Ứng dụng mạng trí tuệ nhân tạo tìm cốt liệu tương đương cho bài toán tính hệ số dẫn hiệu quả của vật liệu không đồng nhất

Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, NUCE 2021. 15 (1V): 112–122  
ỨNG DỤNG MẠNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TÌM CỐT LIỆU TƯƠNG  
ĐƯƠNG CHO BÀI TOÁN TÍNH HỆ SỐ DẪN HIỆU QUẢ CỦA VẬT  
LIỆU KHÔNG ĐỒNG NHẤT  
Nguyễn Thị Hải Nhưa,∗  
aKhoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Xây dựng,  
55 đường Giải Phóng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 21/01/2021, Sửa xong 10/03/2021, Chấp nhận đăng 11/03/2021  
Tóm tắt  
Tính chất của các vật liệu không đồng nhất có thể được tính nhanh sử dụng các công thức xấp xỉ. Các công thức  
này thường chỉ áp dụng cho các trường hợp có hình dáng cốt liệu đơn giản như hình tròn và hình cầu. Trong các  
vật liệu thực, cốt liệu có thường có hình dáng phức tạp hoặc rất phức tạp. Mô tả đầy đủ hình dáng vật liệu bằng  
phương pháp phần tử hữu hạn có thể đòi hỏi lưới chia rất mịn hoặc cần dùng đến các kỹ thuật hỗ trợ khác nếu  
dùng phương pháp phần tử mở rộng, việc này tiêu tốn thời gian và công sức tính toán. Bài báo này ứng dụng  
mạng trí tuệ nhân tạo để tìm cốt liệu tương đương có hình dạng đơn giản. Với cốt liệu tương đương, các công  
thức giải tích tính nhanh các hệ số dẫn có thể được áp dụng nhằm đơn giản hóa bài toán.  
Từ khoá: hệ số dẫn; vật liệu không đồng nhất; cốt liệu tương đương; mạng trí tuệ nhân tạo.  
APPLICATION OF ARTIFICIAL NEURAL NETWORKS SPECIFYING THE EQUIVALENT INCLUSION  
FOR THE EFFECTIVE CONDUCTIVITY OF HETEROGENEOUS MATERIALS  
Abstract  
The effective properties of inhomogeneous materials can be estimated quickly by approximation formulas.  
These formulas are limited to the cases of ideal-shaped inclusions, such as circles or spheres. The shape of  
inclusions of actual materials is usually complex or highly complex. Describing in detail using the Finite Ele-  
ment Method (FEM) may require a fine mesh or need an additional technique such as using the Extended-FEM,  
which costs time and effort. This work employs the artificial neural network to specify the equivalent simple  
inclusion. With the equivalent one, simple analytic formulas estimating the conductivity are applicable for the  
sake of simplicity.  
Keywords: conductivity; inhomogeneous material; equivalent inclusion; artificial neural network.  
https://doi.org/10.31814/stce.nuce2021-15(1V)-10 © 2021 Trường Đại học Xây dựng (NUCE)  
1. Giới thiệu  
Ở mức độ vi mô, hầu hết các vật liệu nhân tạo hoặc tự nhiên đều được cấu tạo bởi nhiều thành  
phần. Trong thực tế, các vật liệu thường được xem có đồng nhất đẳng hướng. Tính chất đại diện cho  
vật liệu ở tỉ lệ lớn được gọi là tính chất hiệu quả. Điều này hoàn toàn hợp lý khi các cốt liệu được sắp  
xếp ngẫu nhiên và một số trường hợp bố trí cốt liệu như cách bố trí các cốt liệu theo hình tam giác  
đều hoặc tại tâm của một mẫu hình vuông. Phương pháp thí nghiệm được xem như đáng tin cậy nhất  
để xác định các tham số này. Tuy nhiên, việc thực hiện thí nghiệm yêu cầu nhiều nguồn lực về thiết  
∗Tác giả đại diện. Địa chỉ e-mail: [email protected] (Như, N. T. H.)  
112  
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
bị, kinh phí và thời gian. Các phương pháp đồng nhất hóa khắc phục các hạn chế này để tìm kết quả  
dựa vào vi cấu trúc của vật liệu, bao gồm mật độ, hình dạng, bố trí hình học của các cốt liệu. Trong  
các phương pháp đồng nhất hóa, các phương pháp số đồng nhất hoá vật liệu như phương pháp phần  
tử hữu hạn FEM, phương pháp phần tử hữu hạn mở rộng XFEM, hay khai triển nhanh chuổi Fourier  
FFT... cho phép mô tả một cách chi tiết cấu trúc vi mô cho kết quả rất đáng tin cậy. Mặc dù rất phổ  
biến trong nghiên cứu và các phòng thí nghiệm nhưng vẫn chưa đủ đơn giản để áp dụng cho các tình  
huống cần có kết quả nhanh. Vì vậy, cho đến nay các phương pháp cổ điển cho kết quả nhanh như các  
ước tính biên [1–5] hoặc các công thức giải tích tính xấp xỉ [6–11] vẫn mang ý nghĩa thiết thực và  
được quan tâm, sử dụng.  
