Giáo trình Lập trình C++

Bài 1 : Cấu Trúc Của Một Chương Trình C++  
Có lẽ một trong những cách tốt nhất để bắt đầu học một ngôn ngữ lập trình là bằng một  
chương trình. Vậy đây là chương trình đầu tiên của chúng ta :  
// my first program in C++  
Hello World!  
#include <iostream.h>  
int main ()  
{
cout << "Hello World!";  
return 0;  
}
Chương trình trên đây là chương trình đầu tiên mà hầu hết những người học nghề lập  
trình viết đầu tiên và kết quả của nó là viết câu "Hello, World" lên màn hình. Đây là một  
trong những chương trình đơn giản nhất có thể viết bằng C++ nhưng nó đã bao gồm  
những phần cơ bản mà mọi chương trình C++ có. Hãy cùng xem xét từng dòng một :  
// my first program in C++  
Đây là dòng chú thích. Tất cả các dòng bắt đầu bằng hai dấu sổ (//) được coi là chút thích  
mà chúng không có bất kì một ảnh hưởng nào đến hoạt động của chương trình. Chúng có  
thể được các lập trình viên dùng để giải thích hay bình phẩm bên trong mã nguồn của  
chương trình. Trong trường hợp này, dòng chú thích là một giải thích ngắn gọn những gì  
mà chương trình chúng ta làm.  
#include <iostream.h>  
Các câu bắt đầu bằng dấu (#) được dùng cho preprocessor (ai dịch hộ tôi từ này với).  
Chúng không phải là những dòng mã thực hiện nhưng được dùng để báo hiệu cho trình  
dịch. Ở đây câu lệnh #include <iostream.h> báo cho trình dịch biết cần phải  
"include" thư viện iostream. Đây là một thư viện vào ra cơ bản trong C++ và nó phải  
được "include" vì nó sẽ được dùng trong chương trình. Đây là cách cổ điển để sử dụng  
thư viện iostream  
int main ()  
Dòng này tương ứng với phần bắt đầu khai báo hàm main. Hàm main là điểm mà tất cả  
các chương trình C++ bắt đầu thực hiện. Nó không phụ thuộc vào vị trí của hàm này (ở  
đầu, cuối hay ở giữa của mã nguồn) mà nội dung của nó luôn được thực hiện đầu tiên khi  
chương trình bắt đầu. Thêm vào đó, do nguyên nhân nói trên, mọi chương trình C++ đều  
phải tồn tại một hàm main.  
Theo sau main là một cặp ngoặc đơn bởi vì nó là một hàm. Trong C++, tất cả các hàm  
mà sau đó là một cặp ngoặc đơn () thì có nghĩa là nó có thể có hoặc không có tham số  
(không bắt buộc). Nội dung của hàm main tiếp ngay sau phần khai báo chính thức được  
bao trong các ngoặc nhọn ( { } ) như trong ví dụ của chúng ta  
cout << "Hello World";  
Dòng lệnh này làm việc quan trọng nhất của chương trình. cout là một dòng (stream)  
output chuẩn trong C++ được định nghĩa trong thư viện iostream và những gì mà dòng  
lệnh này làm là gửi chuỗi kí tự "Hello World"ra màn hình.  
Chú ý rằng dòng này kết thúc bằng dấu chấm phẩy ( ; ). Kí tự này được dùng để kết thúc  
một lệnh và bắt buộc phải có sau mỗi lệnh trong chương trình C++ của bạn (một trong  
những lỗi phổ biến nhất của những lập trình viên C++ là quên mất dấu chấm phẩy).  
return 0;  
Lệnh return kết thúc hàm main và trả về mã đi sau nó, trong trường hợp này là 0. Đây là  
một kết thúc bình thường của một chương trình không có một lỗi nào trong quá trình thực  
hiện. Như bạn sẽ thấy trong các ví dụ tiếp theo, đây là một cách phổ biến nhất để kết thúc  
một chương trình C++.  
Chương trình được cấu trúc thành những dòng khác nhau để nó trở nên dễ đọc hơn nhưng  
hoàn toàn không phải bắt buộc phải làm vậy. Ví dụ, thay vì viết  
int main ()  
{
cout << " Hello World ";  
return 0;  
}
ta có thể viết  
int main () { cout << " Hello World "; return 0; }  
cũng cho một kết quả chính xác như nhau.  
Trong C++, các dòng lệnh được phân cách bằng dấu chấm phẩy ( ;). Việc chia chương  
trình thành các dòng chỉ nhằm để cho nó dễ đọc hơn mà thôi.  
Các chú thích.  
Các chú thích được các lập trình viên sử dụng để ghi chú hay mô tả trong các phần của  
chương trình. Trong C++ có hai cách để chú thích  
// Chú thích theo dòng  
/* Chú thích theo khối */  
Chú thích theo dòng bắt đầu từ cặp dấu xổ (//) cho đến cuối dòng. Chú thích theo khối  
bắt đầu bằng /* và kết thúc bằng */và có thể bao gồm nhiều dòng. Chúng ta sẽ thêm  
các chú thích cho chương trình :  
/* my second program in C++  
with more comments */  
Hello World! I'm a C++ program  
#include <iostream.h>  
int main ()  
{
cout << "Hello World! ";  
// says Hello World!  
cout << "I'm a C++ program";  
// says I'm a C++ program  
return 0;  
}
Nếu bạn viết các chú thích trong chương trình mà không sử dụng các dấu //, /* hay */,  
trình dịch sẽ coi chúng như là các lệnh C++ và sẽ hiển thị các lỗi.  
