Bảng 4.3 với số khoảng chia bằng 14 đưa ra sai số dự báo (MSE = 5249.9) cũng tốt hơn các mô hình hiện có trong  
bảng.  
Bảng 4.3. So sánh mô hình đề xuất với các mô hình khác dựa trên chuỗi thời gian bậc 1 với 14 khoảng chia  
Năm  
1971  
1972  
1973  
----  
Dữ liệu thực  
13055  
13563  
13867  
----  
C96  
---  
H01  
---  
CC06a  
---  
HPSO  
---  
Wei Lu  
---  
AFPSO  
---  
VGPSO MH đề xuất  
---  
---  
14000  
14000  
----  
14000  
14000  
----  
13714  
13714  
----  
13555  
13994  
----  
13512  
13998  
-----  
13579  
13812  
----  
13434  
13841  
----  
13433  
13851  
----  
1990  
1991  
1992  
MSE  
19328  
19337  
18876  
19000  
19000  
19000  
407507  
19000  
19500  
19149  
226611  
19300  
19149  
19014  
35324  
19340  
19340  
19014  
22965  
19241  
19666  
18718  
14534  
19418  
19260  
19031  
8224  
19340  
19340  
18820  
7475  
19486  
19486  
18869  
5249.9  
Hơn thế, trong bài báo này chúng tôi thực hiện mô hình dự báo dựa trên quan hệ mờ bậc cao từ bậc 2 đến bậc 9  
với số khoảng chia được cố định là 7 khoảng. Kết quả dự báo dựa trên mô hình chuỗi thời gian mờ bậc cao được thể  
hiện trong Bảng 4.4 sau đây. Quan sát Bảng 4.4 cho thấy mô hình dự báo đề xuất càng hiệu quả khi bậc của quan hệ  
mờ tăng lên theo sự tăng số lượng quan sát của chuỗi thời gian.  
Bảng 4.4. Kết quả dự báo của của mô hình đề xuất dựa trên chuỗi thời gian mờ bậc cao với số khoảng chia bằng 7  
Năm  
1973  
1974  
1975  
1976  
1977  
1978  
1979  
1980  
1981  
----  
Giá trị thực  
13867  
14696  
15460  
15311  
15603  
15861  
16807  
16919  
16388  
----  
Bậc 2  
13874  
14678  
15488  
15310  
15595  
15906  
16724  
17066  
16390  
----  
Bậc 3  
Bậc 4  
Bậc 5  
Bậc 6  
Bậc 7  
Bậc 8  
Bậc 9  
14694  
15457  
15333  
15580  
15852  
16814  
16951  
16381  
----  
15468  
15311  
15591  
15852  
16829  
16926  
16387  
----  
15310  
15606  
15856  
16862  
16862  
16394  
----  
15612  
15851  
16798  
16927  
16396  
----  
15873  
16863  
16863  
16386  
----  
16830  
16919  
16394  
----  
16886  
16388  
----  
1991  
1992  
MSE  
19337  
18876  
19298  
18958  
19356  
18927  
19354  
18924  
19331  
18878  
19358  
18930  
19329  
18879  
19356  
18873  
19326  
18847  
8802.55  
774.05  
550.17  
526.29  
554.94  
603.37  
396.29  
491  
Để xác minh tính hiệu quả của mô hình dự báo đề xuất dựa trên chuỗi thời gian mờ bậc cao, bốn mô hình liệt kê  
trong Bảng 4.5 được lựa chọn cho việc so sánh: Trong Bảng 4.5 mô hình CC06b [9] sử dụng giải thuật di truyền để tối  
ưu khoảng, các mô hình HPSO [11], AFPSO [12], VGPSO [14] và mô hình đề xuất đều sử dụng PSO để chia khoảng.  
Nhưng điểm khác biệt chính giữa các mô hình cùng sử dụng PSO là kỹ thuật giải mờ đầu ra và cách nhóm quan hệ mờ.  