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo là xu hướng chung của tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội. Tính  
toán vật liệu ứng dụng mạng trí tuệ nhân tạo được bắt đầu từ những năm 1990 [11], trong đó mô hình  
vật liệu được xây dựng từ các kết quả của thí nghiệm. Những năm gần đây, mạng trí tuệ nhân tạo ngày  
càng được sử dụng phổ biến, ví dụ T. Kirchdoerfer, M. Ortiz [12] đã phát triển dùng mạng neuron để  
giải hệ phương trình trong tính toán cơ học. Một số công trình khoa học đã sử dụng mạng ANN để  
thay thế qua trình giải lặp phi tuyến trong bài toán đồng nhất mô hình đa tỉ lệ [13, 14]. Nhiều công  
trình đã sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo để dự đoán hệ số dẫn nhiệt của vật liệu. Papari et al. [15] sử  
dụng mạng nơ ron để dự đoán hệ số dẫn nhiệt của các chất lỏng nano. Hojjat et al. [16] đã sử dụng  
một mạng neuron để dự đoán hệ số dẫn nhiệt dựa vào tỉ lệ thể tích, nhiệt độ và hệ số dẫn nhiệt của  
các cốt liệu γ-Al2O3, TiO2, CuO trong môi trường carboxymethy celluose. Các nghiên cứu tương tự  
đã áp dụng thành công mạng ANN có thể kể đến [17–19].  
Ứng dụng ANN cho bài toán tìm cốt liệu tương đương đã được đề xuất và ứng dụng cho bài toán  
đàn hồi trong [20]. Bài báo này trình bày kết quả ứng dụng đề xuất đó cho bài toán tìm hệ số dẫn cho  
các loại cốt liệu mới. Trong phần, mục 2 giới thiệu và thảo luận một số công thức giải tích và cách  
tính cốt liệu tương đương đã được công bố. Tiếp đó, mục 3 tóm tắt một số khái niệm về mạng trí tuệ  
nhân tạo và các bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tìm cốt liệu tương đương. Quá trình huấn luyện  
cũng như kết quả ứng dụng cho các loại cốt liệu phức tạp được trình bày trong mục 4. Cuối cùng là  
kết luận của bài báo  
2. Một số công thức xấp xỉ và cách tìm cốt liệu tương đương  
Xét một vật thể trong không gian d chiều (d = 2, 3) được cấu tạo bởi n thành phần vật liệu với  
tỉ lệ thể tích να và hệ số dẫn kα (α = 1, .. . , n). Thành phần thứ nhất là thành phần pha nền k1 = kM  
và v1 = vM, n − 1 thành phần còn lại là các cốt liệu riêng rẽ, được bao quanh bởi thành phần vật liệu  
pha nền.  
Công thức xấp xỉ phân cực cho hệ số dẫn hiệu quả keff được viết [10]:  
keff = P(n)((d − 1)kM)  
(1)  
vc  
(n)  
vc  
trong đó P là của xấp xỉ phân cực cho vật liệu có n thành phần cốt liệu chiếm thể tích ν tính hệ số  
dẫn. Áp dụng cho một vật liệu có hệ số dẫn của pha nền là ko bất kì, P(n) có dạng:  
vc  
−1  
n
X
vα  
(n)  
vc  
P ((d − 1)ko) =  
− (d − 1)ko  
(2)  
(3)  
kα + (d − 1)ko  
α=1  
Hệ số dẫn tính theo (1), (2) nằm trong khoảng dự đoán của Hashin-Strickman [1]:  
P(n)((d − 1)kmax) ≥ ke f f ≥ P(n)((d − 1)kmin  
)
vc  
vc  
113  
   
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
trong đó kmax = max {k1, ..., kn} ; kmin = min {k1, ..., kn}.  
Ta cũng có thể dùng xấp xỉ sai phân để dự đoán hệ số dẫn hiệu quả bằng công thức sau:  
n
X
dk  
dt  
k
d(kα − k)  
=
vα  
(4)  
kα + (d − 1)keff  
1 − vIt  
α=2  
n
X
trong đó hệ số dẫn tại thời điểm t = 0: k(0) = k1 = kM, 0 ≤ t ≤ 1, vI =  
vα.  
α=2  
Trường hợp cốt liệu chỉ có 2 thành phần, ta cũng có thể dùng công thức sau [7]:  
keff = P(2)((d − 1)k)  
(5)  
(6)  
(7)  
vc  
trong đó k là nghiệm của công thức tự nhất quán:  
(2)  
k = P ((d − 1)k)  
ξc  
hay  
−1  
2
X
ξα  
k =  
− (d − 1)k  
kα + (d − 1)k  
α=1  
hay  
−1  
2
X
ξα  
− dk = 0,  
(8)  
kα + (d − 1)k  
α=1  
trong đó ξ1, ξ2 ≥ 0, ξ1 + ξ2 = 1. ξα là các tham số tương quan đặc trưng cho vi cấu trúc của vật liệu.  