Bài 1 : Cấu Trúc Của Một Chương Trình C++  
Có lẽ một trong những cách tốt nhất để bắt đầu học một ngôn ngữ lập trình là bằng một  
chương trình. Vậy đây là chương trình đầu tiên của chúng ta :  
// my first program in C++  
Hello World!  
#include <iostream.h>  
int main ()  
{
cout << "Hello World!";  
return 0;  
}
Chương trình trên đây là chương trình đầu tiên mà hầu hết những người học nghề lập  
trình viết đầu tiên và kết quả của nó là viết câu "Hello, World" lên màn hình. Đây là một  
trong những chương trình đơn giản nhất có thể viết bằng C++ nhưng nó đã bao gồm  
những phần cơ bản mà mọi chương trình C++ có. Hãy cùng xem xét từng dòng một :  
// my first program in C++  
Đây là dòng chú thích. Tất cả các dòng bắt đầu bằng hai dấu sổ (//) được coi là chút thích  
mà chúng không có bất kì một ảnh hưởng nào đến hoạt động của chương trình. Chúng có  
thể được các lập trình viên dùng để giải thích hay bình phẩm bên trong mã nguồn của  
chương trình. Trong trường hợp này, dòng chú thích là một giải thích ngắn gọn những gì  
mà chương trình chúng ta làm.  
#include <iostream.h>  
Các câu bắt đầu bằng dấu (#) được dùng cho preprocessor (ai dịch hộ tôi từ này với).  
Chúng không phải là những dòng mã thực hiện nhưng được dùng để báo hiệu cho trình  
dịch. Ở đây câu lệnh #include <iostream.h> báo cho trình dịch biết cần phải  
"include" thư viện iostream. Đây là một thư viện vào ra cơ bản trong C++ và nó phải  
được "include" vì nó sẽ được dùng trong chương trình. Đây là cách cổ điển để sử dụng  
thư viện iostream  
int main ()  
Dòng này tương ứng với phần bắt đầu khai báo hàm main. Hàm main là điểm mà tất cả  
các chương trình C++ bắt đầu thực hiện. Nó không phụ thuộc vào vị trí của hàm này (ở  
đầu, cuối hay ở giữa của mã nguồn) mà nội dung của nó luôn được thực hiện đầu tiên khi  
chương trình bắt đầu. Thêm vào đó, do nguyên nhân nói trên, mọi chương trình C++ đều  
phải tồn tại một hàm main.  
Theo sau main là một cặp ngoặc đơn bởi vì nó là một hàm. Trong C++, tất cả các hàm  
mà sau đó là một cặp ngoặc đơn () thì có nghĩa là nó có thể có hoặc không có tham số  
(không bắt buộc). Nội dung của hàm main tiếp ngay sau phần khai báo chính thức được  
bao trong các ngoặc nhọn ( { } ) như trong ví dụ của chúng ta  
cout << "Hello World";  
Dòng lệnh này làm việc quan trọng nhất của chương trình. cout là một dòng (stream)  
output chuẩn trong C++ được định nghĩa trong thư viện iostream và những gì mà dòng  
lệnh này làm là gửi chuỗi kí tự "Hello World"ra màn hình.  
Chú ý rằng dòng này kết thúc bằng dấu chấm phẩy ( ; ). Kí tự này được dùng để kết thúc  
một lệnh và bắt buộc phải có sau mỗi lệnh trong chương trình C++ của bạn (một trong  
những lỗi phổ biến nhất của những lập trình viên C++ là quên mất dấu chấm phẩy).  
return 0;  
Lệnh return kết thúc hàm main và trả về mã đi sau nó, trong trường hợp này là 0. Đây là  
một kết thúc bình thường của một chương trình không có một lỗi nào trong quá trình thực  
hiện. Như bạn sẽ thấy trong các ví dụ tiếp theo, đây là một cách phổ biến nhất để kết thúc  
một chương trình C++.  
Chương trình được cấu trúc thành những dòng khác nhau để nó trở nên dễ đọc hơn nhưng  
hoàn toàn không phải bắt buộc phải làm vậy. Ví dụ, thay vì viết  
int main ()  
{
cout << " Hello World ";  
return 0;  
}
ta có thể viết  
int main () { cout << " Hello World "; return 0; }  
cũng cho một kết quả chính xác như nhau.  
Trong C++, các dòng lệnh được phân cách bằng dấu chấm phẩy ( ;). Việc chia chương  
trình thành các dòng chỉ nhằm để cho nó dễ đọc hơn mà thôi.  
Các chú thích.  