Ngoài việc sử dụng PSO để tìm khoảng chia phù hợp, mô hình đề xuất được kết hợp thêm ĐSGT để chia các khoảng  
ban đầu có độ dài khác nhau thay vì các khoảng có độ dài bằng nhau. Từ kết quả so sánh về độ chính xác dự báo MSE  
(3.6) liệt kê trong Bảng 4.5 cho thấy mô hình đề xuất đưa ra độ chính xác dự báo với giá trị MSE nhỏ hơn so với các  
mô hình được chọn để so sánh dựa trên quan hệ mờ bậc cao (từ bậc 2 đến bậc 9) với cùng số khoảng chia bằng 7. Đặc  
biệt mô hình đề xuất đưa sai số dự báo tốt nhất thông qua giá trị (MSE = 396.29) trong trường hợp quan hệ mờ bậc 8.  
Điều đó, chứng tỏ rằng mô hình dự báo đề xuất hiệu quả hơn so với mô hình dự báo trước đây khi thử nghiệm trên tập  
dữ liệu tuyển sinh Đại học Alabama. Để trực quan hơn, thiên hướng dự báo của mô hình đề xuất với các mô hình trước  
đây cũng được minh họa trên Hình 4.1.  
Bảng 4.5. So sánh độ chính xác dự báo MSE giữa mô hình đề xuất và các mô hình C02, CC06b, HPSO, AFPSO dựa trên các bậc  
khác nhau và số khoảng chia bằng 7  
Mô hình  
Số bậc của quan hệ  
Average  
95867.63  
31377.5  
28121.38  
20261.38  
22183  
2
3
4
5
6
7
8
9
C02 [4]  
89093  
67834  
67123  
19594  
19868  
8802.55  
86694  
31123  
31644  
31189  
31307  
774.05  
89376  
32009  
23271  
20155  
23288  
550.17  
94539  
24984  
23534  
20366  
23552  
526.29  
98215  
26980  
23671  
22276  
23684  
554.94  
104056  
26969  
20651  
18482  
20669  
603.37  
102179  
22387  
17106  
14778  
17116  
396.36  
102789  
18734  
17971  
15251  
17987  
491  
CC06b [9]  
HPSO [11]  
AFPSO [12]  
VGPSO [14]  
MH đề xuất  
1587.34  
   
260  
MÔ HÌNH DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN MỜ DỰA TRÊN ĐẠI SỐ GIA TỬ VÀ TỐI ƯU BẦY ĐÀN  
Hình 4.1. Xu thế dự báo của mô hình đề xuất so với các mô hình trước đây dựa trên các quan hệ mờ bậc cao với 7 khoảng chia  
V. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ kết hợp giữa đại số gia tử và kỹ thuật tối ưu  
bầy đàn. Mô hình đề xuất đã đề cập đến ba vấn đề được xem là quan trọng và ảnh hưởng lớn đến độ chính xác dự báo, là  
vấn đề xác định khoảng chia từ tập nền, cách thiết lập nhóm quan hệ mờ và các quy tắc giải mờ dự báo đầu ra. Để khắc  
phục những hạn chế của các mô hình chuỗi thời gian mờ cùng sử dụng nhóm quan hệ mờ, mô hình đề xuất sử dụng khái  
niệm nhóm quan hệ mờ phụ thuộc thời gian và được chứng minh là hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế hơn. Thêm  
nữa, kỹ thuật tối ưu PSO được áp dụng trong việc tìm khoảng chia tối ưu từ tập nền nhằm nâng cao độ chính xác dự báo  
của mô hình. Trong số các kỹ thuật khai phá và tự tìm giải pháp tối ưu, PSO được xem là thực hiện tốt hơn với các kỹ  
thuật heuristic khác về tỷ lệ thành công cũng như chất lượng giải pháp. Bằng việc kết hợp giữa ĐSGT và kỹ thuật tối ưu  
PSO, hiệu quả dự báo của mô hình đề xuất được cải thiện một cách đáng kể. Từ việc thử nghiệm trên tập dữ liệu về tuyển  
sinh đại học của Trường Đại học Alabama, kết quả dự báo cho thấy mô hình đề xuất vợt trội hơn so với các mô hình trước  
đây dựa trên chuỗi thời gian mờ bậc một và bậc cao. Chi tiết cho sự so sánh được thể hiện trên các Bảng 4.2 - 4.5. Tuy  
nhiên mô hình dự báo hiện tại chỉ được áp dụng đối với chuỗi thời gian mờ một nhân tố. Kỳ vọng trong thời gian tới, mô  
hình đề xuất sẽ được mở rộng và phát triển trên các tập dữ liệu có nhiều nhân tố hơn.  