Các tham số này đã được tính toán cho một số loại cấu trúc trong [8].  
Nhìn chung, các công thức (2)–(8) cũng như nhiều công thức giải tích khác, chỉ cho kết quả chính  
xác khi tỉ lệ thể tích của các pha cốt liệu tương đối bé và có hình cầu hoặc hình tròn lý tưởng. Khi tỉ lệ  
thành phần các cốt liệu lớn, các công thức này thường được dùng để tính sơ bộ. Muốn áp dụng được  
cho vật liệu thành phần cốt liệu phức tạp hơn, ví dụ hình ellip, các tác giả [16] đã đề xuất tính quy đổi  
cốt liệu từ hình ellip sang hình tròn bằng cách đồng dạng hóa công thức tính hệ số dẫn hiệu quả cho  
hình tròn và hình ellip.  
Công thức tính hệ số dẫn của một vật liệu được cấu tạo bởi các pha cốt liệu có hình dạng bất kì  
được viết dưới dạng:  
keff = kM + vα (kα + kM) D(kα, kM)  
(9)  
trong đó D(kα, kM) là hàm của thuộc tính chất pha cốt liệu và pha nền, có công thức thay đổi theo hình  
dạng cốt liệu.  
Trong khi đó, công thức hệ số dẫn hiệu quả cho vật liệu có cốt liệu hình cầu hoặc hình tròn lý  
tưởng có hệ số dẫn kα được viết như sau:  
ꢀ
ꢁ
dkM  
keff = kM + vα kα − kM  
(10)  
kα + (d − 1)kM  
Lưu ý rằng, các công thức (8)–(10) được áp dụng cho trường hợp vα << 1. Cân bằng (8) và (10),  
[16] đã đưa ra tính chất của cốt liệu hình cầu có cùng thể tích tương đương:  
dk2M + (d − 1)kMD(kα, kM)  
kα =  
(11)  
dkM − (kα − kM)D(kα, kM)  
114  
       
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
Trong trường hợp cốt liệu cần quy đổi có hình ellip, với tỉ số các bán kính rα = aα/bα, hàm  
D(kα, kM) trong (9) và (11) được viết tường minh như sau:  
kM(kα + kM)(1 + rα)2  
2(kα + rαkM)(rαkα + kM)  
D(kα, kM) =  
(12)  
Có thể thấy rằng, với trường hợp cốt liệu ellip, việc cân bằng hai công thức (8) và (9) cho một kết  
quả rõ ràng, tường minh. Thực tế có nhiều loại cốt liệu không có sẵn một công thức tính D(kα, kM)  
như trường hợp này, vì thế không dễ dàng đưa ra được công thức tính cho hệ số dẫn của cốt liệu hình  
cầu hoặc hình tròn có cùng thể tích. Phần tiếp theo sẽ dùng phương pháp được đề nghị trong [20] để  
giải quyết bài toán.  
3. Tính toán tính chất của cốt liệu tương đương sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo ANN  
3.1. Mạng trí tuệ nhân tạo  
Trong mục này, một số khái niệm cơ bản về  
mạng trí tuệ nhân tạo sẽ được trình bày. Hình 1  
mô tả một neuron đơn vị, trong đó p là đầu vào, w  
là các trọng số, b là tham số điều chỉnh, f là hàm  
chuyển hay còn gọi là hàm kích hoạt và a là đầu ra  
của neuron.  
Khi có nhiều trường dữ liệu đầu vào, ta có  
Hình 1. Một nơ-ron đơn vị [17]  
thể viết:  
m
X
k
a = f  
w p + b  
(13)  
k  
k
i=1  
trong đó các kí hiệu in đậm biểu thị đại lượng là một véc tơ, m là số lớp của mạng, k biểu thị lớp thứ  
k trong mạng. Thông thường, một mạng ANN với một lớp ẩn có thể mô tả được một hàm số học bất  
kì. Hình 2 mô tả một mạng neuron nhiều lớp, trong đó các lớp ở giữa (không phải lớp đầu vào và đầu  
ra) được gọi là các lớp ẩn. Các lớp ẩn có thể có các hàm chuyển khác nhau.  