Các chú thích được các lập trình viên sử dụng để ghi chú hay mô tả trong các phần của  
chương trình. Trong C++ có hai cách để chú thích  
// Chú thích theo dòng  
/* Chú thích theo khối */  
Chú thích theo dòng bắt đầu từ cặp dấu xổ (//) cho đến cuối dòng. Chú thích theo khối  
bắt đầu bằng /* và kết thúc bằng */và có thể bao gồm nhiều dòng. Chúng ta sẽ thêm  
các chú thích cho chương trình :  
/* my second program in C++  
with more comments */  
Hello World! I'm a C++ program  
#include <iostream.h>  
int main ()  
{
cout << "Hello World! ";  
// says Hello World!  
cout << "I'm a C++ program";  
// says I'm a C++ program  
return 0;  
}
Nếu bạn viết các chú thích trong chương trình mà không sử dụng các dấu //, /* hay */,  
trình dịch sẽ coi chúng như là các lệnh C++ và sẽ hiển thị các lỗi.  
Bài 3 : Các Toán Tử  
Qua bài trước chúng ta đã biết đến sự tồn tại của các biến và các hằng. Trong C++, để  
thao tác với chúng ta sử dụng các toán tử, đó là các từ khoá và các dấu không có trong  
bảng chữ cái nhưng lại có trên hầu hết các bàn phím trên thế giới. Hiểu biết về chúng là  
rất quan trọng vì đây là một trong những thành phần cơ bản của ngôn ngữ C++.  
Toán tử gán (=).  
Toán tử gán dùng để gán một giá trị nào đó cho một biến  
a = 5;  
gán giá trị nguyên 5 cho biến a. Vế trái bắt buộc phải là một biến còn vế phải có  
thể là bất kì hằng, biến hay kết quả của một biểu thức.  
Cần phải nhấn mạnh rằng toán tử gán luôn được thực hiện từ trái sang phải  
và không bao giờ đảo ngược  
a = b;  
gán giá trị của biến a bằng giá trị đang chứa trong biến b. Chú ý rằng  
chúng ta chỉ gán giá trị của b cho a và sự thay đổi của b sau đó sẽ không  
ảnh hưởng đến giá trị của a.  
Một thuộc tính của toán tử gán trong C++ góp phần giúp nó vượt lên các  
ngôn ngữ lập trình khác là việc cho phép vế phải có thể chứa các phép gán  
khác. Ví dụ:  
a = 2 + (b = 5);  
tương đương với  
b = 5;  
a = 2 + b;  
Vì vậy biểu thức sau cũng hợp lệ trong C++  
a = b = c = 5;  
gán giá trị 5 cho cả ba biến a, b và c  
Các toán tử số học ( +, -, *, /, % )  
Năm toán tử số học được hỗ trợ bởi ngôn ngữ là:  
+ cộng  
- trừ  
* nhân  
/ chia  
% lấy phần dư (trong phép chia)  
Thứ tự thực hiện các toán tử này cũng giống như chúng được thực hiện trong toán  
học. Điều duy nhất có vẻ hơi lạ đối với bạn là phép lấy phần dư, ký hiệu bằng dấu  
phần trăm (%). Đây chính là phép toán lấy phần dư trong phép chia hai số nguyên  
với nhau. Ví dụ, nếu a = 11 % 3;, biến a sẽ mang giá trị 2 vì 11 = 3*3 +2.  
Các toán tử gán phức hợp (+=, -=, *=, /=, %=, >>=, <<=, &=, ^=, |=)  
Một đặc tính của ngôn ngữ C++ làm cho nó nổi tiếng là một ngôn ngữ súc tích  
chính là các toán tử gán phức hợp cho phép chỉnh sửa giá trị của một biến với một  
trong những toán tử cơ bản sau:  
value += increase;tương đương với value = value +  
increase;  
a -= 5;tương đương với a = a - 5;  
a /= b;tương đương với a = a / b;  
price *= units + 1;tương đương với price = price *  
(units + 1);  
và tương tự cho tất cả các toán tử khác.  
Tăng và giảm.  
Một ví dụ khác của việc tiết kiệm khi viết mã lệnh là toán tử tăng (++) và giảm (--  
). Chúng tăng hoặc giảm giá trị chứa trong một biến đi 1. Chúng tương đương với  
+=1hoặc -=1. Vì vậy, các dòng sau là tương đương:  
a++;  
a+=1;  
a=a+1;  
Một tính chất của toán tử này là nó có thể là tiền tố hoặc hậu tố, có nghĩa là có thể  
viết trước tên biến (++a) hoặc sau (a++) và mặc dù trong hai biểu thức rất đơn  
giản đó nó có cùng ý nghĩa nhưng trong các thao tác khác khi mà kết quả của việc  
tăng hay giảm được sử dụng trong một biểu thức thì chúng có thể có một khác  
biệt quan trọng về ý nghĩa: Trong trường hợp toán tử được sử dụng như là một  
tiền tố (++a) giá trị được tăng trước khi biểu thức được tính và giá trị đã tăng  
được sử dụng trong biểu thức; trong trường hợp ngược lại (a++) giá trị trong biến  
a được tăng sau khi đã tính toán. Hãy chú ý sự khác biệt :  
Ví dụ 1  
Ví dụ 2  
B=3;  
B=3;  
A=++B;  
A=B++;  
// A is 4, B is 4 // A is 3, B is 4  
Các toán tử quan hệ ( ==, !=, >, <, >=, <=)  
Để có thể so sánh hai biểu thức với nhau chúng ta có thể sử dụng các toán tử quan  
hệ. Theo chuẩn ANSI-C++ thì giá trị của thao tác quan hệ chỉ có thể là giá trị  
logic - chúng chỉ có thể có giá trị truehoặc false, tuỳ theo biểu thức kết quả là  
đúng hay sai.  