VI. REFERENCES  
[1] Song, Q., Chissom, B. S., 1993b.. Fuzzy time series and its models. Fuzzy Sets and Systems, vol.54, no.3, 269-277.  
[2] Q. Song, B. S. Chissom. “Forecasting Enrollments with Fuzzy Time Series - Part I”. Fuzzy set and systems, vol.  
54, pp.1-9. 1993b.  
[3] S. M. Chen. “Forecasting Enrollments based on Fuzzy Time Series”. Fuzzy set and systems, vol. 81, pp. 311-319.  
1996.  
[4] S. M. Chen. “Forecasting Enrollments based on hight-order Fuzzy Time Series”. Int. Journal: Cybernetic and  
Systems, N.33, pp. 1-16, 2002.  
[5] Huarng K. “Effective lengths of intervals to improve forecasting in fuzzy time series”. Fuzzy Sets and Systems,  
123, (2001b), 387-394.  
[6] Lee, L. W. et al.. Handling forecasting problems based on two-factors high-order fuzzy time series. IEEE  
Transactions on Fuzzy Systems, 14, 468-477, 2006.  
[7] S. M. Chen, K Tanuwijaya. “Fuzzy forecasting based on high- order fuzzy logical relationships and automatic  
clustering techniques”. Expert Systems with Applications. 38, 15425-15437, 2011.  
[8] Chen S. M., & Chung N. Y. “Forecasting enrollments of students by using fuzzy time series and genetic  
algorithms”. International Journal of Information and Management Sciences, 17, 1-17, 2006a.  
[9] Chen S. M., Chung N. Y. Forecasting enrollments using high-order fuzzy time series and genetic algorithms.  
International of Intelligent Systems 21, 485-501, 2006b.  
[10] Lee L. W. Wang L. H., & Chen, S. M.. “Temperature prediction and TAIFEX forecasting based on hight order  
fuzzy logical ralationship and genetic simulated annealing techniques”. Expert Systems with Applications, 34,  
328-336, 2008.  
[11] I. H. Kuo, et al.. “An improved method for forecasting enrollments based on fuzzy time series and particle swarm  
optimization”. Expert systems with applications, 36, 6108-6117, 2009.  
                     
Nghiêm Văn Tính, Nguyễn Công Điều, Nguyễn Tiến Duy  
261  
[12] Huang Y. L. et al.. A hybrid forecasting model for enrollments based on aggregated fuzzy time series and particle  
swarm optimization. Expert Systems with Applications, 38, 8014-8023, 2011  
[13] Ling-Yuan Hsu et al.. Temperature prediction and TAIFEX forecasting based on fuzzy relationships and MTPSO  
techniques, Expert Syst. Appl.37, 2756-2770, 2010.  
[14] Nguyen Cong Dieu, Nghiem Van Tinh. Fuzzy time series forecasting based on time-depending fuzzy relationship  
groups and particle swarm optimization, In: Proceedings of the 9th National conference on Fundamental and  
Applied Information Technology Research (FAIR’9), pp.125-133, 2016  
[15] Park J. I., Lee D. J., Song C. K., Chun M. G.. TAIFEX and KOSPI 200 forecasting based on two-factors high-  
order fuzzy time series and particle swarm optimization, Expert Systems with Applications 37, 959-967, 2010.  
[16] Chen, S. M, Bui Dang H. P.. Fuzzy time series forecasting based on optimal partitions of intervals and optimal  
weighting véctơs. Knowledge-Based Systems 118, 204-216, 2017.  
[17] Chen S. M., Jian W. S.. Fuzzy forecasting based on two-factors second-order fuzzy-trend logical relationship  
groups, similarity measures and PSO techniques. Information Sciences 391-392, 65-79, 2017.  