Hình 2. Mạng nơ-ron nhiều lớp (MPL) [17]: f1, f2, f3 là các hàm chuyển của lớp 1,2,3 được chọn trước khi huấn  
luyện. Quá trình huấn luyện sẽ tìm ra các trọng số w và b sao cho hàm mất mát đạt cực tiểu  
Trong tính toán vật liệu, ANN thường được ứng dụng làm mô hình thay thế. Để tìm mô hình này,  
ta chọn trước kiến trúc mạng và thực hiện huấn luyện. Mục đích của quá trình huấn luyện là tìm w, b  
sao cho sai số giữa tập kết quả tính toán dùng mạng ANN và tập kết quả huấn luyện là nhỏ nhất, thể  
hiện qua hàm mất mát. Tùy thuộc loại bài toán, các hàm mất mát được định nghĩa khác nhau. Trong  
các bài toán thoái hóa, hàm sai số bình phương MSE (mean squared error) được dùng phổ biến và  
hiệu quả.  
115  
   
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
3.2. Hệ số dẫn tương đương sử dụng ANN  
Để tìm hệ số dẫn tương đương, bài báo này sử dụng 2 mạng trí tuệ nhân tạo Net 1 và Net 2 theo  
phương pháp đã được đề xuất trong [20] cho bài toán tìm hệ số đàn hồi. Net 1 dùng để tính toán hệ  
số dẫn hiệu quả của cho phần tử đại diện có hình dáng cốt liệu phức tạp, Net 2 dùng để tìm hệ số dẫn  
của cốt liệu hình tròn có cùng diện tích. Ở đây, phương pháp được áp dụng cho hệ số dẫn với một số  
hình dáng cốt liệu mới. Hình dáng cốt liệu được mô tả dựa vào một hàm level-set:  
 
!
2q  
ꢂ
ꢃ
2q − 1  
(14)  
x − xc  
y − yc  
φ =  
+
r
r
trong đóxc, yc là tọa độ tâm của cốt liệu; r = r0 + A cos (Bθ) là bán kính cốt liệu, góc θ dùng để quy  
đổi về hệ tọa độ cầu, x = xc + r cos (θ), y = yc + r sin (θ). Hình dạng cốt liệu thay đổi khi A, B, q, r0  
thay đổi. Tại biên của cốt liệu φ bằng 0, giá trị của hàm φ nhỏ hơn 0 tại điểm bên trong cốt liệu và lớn  
hơn 0 nếu ở bên ngoài cốt liệu.  
Trong bài toán tìm nhân tương đương để tính toán hệ số dẫn nhiệt hiệu quả, các thông số đầu vào  
của Net 1 bao gồm hệ số dẫn của pha nền kM và các pha cốt liệu kα với thể tích cốt liệu να chọn trước,  
thông số đầu ra cuả Net 1 là hệ số dẫn hiệu quả keff. Thông số đầu vào của Net 2 gồm kM và keff, dữ  
liệu đầu ra là hệ số dẫn của cốt liệu tròn tương đương kequ. Lưu ý rằng cốt liệu tương đương ở đây  
được chọn có cùng thể tích với cốt liệu ban đầu.  
Trình tự xây dựng các mô hình thay thế và cách tính toán cốt liệu tương đương được mô tả như  
sau:  
- Bước 1: Xác định tập dữ liệu đầu ứng với tính chất vật liệu của của pha nền và các cốt liệu cho  
Net 1. Trong bài toán hệ số dẫn nhiệt, với một thể tích cốt liệu chọn trước, khoảng dữ liệu có thể được  
viết gồm [kmM in, kmin] : [kmM ax, kmax]. Các bộ dữ liệu được chọn ngẫu nhiên trong khoảng sử dụng một  
loại phân bố nàoαđó, ví dụ nhưαphân bố chuẩn, phân bố halton set . . . Chú ý rằng mô hình chỉ áp dụng  
được nếu dữ liệu nằm trong khoảng trên.  
- Bước 2: Sử dụng mô hình số (FEM, XFEM) để tạo dữ liệu tương ứng keff. Đây chính là dữ liệu  
đầu ra của Net 1.  
- Bước 3: Chọn kiến trúc mạng ANN gồm số lớp ẩn, số nút tương ứng, hàm kích hoạt, hàm mất  
mát, giải thuật huấn luyện và các thông số tương ứng như tỉ lệ học, mse kì vọng. . . và xác định mô  
hình thay thế.  
- Bước 4: Xây dựng dữ liệu cho Net 2. Dữ liệu của Net 2 được xây dựng dựa trên dữ liệu của Net  
1. Thông số vật liệu của các cốt liệu tròn chính là dữ liệu đầu ra của dữ liệu của Net 2. Ước lượng của  
thông số này cần đủ rộng để tạo ra được khoảng dữ giống với dữ liệu đầu ra (tính chất hiệu quả) của  
Net 1. Tính chất hiệu quả và tính chất pha nền là dữ liệu đầu vào của Net 2.  
- Bước 5: Tương tự bước 3, ta đi tìm được mô hình (Net 2) tốt nhất có thể bằng cách thay đổi kiến  
trúc mạng và các thông số huấn luyện.  