Sau đây là các toán tử quan hệ bạn có thể sử dụng trong C++  
==  
Bằng  
!=  
Khác  
>
Lớn hơn  
<
Nhỏ hơn  
> =  
Lớn hơn hoặc bằng  
< =  
Nhỏ hơn hoặc bằng  
Ví dụ:  
(7 == 5)  
sẽ trả giá trị false  
(6 >= 6)  
sẽ trả giá trị true  
tất nhiên thay vì sử dụng các số, chúng ta có thể sử dụng bất cứ biểu thức  
nào. Cho a=2, b=3và c=6  
(a*b >= c)  
sẽ trả giá trị true.  
(b+4 < a*c)  
sẽ trả giá trị false  
Cần chú ý rằng = (một dấu bằng) lf hoàn toàn khác với == (hai dấu bằng). Dấu  
đầu tiên là một toán tử gán ( gán giá trị của biểu thức bên phải cho biến ở bên trái)  
và dấu còn lại (==) là một toán tử quan hệ nhằm so sánh xem hai biểu thức có  
bằng nhau hay không.  
Trong nhiều trình dịch có trước chuẩn ANSI-C++ cũng như trong ngôn ngữ C, các  
toán tử quan hệ không trả về giá trị logic true hoặc false mà trả về giá trị int với 0  
tương ứng với false còn giá trị khác 0 (thường là 1) thì tương ứng với true.  
Các toán tử logic ( !, &&, ||).  
Toán tử ! tương đương với toán tử logic NOT, nó chỉ có một đối số ở phía bên  
phải và việc duy nhất mà nó làm là đổi ngược giá trị của đối số từ true sang false  
hoặc ngược lại. Ví dụ:  
!(5 == 5)  
trả về falsevì biểu thức bên phải (5 == 5)có giá trịtrue.  
!(6 <= 4)  
trả về truevì (6 <= 4)có giá trị false.  
!true  
trả về false.  
!false  
trả về true.  
Toán tử logic &&và ||được sử dụng khi tính toán hai biểu thức để lấy ra một kết  
quả duy nhất. Chúng tương ứng với các toán tử logic AND và OR. Kết quả của  
chúng phụ thuộc vào mối quan hệ của hai đối số:  
Kết quả Kết quả  
a && b a || b  
Đối số thứ nhất Đối số thứ hai  
a
b
true  
true  
false  
false  
true  
false  
true  
true  
false  
false  
false  
true  
true  
true  
false  
false  
Ví dụ:  
( (5 == 5) && (3 > 6) )trả về false( true && false ).  
( (5 == 5) || (3 > 6))trả về true( true || false ).  
Toán tử điều kiện ( ?).  
Toán tử điều kiện tính toán một biểu thức và trả về một giá trị khác tuỳ thuộc vào  
biểu thức đó là đúng hay sai. Cấu trúc của nó như sau:  
condition ? result1 : result2  
Nếu conditionlà truethì giá trị trả về sẽ là result1, nếu không giá trị trả về là  
result2.  
7==5 ? 4 : 3  
trả về 3 vì 7 không bằng 5.  
7==5+2 ? 4 : 3  
trả về 4 vì 7 bằng 5+2.  
5>3 ? a : b  
trả về a, vì 5 lớn hơn 3.  
a>b ? a : b  
trả về giá trị lớn hơn, ahoặc b.  
Các toán tử thao tác bit ( &, |, ^, ~, <<, >>).  
Các toán tử thao tác bit thay đổi các bit biểu diễn một biến, có nghĩa là thay đổi  
biểu diễn nhị phân của chúng  
toán tử asm Mô tả  
&
|
AND Logical AND  
OR Logical OR  
^
~
<<  
XOR Logical exclusive OR  
NOT Đảo ngược bit  
SHL Dịch bit sang trái  
>>  
SHR Dịch bit sang phải  
Các toán tử chuyển đổi kiểu  
Các toán tử chuyển đổi kiểu cho phép bạn chuyển đổi dữ liệu từ kiểu này sang  
kiểu khác. Có vài cách để làm việc này trong C++, cách cơ bản nhất được thừa kế  
từ ngôn ngữ C là đặt trước biểu thức cần chuyển đổi tên kiểu dữ liệu được bọc  
trong cặp ngoặc đơn (), ví dụ:  
int i;  
float f = 3.14;  
i = (int) f;  
Đoạn mã trên chuyển số thập phân 3.14 sang một số nguyên (3). Ở đây, toán tử  
chuyển đổi kiểu là (int). Một cách khác để làm điều này trong C++ là sử dụng các  
constructors (ở một số sách thuật ngữ này được dịch là cấu tử nhưng tôi thấy nó  
có vẻ không xuôi tai lắm) thay vì dùng các toán tử : đặt trước biểu thức cần  
chuyển đổi kiểu tên kiểu mới và bao bọc biểu thức giữa một cặp ngoặc đơn.  
i = int ( f );  
Cả hai cách chuyển đổi kiểu đều hợp lệ trong C++. Thêm vào đó ANSI-C++ còn  
có những toán tử chuyển đổi kiểu mới đặc trưng cho lập trình hướng đối tượng.  
sizeof()  
Toán tử này có một tham số, đó có thể là một kiểu dữ liệu hay là một biến và trả  
về kích cỡ bằng byte của kiểu hay đối tượng đó.  
a = sizeof (char);  
a sẽ mang giá trị 1 vì kiểu char luôn có kích cỡ 1 byte trên mọi hệ thống. Giá trị  
trả về của sizeof là một hằng số vì vậy nó luôn luôn được tính trước khi chương  
trình thực hiện.  