[18] M. Bose, K. Mali. A novel data partitioning and rule selection technique for modelling high-order fuzzy time  
[19] Tian Z. H., Wang P., He T. Y.. Fuzzy time series based on K-means and particle swarm optimization algorithm. Man-  
Machine-Environement System Engineering. Lecture Note in Electrical Enginearing 406, 181-189, Springer 2016.  
[20] Zhiqiang Zhang, Qiong Zhu. “Fuzzy time series forecasting based on k-means clustering”. Open Journal of  
Applied Sciences, 2,100-103, 2012.  
[21] Nghiem Van Tinh & Nguyen Cong Dieu. Improving the forecasted accuracy of model based on fuzzy time series  
and k-means clustering. Journal of science and technology: issue on information and communications technology,  
No.2, 51-60, 2017  
[22] Bulut E., Duru O., & Yoshida, S. A.. Fuzzy time series forecasting model formulti-variate forecasting analysis  
with fuzzy c-means clustering. WorldAcademy of Science, Engineering and Technology, 63, 765-771, 2012.  
[23] S. Askari, N. Montazerin. A high-order multi-variable. Fuzzy Time Series forecasting algorithm based on fuzzy  
clustering, Expert Systems with Applications ,42, 2121-2135, 2015.  
[24] Ho N. C.,Wechler W..“Hedge algebra: An algebraic approach to structures of sets of linguistic truth values”,  
fuzzy Sets and Systems, 35, pp. 281-293, 1990.  
[25] Nguyễn Cát Hồ, Nguyễn Công Điều, Vũ Như Lân. “Ứng dụng đại số gia tử trong dự báo chuỗi thời gian mờ”.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Vol 54, No.2, 2016.  
[26] Hoang Tung, Nguyen Dinh Thuan, Vu Minh Loc. The partitioning method based on hedge algebras for fuzzy  
time series forecasting, Journal of Science and Technology, 54 (5), 571-583, 2016.  
[27] Kennedy J., & Eberhart R.. Particle swarm optimization. Proceedings of IEEE international Conference on  
Neural Network, 1942-1948, 1995.  
[28] Lizhu Wang, Xiaodong Liu, Witold Pedrycz. “Effective intervals determined by information granules to improve  
forecasting in fuzzy time series”. Expert Systems withApplications, vol.40, pp.5673-5679, 2013.  
[29] Lizhu Wang et al. “Determination of temporal information granules to improve forecasting in fuzzy time series”.  
Expert Systems with Applications, vol.41, pp.3134-3142, 2014  
[30] Wei Lu et al.. “Using interval information granules to improve forecasting in fuzzy time series”. International  
Journal of Approximate Reasoning, vol.57, pp.1-18, 2015.  
A FUZZY TIME SERIES FORECASTING MODEL BASED ON THE HEDGE ALGEBRAS  
AND PARTICLE SWARM OPTIMIZATION  
Nghiem Van Tinh, Nguyen Cong Dieu, Nguyen Tien Duy  
ABSTRACT: In recent years, many forecasting models based on fuzzy time series that have been proposed for the analysis of time  
series. In the forecasting model, the main factors that may affect the forecasted accuracy of model are partitioning the universe of  
discourse and determining fuzzy logical relationship groups. In this paper, we propose a new fuzzy time series forecasting model  
based on hedge algebra (HA) and particle swarm optimization (PSO). In that, HA is used as a tool to partition the universe of  
discourse into intervals with unequal length corresponding to the semantic intervals that calculated from the linguistic terms. After  
processing of generating the interval, the observation data of time are represented by fuzzy sets and use them to establish fuzzy logic  
relationship groups. Finally, the proposed model is combined with the PSO technique to find the appropriate divisor to increase the  
forecasting probability. Finally, the proposed model combined with the PSO technique to find the proper length of each interval for  
increasing forecast accuracy. Evaluating the performance of the proposed model based on historical data of enrolments at the  
University of Alabama. The experimental results show that the proposed model the achieves good forecasting results compared to  
other existing forecasting models based on the first - order and high-order fuzzy time series.  
                           
pdf 11 trang Thùy Anh 16280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ dựa trên đại số gia tử và tối ưu bầy đàn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_du_bao_chuoi_thoi_gian_mo_dua_tren_dai_so_gia_tu_va.pdf