- Bước 6: Tính toán thông số vật liệu tương đương bằng cách sử dụng các mô hình Net 1 và Net 2  
huấn luyện được. Dữ liệu ban đầu được đưa vào Net 1 để tìm tính chất hiệu quả, sau đó kết quả này  
cùng với tính chất của pha nền trở thành dữ liệu đầu vào của Net 2 để tìm ra tính chất của cốt liệu  
tương đương.  
Trình tự thực hiện các bước sẽ được minh họa đầy đủ thông qua các ví dụ ở mục 4.  
4. Ví dụ áp dụng  
Trong mục này, các bước tính toán trong 3.2 sẽ được áp dụng cho một số loại cốt liệu. Trình tự  
các bước xây dựng dữ liệu và thông số huấn luyện, kết quả tính toán sẽ được trình bày cụ thể. Kết quả  
116  
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
số khi sử dụng cốt liệu tương đương sẽ được so sánh với kết quả ban đầu.  
4.1. Cốt liệu I1  
Để tạo dữ liệu huấn luyện cho mẫu I1 (Hình 3),  
bài báo này lựa chọn r0 = 0,05 mm ứng với tỉ lệ thể  
tích cốt liệu ν = 1,03%. Hệ số dẫn của cốt liệu ở  
đây được giả thiết luôn lớn hơn hệ số dẫn của pha  
nền. Trong tính toán số tạo bộ dữ liệu, các mẫu sử  
dụng khoảng 45000 phần tử tam giác bậc 1, kích  
thước phần tử tương ứng (hsize ≈ 0,0067 mm).  
Tuy Net 1 chỉ dùng 2 trường dữ liệu đầu vào,  
nhưng không có sẵn công thức giải tích dành riêng  
cho vật liệu có hình dáng cốt liệu này. Sử dụng mô  
hình tương đương tìm hệ số hiệu quả sẽ không cần  
đến các phần mềm sử dụng phương pháp số. Đầu  
ra của Net 1 là hệ số dẫn hiệu quả cùng với hệ số  
dẫn của pha nền sẽ là dữ liệu đầu vào cho Net 2 để  
Hình 3. Mẫu vật liệu với cốt liệu có hình dáng  
phức tạp. Hình dáng cốt liệu được mô tả sử dụng  
hàm level set với q = 2, r0 = 0.05, A = 0.4 ×  
r0, B = 4  
tính toán tính chất của cốt liệu tương đương. Dữ liệu đầu vào của Net 1 nằm trong khoảng [0,0039  
0,0544] : [2,9847 101,7675], trong khi của Net 2 nằm trong khoảng [0,0039 0,0040] : [2,9847  
3,0434].  
Mạng được huấn luyện sử dụng Neural Network toolbox của Matlab, giải thuật Levenberg-Marquardt,  
hàm kích hoạt dùng tag-sigmoid, tỉ lệ học 10−5, hàm mục tiêu là sai số toàn phương trung bình (mean  
squared error- mse). Kích thước bộ dữ liệu là 500, trong đó kích thước tập huấn luyện chiếm 70%, tập  
kiểm tra chiếm 15%, tập kiểm định 15%. Quá trình huấn luyện đã sử dụng nhiều cầu trúc mạng khác  
nhau và kết quả huấn luyện cho thấy: trong khi Net 1 có thể nhanh chóng đạt được sai số rất bé như  
trên Hình 4(a) (mse của tập huấn luyện và tập kiểm định tương ứng là 9,997 E-7, của tập kiểm định là  
1,004 E-6), Net 2 cần thời gian huấn luyện lâu hơn và không dễ đạt được sai số nhỏ như Net 1. Trên  
mse của tập kiểm định đạt 1.0339e-06 tại epoch 370  
mse của tập kiểm định đạt 0.01242 tại epoch 4697  
Huấn luyện  
Kiểm đinh  
Kiểm tra  
Tốt nhất  
Mục tiêu  
Huấn luyện  
Kiểm đinh  
Kiểm tra  
Tốt nhất  
Mục tiêu  
mse  
Mse  
4797 epochs  
370 epochs  
(a) Net 1 (I1)  
(b) Net 2 (I1)  
Hình 4. Biểu đồ hiệu năng (mse) của quá trình huấn luyện Net 1 (I1) và Net 2 (I1)  
117  
   
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
Hình 4(b), mse của tập huấn luyện là 0,0113, của tập kiểm định là 0,0124. Net 1 chỉ cần 1 lớp ẩn với  
2 nút trong khi Net 2 cần đến 2 lớp ẩn với 3 nút để có thể đạt được sai số tương đối bé.  