Các toán tử khác  
Trong C++ còn có một số các toán tử khác, như các toán tử liên quan đến con trỏ  
hay lập trình hướng đối tượng. Chúng sẽ được nói đến cụ thể trong các phần  
tương ứng.  
Thứ tự ưu tiên của các toán tử  
Khi viết các biểu thức phức tạp với nhiều toán hạng các bạn có thể tự hỏi toán hạng nào  
được tính trước, toán hạng nào được tính sau. Ví dụ như trong biểu thức sau:  
a = 5 + 7 % 2  
có thể có hai cách hiểu sau:  
a = 5 + (7 % 2)với kết quả là 6, hoặc  
a = (5 + 7) % 2với kết quả là 0  
Câu trả lời đúng là biểu thức đầu tiên. Vì nguyên nhân nói trên, ngôn ngữ C++ đã thiết  
lập một thứ tự ưu tiên giữa các toán tử, không chỉ riêng các toán tử số học mà tất cả các  
toán tử có thể xuất hiện trong C++. Thứ tự ưu tiên của chúng được liệt kê trong bảng sau  
theo thứ tự từ cao xuống thấp.  
Thứ tự Toán tử  
Mô tả  
scope  
Associativity  
Trái  
::  
1
() [ ] -> . sizeof  
2
Trái  
++ --  
~
tăng/giảm  
Đảo ngược bit  
NOT  
!
3
Phải  
& *  
Toán tử con trỏ  
Chuyển đổi kiểu  
Dương hoặc âm  
Toán tử số học  
Toán tử số học  
Dịch bit  
(type)  
+ -  
* / %  
+ -  
4
5
6
7
8
9
10  
11  
Trái  
Trái  
Trái  
Trái  
Trái  
<< >>  
< <= > >=  
== !=  
& ^ |  
&& ||  
?:  
Toán tử quan hệ  
Toán tử quan hệ  
Toán tử thao tác bit Trái  
Toán tử logic Trái  
Toán tử điều kiện Phải  
= += -= *= /= %=  
>>= <<= &= ^= |=  
12  
13  
Toán tử gán  
Phải  
,
Dấu phẩy  
Trái  
Associativity định nghĩa trong trường hợp có một vài toán tử có cùng thứ tự ưu tiên thì cái  
nào sẽ được tính trước, toán tử ở phía xa nhất bên phải hay là xa nhất bên trái.  
Nếu bạn muốn viết một biểu thức phức tạp mà lại không chắc lắm về thứ tự ưu tiên của  
các toán tử thì nên sử dụng các ngoặc đơn. Các bạn nên thực hiện điều này vì nó sẽ giúp  
chương trình dễ đọc hơn.  
Bài 4 : Các Cấu Trúc Điều Khiển  
Một chương trình thường không chỉ bao gồm các lệnh tuần tự nối tiếp nhau. Trong quá  
trình chạy nó có thể rẽ nhánh hay lặp lại một đoạn mã nào đó. Để làm điều này chúng ta  
sử dụng các cấu trúc điều khiển.  
Cùng với việc giới thiệu các cấu trúc điều khiển chúng ta cũng sẽ phải biết tới một khái  
niệm mới: khối lệnh, đó là một nhóm các lệnh được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy (;)  
nhưng được gộp trong một khối giới hạn bởi một cặp ngoặc nhọn: {và }.  
Hầu hết các cấu trúc điều khiển mà chúng ta sẽ xem xét trong chương này cho phép sử  
dụng một lệnh đơn hay một khối lệnh làm tham số, tuỳ thuộc vào chúng ta có đặt nó  
trong cặp ngoặc nhọn hay không.  
Cấu trúc điều kiện: if và else  
Cấu trúc này được dùng khi một lệnh hay một khối lệnh chỉ được thực hiện khi một điều  
kiện nào đó thoả mãn. Dạng của nó như sau:  
if (condition) statement  
trong đó conditionlà biểu thức sẽ được tính toán. Nếu điều kiện đó là true, statement  
được thực hiện. Nếu không statementbị bỏ qua (không thực hiện) và chương trình tiếp  
tục thực hiện lệnh tiếp sau cấu trúc điều kiện.  