Sử dụng Net 1 và Net 2 nói trên với mẫu có cốt liệu I1, có các hệ số của pha nền và cốt liệu tương  
ứng là kM = 2 N/mm2, kI = 55 N/mm2, ta tính được hệ số dẫn của cốt liệu tương đương cùng diện  
tích kequ = 500,74 N/mm2. Các thông số trên được sử dụng để tính sử dụng để tính hệ số dẫn hiệu quả  
của các mẫu chứa các cốt liệu I1 và cốt liệu hình tròn tương đương cùng vị trí như trong 2 trường hợp:  
- TH1 – I1: Tỉ lệ thể tích cốt liệu tăng bằng cách tăng số lượng như Hình 5. Số cốt liệu trong mẫu  
tăng dần từ 10 đến 45 , vị trí và góc quay của các cốt liệu được lấy một cách ngẫu nhiên.  
- TH2 – I1: Tỉ lệ thể tích cốt liệu tăng bằng cách tăng bán kính, vị trí và số lượng của các cốt liệu  
được giữ nguyên. Các mẫu trên Hình 6 gồm 20 cốt liệu, bán kính tăng dần đều r0 = 0,03 mm đến r0  
= 0,07 mm.  
(a) 10 cốt liệu  
(b) 20 cốt liệu  
(c) 40 cốt liệu  
(d) 45 cốt liệu  
Hình 5. TH1: Các mẫu có kích thước 1×1 mm2 với các cốt liệu bố trí tại các vị trí và góc xoay ngẫu nhiên  
(hàng trên: các mẫu các cốt liệu I1; hàng dưới: các cốt liệu hình tròn cùng vị trí tương ứng)  
(a) r0 = 0,04 mm  
(b) r0 = 0,05 mm  
(c) r0 = 0,06 mm  
(d) r0 = 0,07 mm  
Hình 6. TH2: Các mẫu có kích thước 1×1 mm2 với 20 cốt liệu I1 bố trí tại các vị trí và góc xoay ngẫu nhiên,  
bán kính tăng dần từ r0 = 0,04 mm đến r0 = 0,07 mm  
118  
   
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
Hình 7(a)–7(b) so sánh hệ số dẫn hiệu quả tính bằng phương pháp số (XFEM) của các mẫu cốt  
liệu I1 (đường Ref) và cốt liệu hình tròn tương đương (đường Equ) tương ứng với TH1 và TH2. Ta  
thấy rằng, trên cả hai hình, đường Equ và đường bám sát nhau khi tỉ lệ thể tích cốt liệu (v) nhỏ. Khi v  
tăng, khoảng cách giữa 2 đường tăng lên khi tỉ kể thể tích tăng.  
6
5
4
6
5
4
3
2
1
0
Ref  
Equ  
Ref  
Equ  
keff  
keff  
3
2
1
0
0.  
0.1  
0.  
(b) TH2 (I2)  
0.  
0.3  
0.  
0v.2  
0.05  
0.1  
0.15  
0.2  
0.25  
0.3  
vꢁ  
(a) TH1 (I1)  
Hình 7. So sánh kết hệ số dẫn hiệu quả tính bằng XFEM của cốt liệu I1 (Ref) và cốt liệu tròn tương đương  
(Equ) khi tăng tỉ lệ thể tích của các hạt cốt liệu trong hai trường hợp TH1 và TH2  
4.2. Cốt liệu I2  
Tiếp tục dùng một mẫu với bán kính r = 0,05  
để tạo dữ liệu huấn luyện cho mẫu I2 (Hình 8), ứng  
với tỉ lệ thể tích cốt liệu v = 0,96%. Kích thước bộ  
dữ liệu là 500, trong đó kích thước tập huấn luyện  
chiếm 70%, tập kiểm tra chiếm 15%, tập kiểm  
định 15%. Dữ liệu đầu vào của Net 1 nằm trong  
khoảng [0,0039 0,0544] : [2,9847 101,7675],  
trong khi của Net 2 nằm trong khoảng [0,0039  
0,0040] : [2,9847 3,0434]. Kết quả huấn luyện  
trên Hình 9 cho thấy, trong khi Net 1 có thể nhanh  
chóng đạt được sai số rất bé như trên Hình 1(a)  
(mse của tập huấn luyện và tập kiểm định tương  
ứng là 9,995 E-7, của tập kiểm định là 1,18 E-6),  
Hình 8. Mẫu vật liệu với cốt liệu có hình dáng  
phức tạp. Hình dáng cốt liệu được mô tả sử dụng  
hàm level set với q = 20, r0 = 0,05, A = 0,3 ∗  
r0, B = 2  
Net 2 cần thời gian huấn luyện lâu hơn và không  
dễ đạt được sai số nhỏ như Net 1. Trên Hình 1(b), mse của tập huấn luyện là 0,0104, của tập kiểm  
định là 0,0112). Net 1 chỉ cần 1 lớp ẩn với 2 nút trong khi Net 2 cần đến 2 lớp ẩn × 3 nút mới có thể  
đạt được sai số tương đối bé.  
Sử dụng mô hình đề xuất Net 1 (I2) và Net 2 (I2) để tính hệ số dẫn tương đương ta có 2 bộ số liệu  
và áp dụng cho 2 trường hợp:  
a) TH1- I2: kM = 1,5 N/mm2, kI = 15 N/mm2, kequ = 25,71 N/mm2. Bộ số liệu được kiểm thử với  
các 8 mẫu có kích thước 1×1 mm, chứa các cốt liệu có bán kính r0 = 0.04 mm. Số lượng cốt liệu tăng  
dần đều từ 15 đến 45. Vị trí và góc xoay của các cốt liệu được lấy ngẫu nhiên như trên Hình 11.  
119  
   
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
mse của tập kiểm định đạt 1.1864 tại epoch 255  
Mse của tập kiểm định đạt 0.012376 tại epoch  
Huấn luyện  
Kiểm đinh  
Kiểm tra  
Tốt nhất  
Huấn luyện  
Kiểm đinh  
Kiểm tra  
Tốt nhất  
Mục tiêu  
Mục tiêu  
mse  
mse  
2919 epochs  
255 epochs  
(a) Net 1 (I2)  
(b) Net 2 (I2)  
Hình 9. Biểu đồ hiệu năng (MSE) của quá trình huấn luyện Net 1 (I2) và Net 2 (I2)  
b) TH2 - I2: kM = 1 N/mm2, kI = 20 N/mm2, kequ = 136,70 N/mm2. Bộ số liệu được kiểm thử với  
mẫu có 20 cốt liệu cùng vị trí. Bán kính của cốt liệu thay đổi với r0−min = 0,03 mm, r0−max = 0,07 mm.  
Tương tự như trường hợp cốt liệu I1, các kết quả số của mẫu sử dụng cốt liệu I2 và mẫu có cốt  
liệu tròn tương đương được so sánh trên Hình 12 và Hình 13 cho thấy sự tương đương giữa hệ số hiệu  
quả của hai loại cốt liệu khi thể tích cốt liệu bé. Sai số có xu hướng tăng dần khi thể tích cốt liệu tăng.  
Cụ thể trên Hình 13, khi thể tích cốt liệu chiếm đến 40%, sai số có thể lên đến 10%. Một nguyên nhân  
khác có thể làm tăng sai số cho trường hợp này là do mô hình thay thế không cho độ chính xác như  
nhau đối với các bộ dữ liệu khác nhau.  
(a) 15 cốt liệu  
(b) 25 cốt liệu  
(c) 35 cốt liệu  
(d) 45 cốt liệu  
Hình 10. Các mẫu có kích thước 1×1 mm2 với các cốt liệu hình I2 bố trí tại các vị trí và góc xoay ngẫu nhiên  
(a) r0 = 0,03 mm  
(b) r0 = 0,05 mm  
(c) r0 = 0,06 mm  
(d) r0 = 0,07 mm  
Hình 11. Các mẫu có kích thước 1×1 mm2 với 20 cốt liệu I1 bố trí tại các vị trí và góc xoay ngẫu nhiên với các  
mẫu r0 = 0,04 mm đến r0 = 0,07 mm  
120  
 
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
4
4
Ref  
Equ  
3.5  
3
3.5  
3
Ref  
Equ  
keff  
2.5  
2
2.5  
2
keff  
1.5  
1
1.5  
1
0.5  
0
0.5  
0
0.05  
0.1  
0.15  
0.2  
0.25  
0.3  
0.05  
0.1  
0.15  
0.2  
0.25  
0.3  
0.35  
0.4  
0.45  
v
ꢀ
vꢀ  
Hình 12. So sánh kết hệ số dẫn hiệu quả tính bằng  
XFEM của cốt liệu I2 (Ref) và cốt liệu hình tròn  
tương đương (Equ). Tỉ lệ thể tích cốt liệu tăng dần  
bằng cách tăng số lượng cốt liệu (TH1-I2)  
Hình 13. So sánh kết hệ số dẫn hiệu quả tính bằng  
XFEM của cốt liệu I2 (Ref) và cốt liệu hình tròn  
tương đương (Equ). Tỉ lệ thể tích cốt liệu tăng dần  
bằng cách tăng bán kính cốt liệu (TH2-I2)  
5. Kết luận  
Bài báo này đã trình bày ứng dụng mạng trí tuệ nhân tạo ANN để tính toán hệ số dẫn cho cốt liệu  
hình tròn tương đương, áp dụng cho một số loại cốt liệu phức tạp. Kết quả bài báo cho thấy, so với  
việc tính toán hệ số cốt liệu tương đương dựa vào công thức xấp xỉ giải tích chỉ áp dụng được khi các  
công thức giải tích là có sẵn, sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo, đa dạng các loại cốt liệu có thể tìm thấy  
cốt liệu tương đương hình tròn. Sử dụng mô hình thay thế ứng dụng mạng trí tuệ nhân tạo để tính cốt  
liệu hình tròn tương đương cho kết quả khả quan nhất là khi tỉ lệ thể tích cốt liệu bé. Tuy nhiên, việc  
sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo cũng có hạn chế nhất định về việc phạm vi ứng dụng bởi mô hình thay  
thế cho kết quả không chính xác nếu chúng ta sử dụng ANN để ngoại suy. Bên cạnh đó, hiệu năng  
huấn luyện của Net 2 trong bài không cao như Net 1. Điều này ảnh hưởng đến kết quả của bài toán.  
Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thêm để nâng cao hiệu quả của phương pháp.  
Lời cảm ơn  
Tác giả chân thành cảm ơn sự hỗ trợ tài chính của Trường Đại học Xây dựng cho đề tài: “Tính  
toán các thông số vật liệu tương đương của pha cốt liệu trong vật liệu không đồng nhất bằng cách tiếp  
cận hướng dữ liệu”, mã số: 36-2020/KHXD.  
Tài liệu tham khảo  
ability of multiphase materials. Journal of Applied Physics, 33(10):3125–3131.  
materials. Journal of Mathematical Physics, 10(11):1988–2004.  
[3] Phan-Thien, N., Milton, G. W. (1982). New bounds on the effective thermal conductivity of N-phase  
materials. Proceedings of the Royal Society of London. A. Mathematical and Physical Sciences, 380  
(1779):333–348.  
Zeitschrift fu¨r angewandte Mathematik und Physik ZAMP, 42(4):614–622.  
121  
   
Như, N. T. H. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng  
rials and random cell polycrystals. Journal of the Mechanics and Physics of Solids, 59(3):497–510.  
[6] Tran, A. B., Vu, M. N., Nguyen, S. T., Dong, T. Q., Le-Nguyen, K. (2018). Analytical and numeri-  
Geophysics, 149:35–41.  
ductivity of isotropic multiphase composites. Journal of Applied Physics, 94(10):6591–6602.  
[8] Torquato, S. Random Heterogeneous Media. Springer, New York.  
[9] Do, Q. H., Tran, A. B., Pham, D. C. (2016). Equivalent inclusion approach and effective medium approx-  
387–398.  
[10] Tran, A. B., Vu, M. N., Nguyen, S. T., Dong, T. Q., Le-Nguyen, K. (2018). Analytical and numeri-  
Geophysics, 149:35–41.  
[11] Ghaboussi, J., Garrett Jr, J. H., Wu, X. (1991). Knowledge-based modeling of material behavior with  
neural networks. Journal of Engineering Mechanics, 117(1):132–153.  
[12] Kirchdoerfer, T., Ortiz, M. (2016). Data-driven computational mechanics. Computer Methods in Applied  
Mechanics and Engineering, 304:81–101.  
[13] Le, B. A., Yvonnet, J., He, Q.-C. (2015). Computational homogenization of nonlinear elastic materials  
using neural networks. International Journal for Numerical Methods in Engineering, 104(12):1061–1084.  
[14] Lu, X., Giovanis, D. G., Yvonnet, J., Papadopoulos, V., Detrez, F., Bai, J. (2019). A data-driven computa-  
of graphene/polymer nanocomposites. Computational Mechanics, 64(2):307–321.  
[15] Papari, M. M., Yousefi, F., Moghadasi, J., Karimi, H., Campo, A. (2011). Modeling thermal conductivity  
augmentation of nanofluids using diffusion neural networks. International Journal of Thermal Sciences,  
50(1):44–52.  
[16] Hojjat, M., Etemad, S. G., Bagheri, R., Thibault, J. (2011). Thermal conductivity of non-Newtonian  
Mass Transfer, 54(5-6):1017–1023.  
[17] Longo, G. A., Zilio, C., Ceseracciu, E., Reggiani, M. (2012). Application of artificial neural network  
296.  
[18] Esfe, M. H., Saedodin, S., Bahiraei, M., Toghraie, D., Mahian, O., Wongwises, S. (2014). Thermal  
Journal of Thermal Analysis and Calorimetry, 118(1):287–294.  
[19] Esfe, M. H., Saedodin, S., Asadi, A., Karimipour, A. (2015). Thermal conductivity and viscosity of Mg  
(OH) 2-ethylene glycol nanofluids. Journal of Thermal Analysis and Calorimetry, 120(2):1145–1149.  
[20] Nhu, N. T. H., Binh, T. A., Hung, H. M. (2020). Equivalent-inclusion approach for estimating the effec-  
Journal of Science and Technology in Civil Engineering (STCE)-NUCE, 14(1):15–27.  
122  
                           
pdf 11 trang Thùy Anh 16900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mạng trí tuệ nhân tạo tìm cốt liệu tương đương cho bài toán tính hệ số dẫn hiệu quả của vật liệu không đồng nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mang_tri_tue_nhan_tao_tim_cot_lieu_tuong_duong_cho.pdf