Ví dụ, đoạn mã sau đây sẽ viết x is 100chỉ khi biến xchứa giá trị 100:  
if (x == 100)  
cout << "x is 100";  
Nếu chúng ta muốn có hơn một lệnh được thực hiện trong trường hợp conditionlà true  
chúng ta có thể chỉ định một khối lệnh bằng cách sử dụng một cặp ngoặc nhọn { }:  
if (x == 100)  
{
cout << "x is ";  
cout << x;  
}
Chúng ta cũng có thể chỉ định điều gì sẽ xảy ra nếu điều kiện không được thoả mãn bằng  
cách sửu dụng từ khoá else. Nó được sử dụng cùng với ifnhư sau:  
if (condition) statement1 else statement2  
Ví dụ:  
if (x == 100)  
cout << "x is 100";  
else  
cout << "x is not 100";  
Cấu trúc if + else có thể được móc nối để kiểm tra nhiều giá trị. Ví dụ sau đây sẽ kiểm tra  
xem giá trị chứa trong biến x là dương, âm hay bằng không.  
if (x > 0)  
cout << "x is positive";  
else if (x < 0)  
cout << "x is negative";  
else  
cout << "x is 0";  
Các cấu trúc lặp  
Mục đích của các vòng lặp là lặp lại một thao tác với một số lần nhất định hoặc trong khi  
một điều kiện nào đó còn thoả mãn.  
Vòng lặp while .  
Dạng của nó như sau:  
while (expression) statement  
và chức năng của nó đơn giản chỉ là lặp lại statementkhi điều kiện expression  
còn thoả mãn.  
Ví dụ, chúng ta sẽ viết một chương trình đếm ngược sử dụng vào lặp while:  
// custom countdown using while  
#include <iostream.h>  
Enter the starting number > 8  
8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, FIRE!  
int main ()  
{
int n;  
cout << "Enter the starting  
number > ";  
cin >> n;  
while (n>0) {  
cout << n << ", ";  
--n;  
}
cout << "FIRE!";  
return 0;  
}
Khi chương trình chạy người sử dụng được yêu cầu nhập vào một số để đếm  
ngược. Sau đó, khi vòng lặp whilebắt đầu nếu số mà người dùng nhập vào thoả  
mãn điều kiện điều kiện n>0khối lệnh sẽ được thực hiện một số lần không xác  
định chừng nào điều kiện (n>0)còn được thoả mãn.  
Chúng ta cần phải nhớ rằng vòng lặp phải kết thúc ở một điểm nào đó, vì  
vậy bên trong vòng lặp chúng ta phải cung cấp một phương thức nào đó để  
buộc conditiontrở thành sai nếu không thì nó sẽ lặp lại mãi mãi. Trong  
ví dụ trên vòng lặp phải có lệnh --n;để làm cho conditiontrở thành sai  
sau một số lần lặp.  
Vòng lặp do-while  
Dạng thức:  
do statement while (condition);  
Chức năng của nó là hoàn toàn giống vòng lặp while chỉ trừ có một điều là điều  
kiện điều khiển vòng lặp được tính toán sau khi statementđược thực hiện, vì  
vậy statementsẽ được thực hiện ít nhất một lần ngay cả khi conditionkhông  
bao giờ được thoả mãn. Ví dụ, chương trình dưới đây sẽ viết ra bất kì số nào mà  
bạn nhập vào cho đến khi bạn nhập số 0.  
// number echoer  
#include <iostream.h>  
Enter number (0 to end): 12345  
You entered: 12345  
int main ()  
{
Enter number (0 to end): 160277  
You entered: 160277  
unsigned long n;  
do {  
Enter number (0 to end): 0  
You entered: 0  
cout << "Enter number (0 to  
end): ";  
cin >> n;  
cout << "You entered: " << n  
<< "\n";  
} while (n != 0);  
return 0;  
}
Vòng lặp do-while thường được dùng khi điều kiện để kết thúc vòng lặp nằm  
trong vòng lặp, như trong ví dụ trên, số mà người dùng nhập vào là điều kiện  
kiểm tra để kết thúc vòng lặp. Nếu bạn không nhập số 0 trong ví dụ trên thì vòng  
lặp sẽ không bao giờ chấm dứt.  
Vòng lặp for .  
Dạng thức:  
for (initialization; condition; increase) statement;  
và chức năng chính của nó là lặp lại statementchừng nào conditioncòn mang  
giá trị đúng, như trong vòng lặp while. Nhưng thêm vào đó, forcung cấp chỗ  
dành cho lệnh khởi tạo và lệnh tăng. Vì vậy vòng lặp này được thiết kế đặc biệt  
lặp lại một hành động với một số lần xác định.  
Cách thức hoạt động của nó như sau:  
1, initializationđược thực hiện. Nói chung nó đặt một giá khí ban đầu  
cho biến điều khiển. Lệnh này được thực hiện chỉ một lần.  
2, conditionđược kiểm tra, nếu nó là đúng vòng lặp tiếp tục còn nếu  
không vòng lặp kết thúc và statementđược bỏ qua.  
3, statementđược thực hiện. Nó có thể là một lệnh đơn hoặc là một khối  
lệnh được bao trong một cặp ngoặc nhọn.  
4, Cuối cùng, increaseđược thực hiện để tăng biến điều khiển và vòng  
lặp quay trở lại bước 2.  
Sau đây là một ví dụ đếm ngược sử dụng vòng for.  
// countdown using a for loop  
#include <iostream.h>  
10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1,  
FIRE!  
int main ()  
{
for (int n=10; n>0; n--) {  
cout << n << ", ";  
}
cout << "FIRE!";  
return 0;  
}
Phần khởi tạo và lệnh tăng không bắt buộc phải có. Chúng có thể được bỏ qua  
nhưng vẫn phải có dấu chấm phẩy ngăn cách giữa các phần. Vì vậy, chúng ta có  
thể viết for (;n<10;)hoặc for (;n<10;n++).  
Bằng cách sử dụng dấu phẩy, chúng ta có thể dùng nhiều lệnh trong bất kì  
trường nào trong vòng for, như là trong phần khởi tạo. Ví dụ chúng ta có  
thể khởi tạo một lúc nhiều biến trong vòng lặp:  
for ( n=0, i=100 ; n!=i ; n++, i-- )  
{
// cái gì ở đây cũng được...  
}
Vòng lặp này sẽ thực hiện 50 lần nếu như n và i không bị thay đổi trong  
thân vòng lặp:  
Các lệnh rẽ nhánh và lệnh nhảy  
Lệnh break.  
Sử dụng break chúng ta có thể thoát khỏi vòng lặp ngay cả khi điều kiện để nó kết  
thúc chưa được thoả mãn. Lệnh này có thể được dùng để kết thúc một vòng lặp  
không xác định hay buộc nó phải kết thúc giữa chừng thay vì kết thúc một cách  
bình thường. Ví dụ, chúng ta sẽ dừng việc đếm ngược trước khi nó kết thúc:  
// break loop example  
#include <iostream.h>  
10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, countdown  
aborted!  
int main ()  
{
int n;  
for (n=10; n>0; n--) {  
cout << n << ", ";  
if (n==3)  
{
cout << "countdown  
aborted!";  
break;  
}
}
return 0;  
}
Lệnh continue.  
Lệnh continue làm cho chương trình bỏ qua phần còn lại của vòng lặp và nhảy  
sang lần lặp tiếp theo. Ví dụ chúng ta sẽ bỏ qua số 5 trong phần đếm ngược:  
// break loop example  
#include <iostream.h>  
10, 9, 8, 7, 6, 4, 3, 2, 1,  
FIRE!  
int main ()  
{
for (int n=10; n>0; n--) {  
if (n==5) continue;  
cout << n << ", ";  
}
cout << "FIRE!";  
return 0;  
}
Lệnh goto.  
Lệnh này cho phép nhảy vô điều kiện tới bất kì điểm nào trong chương trình. Nói  
chung bạn nên tránh dùng nó trong chương trình C++. Tuy nhiên chúng ta vẫn có  
một ví dụ dùng lệnh goto để đếm ngược:  
// goto loop example  
#include <iostream.h>  
int main ()  
{
10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1,  
FIRE!  
int n=10;  
loop: ;  
cout << n << ", ";  
n--;  
if (n>0) goto loop;  
cout << "FIRE!";  
return 0;  
}
Hàm exit.  
Mục đích của exit là kết thúc chương trình và trả về một mã xác định. Dạng thức  
của nó như sau  
void exit (int exit code);  
exit codeđược dùng bởi một số hệ điều hành hoặc có thể được dùng bởi các  
chương trình gọi. Theo quy ước, mã trả về 0 có nghĩa là chương trình kết thúc  
bình thường còn các giá trị khác 0 có nghĩa là có lỗi.  
Cấu trúc lựa chọn: switch.  
Cú pháp của lệnh switch hơi đặc biệt một chút. Mục đích của nó là kiểm tra một vài giá  
trị hằng cho một biểu thức, tương tự với những gì chúng ta làm ở đầu bài này khi liên kết  
một vài lệnh if và else if với nhau. Dạng thức của nó như sau:  
switch (expression) {  
case constant1:  
block of instructions 1  
break;  
case constant2:  
block of instructions 2  
break;  
.
.
.
default:  
default block of instructions  
}
Nó hoạt động theo cách sau: switch tính biểu thức và kiểm tra xem nó có bằng  
constant1hay không, nếu đúng thì nó thực hiện block of instructions 1cho đến  
khi tìm thấy từ khoá break, sau đó nhảy đến phần cuối của cấu trúc lựa chọn switch.  
Còn nếu không, switch sẽ kiểm tra xem biểu thức có bằng constant2hay không. Nếu  
đúng nó sẽ thực hiện block of instructions 2cho đến khi tìm thấy từ khoá break.  
Cuối cùng, nếu giá trị biểu thức không bằng bất kì hằng nào được chỉ định ở trên (bạn có  
thể chỉ định bao nhiêu câu lệnh case tuỳ thích), chương trình sẽ thực hiện các lệnh trong  
phần default: nếu nó tồn tại vì phần này không bắt buộc phải có.  
Hai đoạn mã sau là tương đương:  
ví dụ switch  
if-else tương đương  
switch (x) {  
case 1:  
cout << "x is 1";  
if (x == 1) {  
cout << "x is 1";  
}
else if (x == 2) {  
break;  
case 2:  
cout << "x is 2";  
cout << "x is 2";  
break;  
default:  
}
else {  
cout << "value of x unknown";  
}
cout << "value of x  
unknown";  
}
Tôi đã nói ở trên rằng cấu trúc của lệnh switch hơi đặc biệt. Chú ý sự tồn tại của lệnh  
break ở cuối mỗi khối lệnh. Điều này là cần thiết vì nếu không thì sau khi thực hiện  
block of instructions 1chương trình sẽ không nhảy đến cuối của lệnh switch mà sẽ  
thực hiện các khối lệnh tiếp theo cho đến khi nó tìm thấy lệnh break đầu tiên. Điều này  
khiến cho việc đặt cặp ngoặc nhọn { }trong mỗi trường hợp là không cần thiết và có thể  
được dùng khi bạn muốn thực hiện một khối lệnh cho nhiều trường hợp khác nhau, ví dụ:  
switch (x) {  
case 1:  
case 2:  
case 3:  
cout << "x is 1, 2 or 3";  
break;  
default:  
cout << "x is not 1, 2 nor 3";  
}
Chú ý rằng lệnh switchchỉ có thể được dùng để so sánh một biểu thức với các hằng. Vì  
vậy chúng ta không thể đặt các biến (case (n*2):) hay các khoảng (case (1..3):) vì  
chúng không phải là các hằng hợp lệ.  
style="BORDER-RIGHT: medium none; PADDING-RIGHT: 0cm; BORDER-TOP:  
medium none; PADDING-LEFT: 0cm; PADDING-BOTTOM: 0cm; BORDER-LEFT:  
medium none; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: windowtext 3pt solid">  
Nếu bạn cần kiểm tra các khoảng hay nhiều giá trị không phải là hằng số hãy kết hợp các  
lệnh if và else if  
Bài 5 : Hàm (I)  
Hàm là một khối lệnh được thực hiện khi nó được gọi từ một điểm khác của chương  
trình. Dạng thức của nó như sau:  
type name ( argument1, argument2, ...) statement  
trong đó:  
typelà kiểu dữ liệu được trả về của hàm  
namelà tên gọi của hàm.  
argumentslà các tham số (có nhiều bao nhiêu cũng được tuỳ theo nhu cầu). Một tham số  
bao gồm tên kiểu dữ liệu sau đó là tên của tham số giống như khi khai báo biến (ví dụ  
int x) và đóng vai trò bên trong hàm như bất kì biến nào khác. Chúng dùng để truyền  
tham số cho hàm khi nó được gọi. Các tham số khác nhau được ngăn cách bởi các dấu  
phẩy.  
statementlà thân của hàm. Nó có thể là một lệnh đơn hay một khối lệnh.  
Dưới đây là ví dụ đầu tiên về hàm:  
// function example  
The result is 8  
#include <iostream.h>  
int addition (int a, int b)  
{
int r;  
r=a+b;  
return (r);  
}
int main ()  
{
int z;  
z = addition (5,3);  
cout << "The result is " << z;  
return 0;  
}
Để có thể hiểu được đoạn mã này, trước hết hãy nhớ lại những điều đã nói ở bài đầu tiên:  
một chương trình C++ luôn bắt đầu thực hiện từ hàm main. Vì vậy chúng ta bắt đầu từ  
đây.  
Chúng ta có thể thấy hàm mainbắt đầu bằng việc khai báo biến z kiểu int. Ngay sau đó  
là một lời gọi tới hàm addition. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy sự tương tự giữa cấu trúc của  
lời gọi hàm với khai báo của hàm:  
Các tham số có vai trò thật rõ ràng. Bên trong hàm mainchúng ta gọi hàm additionvà  
truyền hai giá trị: 5và 3tương ứng với hai tham số int avà int bđược khai báo cho  
hàm addition.  
Vào thời điểm hàm được gọi từ main, quyền điều khiển được chuyển sang cho hàm  
addition. Giá trị của c hai tham số (5và 3) được copy sang hai biến cục bộ int avà  
int bbên trong hàm.  
Dòng lệnh sau:  
return (r);  
kết thúc hàm addition, và trả lại quyền điều khiển cho hàm nào đã gọi nó (main) và tiếp  
tục chương trình ở cái điểm mà nó bị ngắt bởi lời gọi đến addition. Nhưng thêm vào đó,  
giá trị được dùng với lệnh return(r) chính là giá trị được trả về của hàm.\  
Giá trị trả về bởi một hàm chính là giá trị của hàm khi nó được tính toán. Vì vậy biến zsẽ  
có có giá trị được trả về bởi addition (5, 3), đó là 8.  
Phạm vi hoạt động của các biến [nhắc lại]  
Bạn cần nhớ rằng phạm vi hoạt động của các biến khai báo trong một hàm hay bất kì một  
khối lệnh nào khác chỉ là hàm đó hay khối lệnh đó và không thể sử dụng bên ngoài chúng.  
Ví dụ, trong chương trình ví dụ trên, bạn không thể sử dụng trực tiếp các biến a, bhay r  
trong hàm mainvì chúng là các biến cục bộ của hàm addition. Thêm vào đó bạn cũng  
không thể sử dụng biến ztrực tiếp bên trong hàm additionvì nó làm biến cục bộ của  
hàm main.  
Tuy nhiên bạn có thể khai báo các biến toàn cục để có thể sử dụng chúng ở bất kì đâu, bên  
trong hay bên ngoài bất kì hàm nào. Để làm việc này bạn cần khai báo chúng bên ngoài  
mọi hàm hay các khối lệnh, có nghĩa là ngay trong thân chương trình.  
Đây là một ví dụ khác về hàm:  
// function example  
#include <iostream.h>  
The first result is 5  
The second result is 5  
The third result is 2  
The fourth result is 6  
int subtraction (int a, int b)  
{
int r;  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 64 trang Thùy Anh 25940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Lập trình C++", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_lap_trinh_c.doc
  • rarOK-GT C++.rar